Hôm nay,  

Tăng Phí Visa H-1B: Hoa Kỳ Đang Tự Bắn Vào Chân Mình?

03/10/202500:00:00(Xem: 1455)

H1B
Từng hứa hẹn sẽ cấp “thẻ xanh” cho sinh viên nước ngoài ngay khi tốt nghiệp, Tổng thống Trump giờ đây lại rẽ qua hướng khác: tăng phí xin visa H-1B lên 100,000 MK. (Nguồn: pixabay.com)
 
Còn nhớ trong chiến dịch tranh cử năm 2024, Trump từng mạnh miệng nói: “Tôi nghĩ khi sinh viên tốt nghiệp đại học nên được cấp thẻ xanh [thường trú nhân tại Hoa Kỳ] cùng với tấm bằng của mình.” Nhưng đến khi quay lại chiếc ghế tổng thống, ông lại khiến nhiều người té ngửa vì nói một đằng, làm một nẻo.
 
Ngày 19 tháng 9, Trump ra lệnh thu tới 100,000 MK đối với mỗi hồ sơ xin cấp visa H-1B mới, diện thị thực mà các công ty công nghệ thường dùng để tuyển dụng sinh viên quốc tế sau khi tốt nghiệp. Hằng năm, chỉ có 85,000 visa H-1B được cấp (bằng cách bốc thăm), còn tổng chi phí xin visa (trước khi có chính sách mới của Trump) chỉ khoảng 2,500 MK.
 
Các tập đoàn công nghệ lớn tại Hoa Kỳ là những đơn vị sử dụng loại thị thực này nhiều nhất. Trong năm 2025, chỉ riêng Amazon đã có hơn 14,000 hồ sơ được chuẩn thuận (không tính hồ sơ xin gia hạn).
 
Ngoài ra, các công ty công nghệ lớn của Ấn Độ như Infosys, Wipro, và Tata Consultancy Services (TCS) cũng là những nhà bảo trợ visa hàng đầu. Người Ấn Độ chiếm đến 75% số visa H-1B được cấp trong năm 2023. TQ đứng thứ hai với 12%, và không có quốc gia nào khác vượt quá 2%. Nhiều người ủng hộ Trump cho rằng chính sách visa trước đây khiến nhiều việc làm đáng lẽ thuộc về người dân Hoa Kỳ lại rơi vào tay sinh viên Ấn Độ. Nhưng sự thật (và hậu quả của mức phí visa mới) có thể phức tạp hơn rất nhiều.
 
Ngay sau khi biết tin, nhiều tập đoàn công nghệ lớn đã vội vàng cảnh báo nhân viên đang có visa H-1B không nên rời khỏi Hoa Kỳ; phải ở lại đợi cho tới khi có thông tin rõ ràng từ chính phủ xem có trường hợp nào thuộc diện miễn trừ hay không. Và quốc gia nhận thấy tác động của quyết định này rõ nhất chính là Ấn Độ.
 
Tháng 8, Trump áp mức thuế nhập cảng 50% lên hàng hóa từ Ấn Độ, chỉ trừ các mặt hàng thiết yếu như dược phẩm và thiết bị điện tử. Qua tháng 9, ông lại tiếp tục nhắm vào lĩnh vực thành công nhất của nước này: dịch vụ công nghệ thông tin.
 
Theo ngân hàng Goldman Sachs, giá trị xuất cảng dịch vụ của Ấn Độ đã tăng từ 53 tỷ MK lên 338 tỷ MK trong giai đoạn 2005–2023, tức là gần gấp đôi tốc độ tăng trưởng toàn cầu. Thành quả này chủ yếu nhờ vào đội ngũ kỹ sư đông đảo, đặc biệt trong ngành khoa học máy tính. Đối với các công ty công nghệ Ấn Độ, việc cử người sang Hoa Kỳ làm việc theo diện H-1B là phương thức kinh doanh chủ chốt, và cũng là con đường để hàng ngàn kỹ sư công nghệ có được mức lương cao hơn. Nhưng nay, con đường ấy đang trở nên bấp bênh hơn bao giờ hết.
 
Phí xin visa H-1B đắt đỏ hơn đang khiến các công ty công nghệ Ấn Độ đau đầu. Ngành này đang nuôi sống hơn 5 triệu người, nhưng lại phải đối diện với hai trở ngại lớn: một là phí xin visa quá cao, hai là cơn sóng dữ mang tên AI.
 
Các công cụ trí tuệ nhân tạo tổng quát (generative AI) đang dần thay thế các công việc truyền thống trong lĩnh vực công nghệ. Theo dự báo của công ty nghiên cứu Gartner, đến năm 2029, hơn một nửa các tương tác trong hệ thống liên quan đến quy trình vận hành của công ty sẽ do AI giải quyết. Một số nơi đã bắt đầu cắt giảm nhân sự. Tháng 7, TCS tuyên bố sẽ cắt giảm 12,000 nhân viên, tương đương 2% lực lượng nhân sự, do “kỹ năng không phù hợp.
 
Thực ra, ngành công nghệ của Ấn Độ cũng đã quen với áp lực từ chính quyền Trump. Trong nhiệm kỳ đầu tiên của ông, chính sách duyệt xét visa đã được thắt chặt, khiến tỷ lệ từ chối hồ sơ của các công ty Ấn Độ tăng hơn bốn lần. Để thích nghi, họ giảm dần sự phụ thuộc vào thị thực H-1B, chuyển bớt công việc về lại Ấn Độ và tăng cường tuyển dụng nhân sự ngay tại Hoa Kỳ.
 
Hiện nay, chỉ 8% nhân viên của Infosys làm việc tại khu vực Mỹ Châu, và từ năm 2018 đến nay, hơn 90% nhân viên mới tại đây là người bản xứ. Thị trường chứng khoán có vẻ như cũng không quá lo lắng: chỉ số NIFTY IT chỉ giảm 3% vào ngày 22 tháng 9, ngay sau khi có thông cáo về mức phí visa mới.
 
Ngoài các tập đoàn gia công sản xuất, công nhân ngành công nghệ Ấn Độ còn có lựa chọn khác: làm việc tại các “Trung tâm năng lực toàn cầu” (Global Capability Centres, GCCs). Đây là các cơ sở do các tập đoàn đa quốc gia thành lập tại Ấn Độ để thực hiện nhiều nhiệm vụ, từ phân tích dữ liệu cho đến nghiên cứu và phát triển. Hãng dược phẩm Eli Lilly của Hoa Kỳ và công ty chế tạo động cơ Rolls-Royce của Anh quốc, đều đang giao phó các công việc phức tạp cho các trung tâm này. Theo tổ chức NASSCOM, số lượng GCC tại Ấn Độ đã tăng từ 700 trung tâm vào năm 2010 lên hơn 1,700 vào năm ngoái. Tổng cộng, hệ thống GCCs giúp tạo ra 1.9 triệu việc làm và mang về doanh thu 64 tỷ MK.
 
Chính vì vậy, mức phí visa 100,000 MK có thể khiến nhiều công ty nước ngoài đẩy nhanh việc mở rộng hoạt động ở Ấn Độ (thay vì tuyển người sang Hoa Kỳ làm việc). Riêng với các công ty startups nhỏ, chuyện tuyển dụng nhân sự có thể sẽ gian nan hơn.
 
Theo nghiên cứu của Britta Glennon (Đại học Wharton), khi Hoa Kỳ thắt chặt H-1B vào năm 2004, các công ty phụ thuộc nhiều vào diện thị thực này đã tăng khoảng 25% lượng nhân sự ở nước ngoài so với các công ty ít phụ thuộc hơn. Những công việc đòi hỏi kỹ năng cao, đặc biệt trong mảng R&D, là nhóm đầu tiên bị chuyển đi; và ba quốc gia được hưởng lợi nhiều nhất là Canada, TQ và Ấn Độ.

VB biên dịch
Nguồn: “The perverse consequence of America’s $100,000 visa fees” được đăng trên trang Economist.com.
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong suốt lịch sử Hoa Kỳ, vấn đề di dân hiếm khi nào yên ổn. Ngay từ buổi đầu lập quốc, giới lãnh đạo đã tranh luận về việc nên mở cửa cho người mới đến đến mức nào. Năm 1801, trong thông điệp đầu tiên gửi Quốc hội, Tổng thống Thomas Jefferson than rằng con đường nhập tịch đối với ngoại kiều còn quá dễ dàng. Alexander Hamilton — một người di dân và cũng là đối thủ chính trị của Jefferson — lại nghiêng về phía siết chặt hơn.
Bất chấp việc đóng cửa hiện tại, phần lớn các chức năng di trú của Bộ An Ninh Nội Địa (DHS) vẫn tiếp tục hoạt động. Các chức năng của Sở Di Trú và Bộ Ngoại Giao vẫn duy trì vận hành. Sở Di Trú: Phần lớn vẫn mở cửa. Do Sở Di Trú chủ yếu được tài trợ bằng lệ phí nộp cùng các đơn xin di dân, nên việc duyệt xét hồ sơ của Sở Di Trú vẫn tiếp tục trong thời gian đóng cửa. Hồ sơ nộp ở Sở Di Trú: Do Sở Di Trú chủ yếu là cơ quan hoạt động bằng nguồn thu lệ phí, các đơn xin và đơn bảo lãnh vẫn có thể tiếp tục được nộp và duyệt xét .
Quốc hội đã thông qua một thay đổi lớn: áp dụng thuế liên bang đối với tiền chuyển ra nước ngoài. Có hiệu lực ngay lập tức, việc chuyển tiền từ Hoa Kỳ ra nước ngoài sẽ phải chịu mức thuế mới 1% đối với một số hình thức chuyển tiền nhất định.
Khi “biệt phái trưởng” biên giới Tom Homan đáp xuống Minnesota cuối tháng Giêng, ông mang theo nhiệm vụ gỡ một loạt rắc rối đang đè nặng lên chính quyền Tổng thống Donald Trump. Những chiến dịch truy quét di trú bừa bãi, nhiều khi kèm bạo lực, do chỉ huy Biên phòng Gregory Bovino điều khiển đã châm ngòi làn sóng phản đối rộng khắp, kéo mức tín nhiệm của ông Trump về hồ sơ di trú – vốn là “thương hiệu” chính trị của ông – tụt dốc. Nhân viên di trú đã nổ súng bắn chết hai người; các gia đình di dân né chợ búa, phụ huynh giữ con ở nhà, lo sợ những đợt kiểm tra giấy tờ diện rộng có thể cuốn luôn cả người có quy chế hợp pháp lẫn công dân Hoa Kỳ vào lưới.
Ngày 28 tháng 1, ông Newt Gingrich, cựu Chủ tịch Hạ viện, cho biết Hoa kỳ cần một cuộc đối thoại quốc gia về những người di dân bất hợp pháp nhưng sống tuân thủ pháp luật. Dư luận hiện đang phản đối chương trình trục xuất hàng loạt của T.T Trump. Ông Gingrich nói, “Chúng ta cần quyết định xem mình sẽ làm gì với những người đã đến đây, một số người trong số họ đã đến cách đây 20 năm, những người đã tuân thủ pháp luật, đóng thuế, là những người hàng xóm tốt, có con cái, tham dự các cuộc họp phụ huynh-giáo viên. Không có nhiều người dân Hoa kỳ muốn thấy ICE bắt giữ những người di dân và trục xuất họ. Nhưng mặt khác, nhiều người cũng không muốn trao cho họ quyền công dân. Vì vậy cần có một giải pháp trung dung nào đó cho mục tiêu lâu dài của họ.”
Theo Coral Murphy Marcos, viết trên nhật báo The Guardian ngày 19 tháng 2 năm 2026, một cựu quân nhân Hoa Kỳ đã đệ đơn kiện chính phủ liên bang sau khi bị nhân viên di trú bắt giữ và giam hơn 72 giờ, không được liên lạc với gia đình hay luật sư. Nguyên đơn là George Retes Jr., 26 tuổi, công dân Hoa Kỳ, sinh trưởng tại California. Ông gia nhập quân đội khi còn trẻ, từng phục vụ tại Iraq, rồi xin giải ngũ danh dự để có thời giờ bên các con. Sau đó, ông làm nhân viên an ninh cho một công ty thầu, được phân công bảo vệ một nông trại trồng cần sa hợp pháp theo luật tiểu bang tại quận Ventura, California.
Đối với các nhà đầu tư nước ngoài đang tìm kiếm con đường ổn định để trở thành thường trú nhân Hoa Kỳ, chương trình Đầu tư di dân EB-5 vẫn là một trong những lựa chọn mạnh mẽ nhất hiện có. Tuy nhiên, thời điểm đầu tư là vô cùng quan trọng.
Trước khi bước chân vào Trung tâm Xử lý Di trú Dilley mùa thu năm ngoái, bé Maria Vargas, 6 tuổi, là một đứa trẻ sống đúng nghĩa tuổi thơ: buổi sáng đến trường, buổi chiều về nhà ở New York, vừa vẽ vời vừa chơi với con mèo Milo, thỉnh thoảng ôm sách truyện đi ngủ trên chiếc ghế sofa trong căn hộ chật mà ấm. Chỉ vài ngày sau khi gia đình bị bắt và chuyển xuống trại Dilley ở miền Nam Texas, mọi thứ sụp đổ. Em bị bắt nhốt vào một nơi “giống nhà tù hơn là trung tâm chăm sóc”, lính gác đi lại suốt hành lang, ánh đèn trắng không bao giờ chịu tắt. Vốn đã bỏ tả từ lâu, em bỗng tè dầm trở lại, lúc thì ướt quần, lúc thì ướt cả chăn. Đêm nào Maria cũng khóc, hỏi mẹ bao giờ mới được về căn hộ của mình ở New York, về với cô giáo, với Milo. Có khi em còn van xin được… bú mẹ lại như hồi còn bé xíu, chỉ để tìm chút an toàn trong vòng tay mẹ.
Chính quyền T.T Trump đã đề xuất một thay đổi lớn về luật “gánh nặng xã hội”. Luật này được sử dụng để quyết định xem một người có đủ điều kiện để nhận thẻ xanh hoặc chiếu khán di dân hay không. Đề xuất này sẽ cho phép các viên chức Sở Di Trú từ chối đơn xin dựa trên đánh giá mang tính chủ quan của họ. Kể từ năm 1999, “Gánh nặng xã hội” đã có một định nghĩa rõ ràng: một người bị xem là gánh nặng xã hội nếu họ phụ thuộc chủ yếu vào chính phủ để đáp ứng các nhu cầu cơ bản, thông qua việc nhận (a) Trợ cấp tiền mặt (như SSI hoặc phúc lợi xã hội), hoặc (b) Chăm sóc dài hạn tại bệnh viện do chính phủ tài trợ.
Chính quyền Trump tiếp tục đẩy mạnh các hành động thực thi luật di trú trên khắp cả nước. Các cuộc đột kích mạnh mẽ, bắt giữ trên đường phố, việc sử dụng vũ lực của nhân viên ICE và CBP đã làm gia tăng nỗi sợ hãi trong nhiều cộng đồng. Sự leo thang lên đến đỉnh điểm với vụ nổ súng cướp đi sinh mạng của hai công dân Mỹ Renée Good vào ngày 7 tháng 1 và Alex Pretti vào ngày 24 tháng 1. Cả hai đều bị các đặc vụ di trú liên bang bắn chết trong các cuộc biểu tình ở Minneapolis. Nhưng cũng từ đó, sự phản kháng từ cá nhân, gia đình, những tổ chức cộng đồng, chính quyền địa phương tăng mạnh. Các cộng đồng đang tạo nên một làn sóng phản kháng ngày càng tăng dưới nhiều hình thức, từ biểu tình đến khiếu kiện về quyền công dân, đến việc tổ chức bảo vệ trường học, bảo vệ địa phương phối hợp.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.