Hôm nay,  

Cuộc Vận Động Ngoại Giao Cuối Cùng Trước Ngày 30-4-1975

29/04/202200:00:00(Xem: 6889)
 
Cuộc Di Tản ngày 30 tháng 4, 1975
Cuộc Di Tản ngày 30 tháng 4, 1975.
 
Trong chiến tranh vừa qua ở Việt Nam (1954-1975), quân đội cộng sản Bắc Việt Nam tấn công mạnh mẽ khắp nơi vào đầu năm 1975, tiến chiếm Vùng I Chiến thuật, rồi vùng II Chiến thuật của Việt Nam Cộng Hòa, và xua quân đe dọa thủ đô Sài Gòn.  (Điều nầy đã được viết nhiều, xin không trình bầy lại ở đây.)
 
Tình hình quân sự đang dồn dập ngoài mặt trận, thì một cuộc vận động ngoại giao quốc tế âm thầm diễn ra, nhằm tránh sự sụp đổ của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ở Nam Việt Nam.  Tích cực trong việc nầy là hai chính phủ Pháp và Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa..
 
Pháp là nước có nhiều liên hệ với Việt Nam trong quá khứ.  Điều nầy người Việt nào hầu như cũng đều biết, vì Pháp đã từng bảo hộ Việt Nam từ năm 1884 đến khi quân đội Nhật Bản đảo chánh Pháp ở Đông Dương ngày 9-3-1945.
 
Còn Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, chẳng xa lạ gì với người Việt, nhứt là người miền Bắc Việt Nam, vì nước Trung Hoa nằm sát biên giới Bắc Việt Nam và Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa có nhiều liên hệ với chế độ Bắc Việt Nam. 
 
Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa theo chủ nghĩa cộng sản, nên còn được gọi là Trung Cộng, đã tích cực viện trơ, gởi cố vấn giúp đảng Cộng Sản Đông Dương từ năm 1950 trong cuộc chiến 1946-1954, và trong cuộc chiến cộng sản Bắc Việt Nam xâm lăng Nam Việt Nam. (Đảng Cộng Sản Đông Dương đổi tên thành đảng Lao Động năm 1951.) (Từ đây xin gọi là Trung Cộng cho ngắn gọn, dễ viết.)
 
Xin chú ý là Trung Cộng, đã viện trợ cho BVN để tấn công NVN, “chống Mỹ cứu nước”, không phải hoàn toàn vô vị lợi vì tình nghĩa cộng sản quốc tế với nhau, mà chính là vì hai lẽ:  1)  Trung Cộng lo ngại rằng quân đội Hoa Kỳ hiện diện ở Nam Việt Nam, có thể gây nguy hại đến an ninh biên giới phía nam của Trung Cộng. 2) Khi Lưu Thiếu Kỳ, chủ tịch Trung Cộng, gởi La Quý Ba qua làm cố vấn cho Hồ Chí Minh tháng 01-1950, Lưu Thiếu Kỳ dặn La Quý Ba hãy giúp đỡ tối đa cho nhu cầu của đảng Cộng Sản Việt Nam, rồi sẽ đòi lại trong tương lai. (Qiang Zhai, China and the Vietnam Wars, 1950-1975, The University of North Carolina Press, 2000, tr. 19.) 
 
Nhu thế, có nghĩa là không có việc Trung Cộng cho không, biếu không, mà Trung Cộng chỉ cho cộng sản Bắc Việt Nam vay mượn dài hạn, và còn có lãi, vì cộng sản Bắc Việt Nam trở thành tên lính tiền phương bảo vệ biên giới phía nam cho Trung Cộng.
 
Vào tháng 2-1972, tổng thống Hoa Kỳ là Richard Nixon thăm Bắc Kinh và ký thông cáo chung Thượng Hải với thủ tướng Trung Cộng là Châu Ân Lai ngày 28-2-1972, theo đó hai bên chấp nhận sống chung hòa bình giữa các nước không cùng chế độ chính trị, và Hoa Kỳ xác nhận chỉ có một nước Trung Hoa, còn hải đảo Đài Loan là một phần của Trung Hoa.  Điều nầy chẳng những làm cho Trung Cộng yên tâm, mà còn đánh thức con sư tử đang ngủ ở Đông Á đã từng được hoàng đế nước Pháp là Napoléon Bonaparte báo trước vào thế kỷ 19.
Sau hiệp định Paris ngày 27-1-1973, Hoa Kỳ đưa hết quân đội Hoa Kỳ về nước, thì Trung Cộng cũng rút quân đội Trung Cộng ra khỏi Bắc Việt Nam. Trong khi đó, vào đầu năm 1975, Liên Xô tăng viện cho Bắc Việt Nam gấp bốn (4) lần so với trước để tấn công Nam Việt Nam. (Henry Kissinger, Years of Renewal, New York: Simon & Schuster, 1999, tr. 481.) 
 
Trước tình hình nầy, Trung Cộng lại quan ngại rằng một khi Bắc Việt Nam chiếm được Nam Việt Nam, thì cộng sản Việt Nam sẽ rất mạnh, và trở thành vừa là đồng minh, vừa là vệ tinh của Liên Xô.  Khi đó cộng sản Việt Nam có thể sẽ theo phe Liên Xô, đe dọa biên giới phía nam của Trung Cộng. 
 
Vì vậy Trung Cộng không muốn Bắc Việt Nam chiếm được Nam Việt Nam, nên Trung Cộng tích cực tham gia vận động ngoại giao, nhằm chận đứng việc nầy, và giữ cho Việt Nam Cộng Hòa khỏi bị sụp đổ.  (George J. Veith, Drawn Swords in a Distant Land, New York: Encounter Books, 2021, tt.555-556.)
 
Trung Cộng thật ra đã đề phòng điều nầy từ trước, có thể ngay từ khi bắt đầu xảy ra xích mính giữa Liên Xô với Trung Cộng, nhứt là khi hai bên thực sự đánh nhau trên sông Ussouri (Ô Tô Lý), vùng biên giới phía bắc của Trung Cộng với Liên Xô vào năm 1969. Trung Cộng lo ngại cộng sản Việt Nam về hùa với Liên Xô, sẽ đe dọa vùng biên giới phía nam của Trung Cộng với Việt Nam.
 
Trong cuộc gặp gỡ với đại diện Hoa Kỳ là Alexander Haig năm 1972 tại Bắc Kinh, thủ tướng Trung Cộng là Châu Ân Lai đã dặn dò Haig rằng: “Đừng để thua ở Việt Nqm.”  Theo ngoại trưởng Alexander Haig, Trung Cộng quan ngại rằng Hoa Kỳ thất bại và rút lui khỏi Đông Nam Á, là điều nguy hiểm cho Trung Cộng. (George J. Veith, sđd., tr.. 557.)
 
Chẳng những thế, theo cựu phó tổng thống Việt Nam Cộng Hòa là Nguyễn Cao Kỳ, Trung Cộng còn cử đại diện tiếp xúc với ông Kỳ tại Sài Gòn vào cuối năm 1972, đề nghị ông Kỳ đảo chánh tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, rồi ông Kỳ tuyên bố Nam Việt Nam trung lập, không theo Hoa Kỳ và cũng không theo Liên Xô.  Nếu cựu phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ chịu làm như vậy, thì Trung Cộng sẽ ủng hộ ông Kỳ.  Trung Cộng chủ trương như thế vì Trung Cộng đang gặp rắc rối ở biên giới phía bắc với Liên Xô, nên Trung Cộng không muốn ở phía nam Trung Cộng, có một vệ tinh của Liên Xô chiếm đóng toàn bộ Việt Nam, sẽ trở nên quá mạnh và có thể đe dọa Trung Cộng. (George J. Veith, sđd. tr. 557.)
 
Sau trận Hoàng Sa ngày 19-1-1974, khi trả tù binh Việt Nam Cộng Hòa về nước qua đường Hồng Kông, Trung Cộng đề nghị với chính phủ Việt Nam Cộng Hòa mở một cuộc họp giữa hai bên, nhưng chính phủ Việt Nam Cộng Hòa không trả lời.  Một thời gian sau, vào mùa hè 1974, Trung Cộng nhờ người nói chuyện lần nữa với chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, nhưng người nầy lại trình bày với đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn lúc đó là Graham Martin, và đại sứ Martin im lặng luôn. (George J. Veith, sđd. tr. 557.).
 
Cựu đại tướng Dương Văn Minh lên làm tổng thống vào ngày 28-4-1975.  Trung Cộng và Pháp một lần nữa vận động với cựu đại tướng Minh hãy kêu gọi sự giúp đỡ của một “lực lượng quốc tế” để giải quyết cuộc tranh chấp, nhưng cựu đại tướng Minh từ chối, và nói rằng: “…Trong đời tôi, tôi đã phục vụ như kẻ tay sai của Pháp, rồi kẻ tay sai của Mỹ.  Đủ rồi, tôi không muốn làm tay sai lần nữa.” (Nguyên văn bằng Anh ngữ trong sách “… During my life I have already served as a lackey for the French and then as a lackey for the Americans.  That is enough, I do not want to be a lackey again.” .(George J. Veith, sđd. tr. 560.)
 
Câu chuyện lịch sử trên đây được tiến sĩ George J. Veith ghi lại theo tài liệu của thư khố, chứ không phải những người trong cuộc kể lại. 
 
Chúng tôi xin trình thuật để cùng nhau suy nghĩ nhân ngày 30-4 năm nay.  Xin luôn luôn ghi nhớ công ơn những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã anh dũng chiến đấu, hy sinh bảo vệ nền tự do dân chủ của Việt Nam Cộng Hòa ở Nam Việt Nam.
 
TRẦN GIA PHỤNG
(Texas, 26-4-2022) 
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Giữa thủ đô Washington, D.C., nơi mỗi ngày, dòng sông Potomac lặng lẽ soi bóng những lý tưởng cao đẹp của nước Mỹ, Trung tâm Biểu diễn Nghệ thuật John F. Kennedy (Kennedy Center) sừng sững như một biểu tượng của sự hợp nhất văn hóa và tự do nghệ thuật. Thế nhưng, vào Tháng Mười Hai năm 2025, di sản ấy đã đột ngột bị bẻ lái. Hội đồng quản trị của Kennedy Center do Donald Trump bổ nhiệm đã bỏ phiếu đổi tên thành "Trung tâm Tưởng Niệm Nghệ Thuật Biểu Diễn Donald J. Trump và John F. Kennedy.”
Tôi nghe tin ấy vào buổi sáng. Tin chưa kịp thành chữ trong đầu thì cơ thể đã vội phản ứng: tay lạnh ngắt, chân bủn rủn, tim đập dồn dập, như thể một bóng ma ký ức chôn sâu trong cơ bắp chợt bật nắp hòm ngồi dậy. Tôi phải ngồi yên hít thở thật sâu. Không nghĩ, không phân tích, nhưng rồi nhận ra trong cơn choáng váng, một phản xạ ký ức quen thuộc, rất cũ, tưởng đã bỏ lại ở một kiếp khác, trồi lên.
Các cuộc biểu tình chống chế độ thần quyền tại Iran vẫn còn đang tiếp diễn. Điểm đáng chú ý trong làn sóng biểu tình lần này là việc nhiều người dân công khai kêu gọi Reza Pahlavi — con trai của Quốc vương Shah bị lật đổ năm 1979, hiện sống lưu vong tại Hoa Kỳ — trở về Iran để nắm giữ vai trò lãnh đạo. Reza Pahlavi bất ngờ trở thành một gương mặt nổi bật trên chính trường đầy biến động khi ông tự xác định mình là đại diện của phe đối lập Iran ở hải ngoại.
Ngay khi trở lại Tòa Bạch Ốc, Tổng thống Donald Trump đặt thuế quan làm trung tâm trục chính kinh tế – chính trị. Ông hứa hẹn việc tăng thuế nhập khẩu sẽ đưa kỹ nghệ Mỹ hồi hương, khôi phục việc làm cho tầng lớp công nhân, buộc dân chúng ưu tiên hàng nội địa, và nhờ đó nước Mỹ sẽ lấy lại địa vị siêu cường trên cả hai mặt trận kinh tế lẫn ngoại giao. Trong các cuộc vận động quần chúng, ông thẳng thừng tuyên bố: “Thuế quan là phát minh vĩ đại nhất lịch sử loài người.” Giới chuyên gia kinh tế, trái lại, gần như nhất loạt phản đối. Các nhà kinh tế uy tín, từ phái tự do mậu dịch đến phái chủ trương điều tiết, đều chỉ rõ rằng thuế quan đẩy giá hàng nhập khẩu lên cao, kéo theo lạm phát gia tăng; làm giảm giá tr đồng lương thực tế của người lao động; tăng chi phí nguyên liệu đầu vào cho xưởng sản xuất; khiến phần lớn nền công nghiệp Hoa Kỳ rơi vào thế bất lợi trên trường quốc tế. Họ còn cảnh báo thị trường chứng khoán sẽ lao dốc, kinh tế toàn cầu có nguy cơ rơi vào vòng xoáy suy thoái mới
Hiện nay tại Iran, các cuộc biểu tình chống chính quyền đang lan rộng trên toàn quốc. Chế độ Mullah đã phản ứng hết sức cứng rắn bằng việc bắt giữ hàng loạt người biểu tình và phong tỏa gần như toàn bộ các kênh liên lạc Internet. Trước áp lực chính trị ngày càng gia tăng từ cộng đồng quốc tế, câu hỏi đặt ra là liệu giới lãnh đạo Iran còn đủ khả năng kiểm soát và duy trì sự ổn định của đất nước hay không.
Tác phẩm Metamorphosis, tạm dịch Biến Dạng của Franz Kafka mở đầu bằng một trong những câu văn gây ám ảnh nhất trong văn học thế giới: khi Gregor Samsa thức dậy và phát hiện mình đã biến thành một con côn trùng khổng lồ. Không có lời cảnh báo, không có lời giải thích, không có sự chuẩn bị kịch tính nào. Cú sốc đến ngay lập tức – và đó là thiên tài của Kafka. Ông không dẫn dắt người đọc bước nhẹ nhàng vào cơn ác mộng của Gregor Samsa. Ông ném độc giả của ông thẳng vào đó, buộc chúng ta phải đối mặt với sự phi lý của sự tồn tại mà không có sự an ủi của logic hay lý trí.
Sự thật là nạn nhân không “bám theo ICE suốt cả ngày” như Kristi Noem đã nói. Cô bị bắn khoảng 9 giờ 30 phút sáng, trên đường quay về sau khi chở con trai cô đến trường học cách đó vài ngã tư đường. Hôm nay, tờ New York Times và Washington Post đã có video và bài phân tích chi tiết những gì xảy ra thông qua tất cả video nhân chứng ở hiện trường. Hai tờ báo lớn chỉ ra mỗi phát súng của đặc vụ ICE bắn ra ở góc độ nào, có thật sự vì gặp nguy hiểm tính mạng hay không.
LTS: Biến cố Venezuela sau vụ bắt giữ Nicolás Maduro đang làm rúng động toàn vùng Nam Mỹ. Trong bối cảnh ấy, bà Delcy Rodríguez, 56 tuổi, vốn là phó tổng thống dưới thời Maduro, đã được Tòa án Tối cao và quân đội Venezuela đưa lên nắm quyền lâm thời. Bà cũng là một nhân vật từng được Washington ngỏ ý đối thoại trước đây. Sự kiện này đặt ra câu hỏi: Phải chăng đó là bước đầu của sự "chuyển quyền trong nội bộ," hay chỉ là hồi kế tiếp của cùng một vở tuồng?
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.