Hôm nay,  

Nhạc Lê Uyên Phương: Tình yêu hạnh phúc, đam mê, khổ đau

30/05/202500:00:00(Xem: 4538)
LE UYEN COPY COPY

Cặp tình nhân Lê Uyên & Phương trong một buổi nhạc của Asia.



Nhạc Lê Uyên Phương là một hiện tượng độc đáo của âm nhạc Việt Nam xuất hiện từ cuối thập niên 1960s. Lúc đó là thời của quê nhà chinh chiến. Nhạc của Phương là lời ca ngợi tình yêu, như một cách kêu gọi hòa bình. Lúc đó là thời của những nỗi lo lắng về sống và chết nơi quê nhà chỗ nào cũng đạn bom, nhưng Phương lại hát lên lời ca ngợi hạnh phúc đôi lứa giữa một khung trời "Chờ trăng lên, nghe sao thì thầm"... Tình yêu của Lê Uyên Phương giữa bối cảnh đó tự thân đã là một triết lý của hiện sinh, rằng cuộc sống này là một hạnh phúc có thực, xa lìa mọi ý thức hệ.

Do vậy, nhạc Lê Uyên Phương gắn liền với tuổi trẻ, và không trừu tượng. Trong khi chúng ta nghe trên đài phát thanh về lời kêu gọi như hãy "khỏe vì nước kiến thiết quốc gia" hay "lời sông núi bừng vang bốn phương trời" thì nhạc Lê Uyên Phương là cái đời thực của cặp tình nhân yêu nhau, như lời hẹn hò rằng hãy "Chờ trăng lên, nghe sao thì thầm" với lời mời gọi "Hãy ngồi xuống đây. Xa cơn buồn phiền. Dẫu biết chia phôi"...

Nhạc của Lê Uyên Phương là một hiện tượng độc đáo của âm nhạc Việt Nam, với phong cách lãng mạn và mang chiều sâu của những chất vấn rất mực triết lý hiện sinh. Cùng với giọng hát Lê Uyên, Phương đã tạo nên một không gian âm nhạc rất riêng—mãnh liệt, mê đắm, đôi khi u hoài—tựa như lời thì thầm giữa hai kẻ yêu nhau trong thời chiến. Âm nhạc của anh không chỉ phản ánh tâm tư cá nhân mà còn mở ra lối đi rất riêng cho dòng nhạc tình, ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều thế hệ nghệ sĩ sau này.

Nhạc sĩ Lê Uyên Phương sinh ngày 2/2/1941. Và ra đi ngày 29/6/1999, tức là ở tuổi 58, còn có thể gọi là hưởng dương. Không ngờ đời người một thiên tài như anh lại ngắn như thế. Lê Uyên Phương là một trong những nhạc sĩ lớn của dòng nhạc tại Sài Gòn, miền Nam Việt Nam trước 1975. Lê Uyên Phương tên thật là Lê Minh Lập, sinh tại Đà Lạt. Trong thời kỳ chiến tranh, giấy tờ bị thất lạc, trong hai lần làm lại giấy khai sinh, tên của anh bị nhân viên giấy tờ nhầm thành Lê Minh Lộc rồi Lê Văn Lộc. Từ đó anh giữ cái tên Lê Văn Lộc.

Cha của Lê Uyên Phương vốn họ Phan, nhưng vì cuộc cách mạng của Phan Bội Châu nên phải đổi thành họ Lê. Mẹ của Lê Uyên Phương là Công Tôn Nữ Phương Nhi, anh lấy chữ Phương trong tên của mẹ làm tên cho mình. Cùng với chữ Uyên, tên người bạn gái đầu tiên, anh ghép thành nghệ danh Lê Uyên Phương.

Lê Uyên Phương gặp Lâm Phúc Anh ở Đà Lạt, (hai người ở sát nhà nhau, số 18 và 22 Võ Tánh, TP.Đà Lạt), năm 1968 hai người thành hôn. Họ trở thành đôi tình nhân song ca nổi tiếng. Lê Uyên là nghệ danh do Lê Uyên Phương đặt cho. Anh tâm sự, lúc hai người từ Đà Lạt xuống Sài Gòn biểu diễn, có nhiều phóng viên hỏi, Lê Uyên Phương là ai? Lúc đó, anh buộc miệng chỉ cô gái (Lê Uyên) nói, đây là Lê Uyên. Còn tôi là Phương. Từ đó Lâm Phúc Anh chết luôn với nghệ danh Lê Uyên. Lúc hai người song ca được gọi Lê Uyên và Phương. Trước lúc gặp Lâm Phúc Anh, Lê Uyên Phương đã sáng tác ca khúc và ký với tên này.

Có thể nào nói chỉ một ý về nhạc Lê Uyên Phương? Có lẽ, có thể tóm gọn là: yêu nhau giữa vô thường. Bởi vì yêu nhau trong thời bốn phương biến động, nên cứ sợ rằng những khoảnh khắc của hạnh phúc, đam mê, khổ đau sẽ biến đi, sẽ nhạt phai....

Nhạc Lê Uyên Phương là tiếng nói của một thời tình yêu cháy bỏng giữa đam mê và khổ đau, một hơi thở gấp gáp của tuổi trẻ trong cõi vô thường. Chất nhạc của anh mang màu sắc đầy suy tư, với những giai điệu liêu trai, gợi cảm, đi sâu vào triết lý tình yêu và sự hữu hạn của đời người. Những bài hát như Dạ khúc cho tình nhân, Cho lần cuối, Vũng lầy của chúng ta đều mang nét riêng biệt với lối hòa âm đầy chất thơ, tự sự, như những lời tình tự giữa đôi lứa trong đêm sâu. Chính sự độc đáo này đã khiến nhạc Lê Uyên Phương trở thành dấu ấn khó phai.

Lê Uyên Phương khởi sự viết nhạc từ 1960 với “Buồn đến bao giờ” viết tại Pleiku. Những năm đầu thập kỷ 1970, từ Đà Lạt vào Sài Gòn, Lê Uyên và Phương đã đem một luồng gió mới đến với tân nhạc. Trong những năm khốc liệt nhất của cuộc Chiến tranh Việt Nam, Lê Uyên và Phương, với những ca khúc nồng nàn, khắc khoải đôi khi bàng bạc, triết lý đã được giới trẻ đón nhận nồng nhiệt. Lê Uyên Phương đã viết nhiều nhạc phẩm nổi tiếng như: Bài ca hạnh ngộ, Còn nắng trên đồi, Dạ khúc cho tình nhân, Lời gọi chân mây, Vũng lầy của chúng ta…

Năm 1979, hai vợ chồng Lê Uyên Phương rời khỏi Việt Nam và định cư tại nam California, Hoa Kỳ. Họ có hai con gái là Lê Uyên Uyên và Lê Uyên My. Khoảng thời gian từ 1984 – 1985 Lê Uyên bị tai nạn rất nặng (bị lạc đạn của hai băng đảng bắn nhau), sau đó, họ đã ngừng biểu diễn trên các sân khấu ở hải ngoại cho đến năm 1990 thì xuất hiện trở lại. Theo lời Lê Uyên, khoảng thời gian sau tai nạn đó, họ muốn lặng yên sắp xếp lại cuộc sống chứ không phải chia tay như nhiều lời đồn thổi. “Chúng tôi chưa bao giờ chia tay dù chỉ trong ý nghĩ. Bởi rất khó khăn chúng tôi mới đến được với nhau”. Lê Uyên cũng thừa nhận họ đến với nhau như một tất mệnh! Hầu hết các ca khúc của Phương đều tặng Lê Uyên.

Trong một ca khúc của Lê Uyên Phương đều mang cảm thức hạnh phúc và chia lìa. Bởi theo Lê Uyên Phương, tình yêu của một chàng trai 27-28 tuổi lại mang trong mình căn bệnh quái ác không biết ra đi lúc nào, với cô gái phơi phới mới lớn như Lâm Phúc Anh, đối với anh là quá lớn, “cho tôi yêu em nồng nàn, cho tôi yêu em nồng nàn, dù biết yêu tình yêu muộn màng…” Anh mất ngày 29 tháng 6/1999 tại bệnh viện UCI vì bệnh ung thư phổi.

Trong bài viết nhan đề “16 Năm – Lê Uyên Phương…” phóng viên Cát Linh của Đài RFA nhận định về Lê Uyên Phương: “…Nhạc của Lê Uyên Phương là những bản tình ca mang hơi thở lành lạnh của Đà Lạt, có vị cay cay của khói thuốc, có cả sự va chạm trần truội mang đầy giới tính bản năng của loài người… Nhạc của Phương không phải là những bản tình ca uỷ mị trừu tượng. Càng không mang vẻ đẹp của thiên tình sử trong đêm trăng của Romeo và Juilet. Cũng không cao sang trừu tượng như nhạc Phạm Duy. Ca từ trong nhạc của ông khi trần trụi, khi mềm mại, khi nóng bỏng như tiếng gào từ đồng vọng khét mùi khói lửa chiến tranh. Lê Uyên Phương viết nhạc từ chính cuộc sống và tình yêu của mình. Thời khắc khốc liệt nhất của giai đoạn đó đã làm cho lời nhạc của ông như lời trăn trối nhẹ nhàng, bình tĩnh, kêu gọi sống trọn vẹn ngày hôm nay vì không biết ngày mai sẽ ra sao.”

Trong mục Sổ Tay của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, với bài nhan đề “7-1999 – Vĩnh biệt Lê Uyên Phương” có một vài nhận xét như sau: “…Tôi yêu âm nhạc của Lê Uyên Phương, tôi yêu tiếng hát cũa hai bạn, tiếng hát khêu gợi làm sao, tiếng hát đi qua một trái tim nóng bỏng và đã thổi cái hơi nóng tình yêu nồng nàn qua trái tim người nghe, bắt họ phải nhận ra rằng đó mới là tình yêu đích thật. Bao giờ cũng vậy, mỗi khi nghe nhạc Lê Uyên Phương tôi đều nhìn thấy lại Đà Lạt, một Đà Lạt đã làm tôi trở thành một người khác với con người thời niên thiếu của tôi. Và tôi nhận ra mình ngu ngốc và rụt rè biết bao trước một Lê Uyên Phương chân thật và dũng cảm.”

Nhà phê bình Nguyễn Lê Phan trong bài viết nhan đề “Lê Uyên Và Phương Với Những Bài Tình Ca Bất Hủ” trên Việt Báo ngày 3/7/2003 trích như sau: “Mỗi ca khúc của Phương là một dấu ấn trên đời sống và trên tình yêu. Mỗi câu hát của Uyên là mỗi hơi thở đậm đà cho đời sống và cho tình yêu đó. Hình ảnh của giảng đường B thuộc trường Khoa Học Saigon của những năm 70 bỗng hiện về rõ từng nét trong trí nhớ của tôi khi vừa nghe ca khúc đầu tiên trong cuốn băng mới phát hành của LU&P, cuốn Khi loài thú xa nhau, sự khác biệt giữa khoảng cách của gần 30 năm, lạ lùng thay lại là giọng hát của họ, nếu ngày xưa là sự trong sáng, nhiệt tình thì giờ đây là sự đậm đà, đầy nội lực và tiềm tàng một khả năng thuyết phục lớn, nếu dùng chữ nôm na, thì đó là sự chín mùi trong cung cách đặc biệt mà không một người ca sĩ nào có được, anh không chú trọng đến làn hơi mà chỉ thể hiện những cảm xúc tự nhiên như khi anh đang viết ca khúc mình đang hát, vì thế đối với Phương, người thưởng ngoạn luôn phải nhìn anh là một nhạc sĩ sáng tác hơn là một ca sĩ, ngay cả lúc anh đang trình diễn trên sân khấu và đó cũng là điểm hết sức độc đáo của cặp nghệ sĩ này.”

Trong bài viết nhan đề “Chiều Nhạc Lê Uyên: Sài Gòn: Cà Phê, Sân Trường Thời 1970s,” nhà báo Đoàn Hưng nhận định:

“…Lê Uyên Phương sống và hát với tâm trạng của một cặp tình nhân mà “…ngày mai ta không còn thấy nhau…”. Tâm trạng đó không phải là tâm trạng chung của tuổi trẻ Việt Nam trong thập niên 70 hay sao? Những cặp tình nhân yêu nhau trong thời chinh chiến. Những người vợ mới cưới của những người lính Cộng Hòa. Những chàng thanh niên rời bỏ mái trường, bạn bè, người yêu để đi ra chiến trường. Trong một tâm trạng như vậy, hỏi sao mà tuổi trẻ đã hát say sưa: “…cho tôi yêu em nồng nàn, dù biết yêu tình yêu muộn màng…”

Nhạc của Lê Uyên Phương là nhạc của sân trường. Bởi vì đôi song ca này đã thành danh từ những sân khấu sân trường đại học, từ Đà Lạt đến Sài Gòn. Nhớ lại buổi trình diễn đầu tiên của Lê Uyên Phương tại Viện Đại Học Đà Lạt. Khi chương trình sắp bắt đầu, thì dàn âm thanh bị trục trặc, không biết đến lúc nào thì mới sửa chữa xong. Sinh viên đã đến đầy khán phòng. Lê Uyên Phương lúc đó đã quyết định hát không cần micro, dàn âm thanh. Chỉ với một cây đàn guitar và một đôi tình nhân. Hát bằng con tim, hát bằng hơi thở. Khoảng 18 bài hát đã được trình diễn như vậy, với sự hưởng ứng của khán giả cũng bằng con tim, bằng hơi thở. Huyền thoại Lê Uyên Phương đã bắt đầu như vậy. Để rồi sau đó, tour lưu diễn đầu tiên ở Sài Gòn liên tiếp trong 19 ngày, cũng tại các sân trường đại học, cũng với một cách trình diễn như vậy, đã chinh phục trái tim của hàng trăm ngàn khán giả trẻ đang yêu, đang khắc khoải vì sự mong manh của tình yêu.”

Như thế đó, nhạc sĩ Lê Uyên Phương đã xuất hiện như thế, và các âm thanh độc đáo của anh đã ở lại cõi này, để trở thành chứng tích cho các cặp tình nhân…

Nhà thơ Phi Lộc, thuộc thế hệ rất trẻ, đã bày tỏ lòng say mê nhạc Lê Uyên Phương qua bài thơ "Biết Ơn Anh" với ghi chú là: Thương kính tặng nhạc sĩ Lê Uyên Phương... Bài thơ trích lời ca từ những sáng tác của nhạc sĩ Lê Uyên Phương: Buồn Đến Bao Giờ, Cho Lần Cuối, Nỗi Buồn Dâng Hiến, Dạ Khúc Cho Tình Nhân, Có Được Cuộc Đời. Các dấu hoa thị là trích lời Lê Uyên Phương. Bài thơ như sau:

Biết ơn anh, trộm nhìn qua khe cửa
Nghe cuộc đời là biển sóng vi vu
Biết ơn anh, "buồn đến bao giờ"*
"Cho lần cuối"* không là lời cách biệt
Biết ơn anh, một "nỗi buồn dâng hiến"*
Vạn nỗi sầu bỗng hoá đá xanh tươi
Biết ơn anh, "ngày em thắp sao trời"*
"Đời sỏi đá, biết mình si mê"* vô ngại
Biết ơn anh, từng lời ca ý nhạc
Tặng hết "cuộc đời mưa nắng đổi thay"*
Biết ơn anh, qua trùng khơi bão nổi
Sống trọn "cuộc đời bỡ ngỡ như quên"*
---- Phi Lộc
(California, ngày 24 tháng 5 năm 2025)

Vào cuối tháng 6 này sẽ là Chương trình “Có Nhau Trong Đời” -  tưởng niệm nhạc sĩ Lê Uyên Phương tại Coffee Factory, đúng 26 năm ngày anh từ trần 29/6/1999. Đêm nhạc sẽ được tổ chức vào ngày 29/6/2025, lúc 7 giờ chiều. Danh ca Lê Uyên sẽ tâm tình và trình bày 14 tình khúc Lê Uyên Phương với tiếng đàn của Đình Chương đến từ Oklahoma.  

***

LE UYEN PHUONG trang nhất

CÓ NHAU TRONG ĐỜI:
7 GIỜ TỐI CHỦ NHẬT 29 THÁNG 6 NĂM 2025
tại Coffee Factory:
15582 Brookhurst St.
Westminster, CA 92683

Vé bảo trợ $150 - Vé VIP $100 - Vé đồng hạng $80. Để đặt vé và bảo trợ cho chương trình, vui lòng nhắn tin ban tổ chức 714-725-5445. Ban tổ chức chân thành cảm ơn Coffee Factory hỗ trợ Lê Uyên thực hiện chương trình tưởng niệm này.
 

Đầu tháng chín, sau một trận bão, một mảng trần thạch cao dài chừng năm bộ rơi xuống Đại Sảnh của Trung Tâm Kennedy. Không ai bị thương. Thế nhưng, thay vì sửa chữa, giới chức điều hành lại để mặc đống đổ nát nằm trên thảm gần hai tuần lễ, đem chụp hình phổ biến trên mạng, rồi đo từng mảnh vụn, vẽ sơ đồ "bãi mảnh vỡ" như các điều tra viên đi tìm dấu vết một vụ rơi phi cơ, để soạn một bản tường trình dày 55 trang trình lên hội đồng quản trị về tình trạng hư nát của tòa nhà. Tổng thống Trump, chủ tịch trung tâm, đăng lên mạng rằng một nhân viên bảo vệ vừa thoát chết trong gang tấc. Chưa đầy hai giờ sau, phe thân ông trong hội đồng bỏ phiếu đóng cửa, lấy lý do an toàn. Hôm thứ Ba, cửa khép lại. Giới chức bảo đó chỉ là biện pháp tạm thời.
Hãy tưởng tượng một ngày nào đó tại Hoa Kỳ, một số cơ quan báo chí lớn được báo rằng phóng viên của họ không còn được bước vào nơi làm việc của Tổng Thống. Lý do rất giản dị: Tổng Thống cho rằng họ nói dối quá nhiều. Các đài truyền hình khác phản đối. Những máy thu hình vốn thay phiên nhau theo sát Tổng Thống cũng biến mất. Nhưng dân chúng không vì thế mà mất hình. Chính phủ có máy quay riêng. Và rồi trên màn ảnh xuất hiện một đài mới, phát suốt ngày đêm. Không có phóng viên điều tra. Không có người dẫn tin ngắt lời. Không có câu hỏi bất ngờ từ cuối phòng. Người xem được thấy Tổng Thống đọc diễn văn, ký sắc lệnh, tiếp quốc khách, bắt tay, lên máy bay, xuống máy bay; được nghe những điều chính quyền muốn nói và xem những hình ảnh chính quyền muốn chiếu.
Cử tri Mỹ trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ tháng Mười Một sẽ tiếp tục bỏ phiếu qua thư theo những thủ tục hiện hành, sau khi Tối Cao Pháp Viện hôm 14 tháng Chín bác yêu cầu của chính quyền Trump nhằm cho phép Bưu Điện Hoa Kỳ áp dụng ngay một loạt quy định mới đối với phiếu bầu gửi qua thư. Với tỷ số 7–2, Tối Cao Pháp Viện giữ nguyên lệnh tạm thời của tòa liên bang ngăn Bưu Điện Hoa Kỳ (United States Postal Service, gọi tắt là USPS) thi hành các quy định mới. Hai Thẩm Phán Clarence Thomas và Samuel Alito bất đồng.
Bác sĩ Elaine Batchlor, Tổng Giám Đốc MLK Community Hospital ở Los Angeles, không cần đoán chuyện gì sẽ xảy ra nếu bệnh viện của bà phải đóng cửa. Bà đã từng chứng kiến một lần. Năm 2007, King Drew, một bệnh viện phục vụ phần lớn bệnh nhân nghèo tại South Los Angeles, đóng cửa. Trong gần một thập niên sau đó, cư dân quanh vùng mất đi một nơi chữa bệnh quan trọng. Bệnh nhân dồn sang các bệnh viện lân cận; tại một nơi, tỷ lệ bệnh nhân không có bảo hiểm tăng từ khoảng 13% lên gần 45%. Phòng cấp cứu chật cứng, chi phí tăng, và người có bảo hiểm cũng phải trả nhiều hơn.
Tiếp nối Nghị quyết 36 (năm 2004) và Quyết định 1334 (năm 2023), nhà cầm quyền Việt Nam vừa tiếp tục ban hành văn bản thứ ba nhắm trực tiếp vào cộng đồng người Việt tự do tại hải ngoại, đó là Nghị quyết 23-NQ/TW. Văn bản này do chính Tô Lâm ký ban hành ngay trước chuyến công du đến Úc và Tân Tây Lan, hai quốc gia có cộng đồng người Việt sinh sống đông đảo như một "món quà” ra mắt đầy tính toán.
Thi sĩ Vũ Hoàng Chương là một tác giả quan trọng, đã để lại cho chúng ta một số lượng tác phẩm rất lớn. Thơ ông chứa nhiều ý kín đáo, lại thêm cách diễn tả hàm súc, nên nhiều bài, nhiều câu thuộc loại “không dễ hiểu.” Là một người uyên bác và chịu ảnh hưởng của Hán học từ rất sớm, ông đã dùng khá nhiều điển tích và cũng hay trích dẫn thơ văn cổ khi sáng tác. Những điển tích, thơ văn cổ ấy, nếu không được phân giải ra, sẽ khiến nhiều người đọc, nhất là người ở thế hệ trẻ, khó nắm vững chủ ý của tác giả. Cho tới nay, bên cạnh một số bài viết riêng lẻ mang tính cách ước đoán hoặc với nhận định có phần nào chủ quan của người viết, chưa có một cuốn biên khảo nghiêm túc nào về Vũ Hoàng Chương.
Trên một con đường ngoại ô Dallas, Philip, 27 tuổi, đang lái xe thì bất ngờ chỉ vào một chiếc hộp đen nhỏ gắn trên cột đèn giao thông. “Flock!” Đó là một máy camera đọc bảng số xe tự động của Flock Safety, một mạng lưới 120.000 thiết bị trải khắp 49 tiểu bang, cho phép cảnh sát xem một chiếc xe đã đi đâu và đang ở đâu chỉ trong vài giây. Công ty có hợp đồng với 7.000 sở cảnh sát, tương đương 40% lực lượng trên toàn quốc. Mỗi chiếc xe chạy ngang qua đều có thể bị chụp hình, ghi bảng số, thời gian và địa điểm. Nếu chiếc xe nằm trong danh sách truy tìm, cảnh sát có thể được báo ngay. Philip mở điện thoại, vào DeFlock, một ứng dụng do dân chúng lập ra để đánh dấu vị trí các máy đọc bảng số, đánh dấu chiếc máy vừa nhìn thấy lên bản đồ. Ứng dụng này đã thu hút hơn 350.000 người dùng. Đối với anh, đó là cách đơn giản nhất để chống lại một mạng lưới theo dõi đang mọc lên gần như khắp nước Mỹ. Flock hiện có khoảng 120,000 máy đặt bên đường tại tất cả các tiểu bang, ngoại trừ Alaska.
Sau cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, nhiều nhà quan sát cho rằng Donald Trump đã vẽ lại bản đồ chính trị Hoa Kỳ. Ông củng cố được sự ủng hộ của giới lao động da trắng, đồng thời đạt kết quả hiếm thấy trong giới cử tri trẻ, đặc biệt là nam giới trẻ và người gốc Mỹ La-tinh. Tuy nhiên, kết quả năm ấy thực ra rất sít sao. Trump giành 312 phiếu đại cử tri, nhưng số phiếu phổ thông và tỷ lệ phiếu của ông vẫn thấp hơn kết quả Joe Biden đạt được năm 2020. Điều khiến giới phân tích chú ý không phải chỉ là tổng số phiếu, mà là việc Trump thu hút được nhiều thành phần cử tri trước đây thường nghiêng về đảng Dân Chủ.
Con người từ thuở hồng hoang đã không chỉ sống bằng điều mình biết. Người mẹ sinh con chưa biết đứa trẻ mai này sẽ ra sao. Người gieo hạt chưa lường được kết quả vụ mùa. Kẻ xuống thuyền vượt biển không thấy được bờ bến. Người ta vẫn cắm cúi đi. Không vì cái biết, mà vì lòng tin. Biết thuộc về ánh sáng, tin thường khởi sự nơi tối tăm. Tin một điều có nghĩa là chấp nhận điều ấy có thật. Tin một người là trao vào tay người ấy một phần sinh mệnh của chính mình. Tin một lý tưởng là lấy đó làm lẽ sống, làm phương hướng.
Ngày 6 tháng 7 vừa qua, hai ngày trước khi công bố bản phúc trình về việc tẩy chay văn hóa đối với Israel, tổ chức PEN America đã lặng lẽ sửa một điểm nhỏ nhưng rất quan trọng trong lập trường của mình về vấn đề tẩy chay. Gần hai mươi năm trước, PEN America đã soạn ra một chủ trương chống việc tẩy chay học thuật đối với Israel — khiến tổ chức này trở thành chi bộ PEN duy nhất trên thế giới công khai chống lại một hình thức phát biểu chính trị chính đáng. Lập trường ấy đứng vững suốt mười chín năm không đổi. Lần sửa đổi mới đây được giải thích chỉ là "làm sáng tỏ" một chính sách trước nay vốn mù mờ, khó định nghĩa.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.