Hôm nay,  

Khi Nobel Hòa Bình Mang Gam Màu Shakespeare

17/10/202500:00:00(Xem: 1170)

Nobel-Peace-Prize
Và chính ở đây, cái gọi là “nghịch lý mang gam màu Shakespeare” hiện rõ. Việc Tổng Thống Trump tự đề cử, và sự “hiến tặng” đáng ngạc nhiên của Machado, cho thấy giá trị của giải Nobel Hòa Bình và đã trở nên mong manh đến mức nào. (Ảnh: Việt Báo)
Giải thưởng của cống hiến, không phải lụy cầu

Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.

Từ đó, giải Nobel Hòa Bình không chỉ đơn thuần là một tấm huy chương vàng nhỏ gọn, mà còn là một la bàn đạo đức. Giá trị của nó là tôn vinh những hành động vì công lý và hòa giải, chứ không chỉ đơn thuần là thừa nhận chiến tranh đã kết thúc. Như triết gia Hannah Arendt sau này đã viết, “hòa bình là điều kiện cho phép tự do và công lý xuất hiện.” Do đó, hiểu một cách rõ nhất, đó là một thành tựu của chính trị và con người, chứ không phải chỉ đơn giản là khoảng lặng trong một cuộc chiến kéo dài.

Tinh thần của giải Nobel danh giá, tinh thần của Alfred Nobel, dù bất kỳ lĩnh vực nào, là sự cống hiến âm thầm nhưng bền bĩ. Người nhận giải thưởng không phải chỉ vì thành tựu họ mang đến cho xã hội, cuộc đời, mà chính là vinh danh những tháng năm phụng sự không mệt mỏi. Họ đến với giải thưởng bằng con đường mang tên Vô Ưu.

Và tinh thần này không có ở Tổng Thống Donald Trump – người từ lâu đã không thể dấu sự thèm khát giải thưởng này.

Ngay từ lần gặp lãnh đạo Kim Jong Un năm 2018, Trump đã bắt đầu tự định hình mình là một nhà đàm phán đẳng cấp thế giới, chuyển sang “kiến tạo hòa bình.”

“Mọi người đều nghĩ tôi nên nhận giải Nobel,” ông đã nói với các phóng viên sau cuộc họp tại Tòa Bạch Ốc với các quan chức Hàn Quốc. Trong những năm tiếp theo, ông liên tục nhắc lại, bất cử ở đâu, lúc nào.

Các đồng minh Cộng Hòa của ông trong Quốc Hội đã “hết lòng” nộp đơn đề cử. Các nhà lãnh đạo nước ngoài, từ Benjamin Netanyahu của Israel đến Hun Manet của Campuchia, công khai ủng hộ. Trump thậm chí còn gọi điện cho các nhà ngoại giao Na Uy để công khai hỏi về giải Nobel cho mình.

“Chưa bao giờ trong lịch sử có ai vận động công khai như vậy,” các nhà phê bình châm biếm trên mạng xã hội.

Trong tình huống mà một cá nhân thèm muốn giải thưởng quốc tế đến mức công khai vận động ủy ban giải thưởng, vì bỗng dưng họ trở nên dè dặt, mất tự tin. Cơn thèm khát bỗng chốc hóa thành nỗi bất an. 

“Họ sẽ không bao giờ trao giải Nobel Hòa Bình cho tôi,” Tổng Thống Trump nói trong cuộc gặp ngày 4/2 với Thủ Tướng Israel Benjamin Netanyahu tại Phòng Bầu Dục. “Thật đáng tiếc. Tôi xứng đáng được nhận giải, nhưng họ sẽ không bao giờ trao cho tôi.”

Và ông thẳng thừng trách móc “Obama chẳng làm nên trò trống gì nhưng vẫn nhận giải thưởng.”

“Hòa Bình” còn rất xa!

Ngày 9/10, trong đại sảnh lộng lẫy của Tòa Thị Chính Oslo, nơi tiếng vọng của những giấc mơ hòa bình hòa quyện với sức nặng của sự giám sát toàn cầu, Giải Nobel Hòa Bình năm 2025 đã được trao cho María Corina Machado, nhà lãnh đạo đối lập Venezuela vì “sự kiên cường không mệt mỏi chống lại chế độ độc tài.” Chiến thắng của bà, không chỉ là sự thừa nhận cho cuộc đấu tranh chống độc tài không ngừng nghỉ mà còn là một cử chỉ xúc động: dành tặng cho những người dân Venezuela đang chịu đau khổ.

Những lý do dẫn đến giải thưởng của bà María Corina Machado hoàn toàn đối lập với những gì Tổng Thống Donald Trump đang làm để có được huy chương.

Vị tổng thống đam mê quyền lực, thèm khát tiếng vỗ tay, mê say giải thưởng Nobel, luôn cho rằng mình là người đàm phán và “kiến tạo hòa bình” đã hòa giải bảy cuộc chiến tranh. Ông chạy hết tốc lực để mang lại một thỏa thuận ngừng bắn giữa Israel và Palestine, mong đây sẽ là cuộc hòa giải thứ tám từ ngày trở lại chức vụ. Ông tin mình là người đứng sau những “hiệp định lịch sử” ở Trung Đông; là người hứa hẹn sẽ chấm dứt chiến tranh Nga – Ukraine.
Nhưng trên tất cả, Trump vẫn không ngừng phát động sự thù hằn bằng lời nói và chỉ trích.

Bên trong quốc gia của mình, Trump đang tạo ra những cuộc chiến với chính người dân của ông. Bằng chiến dịch trả thù “tát cạn đầm lầy,” Trump đang khóa chặt những tiếng nói đối lập bằng cách gieo rắc sự sợ hãi. Bằng khẩu hiệu “Make America Great Again,” Trump đang viết lại lịch sử nước Mỹ bằng cách xóa bỏ những nền tảng từ thời lập quốc, cô lập nước Mỹ với các đồng minh trên thế giới. Trong từng tiểu bang đang mỗi ngày đối mặt với lực lượng Vệ Binh Quốc Gia tràn ngập trên phố; từng gia đình nhập cư đang chật vật với mức giá leo thang.

“Hòa Bình” còn rất xa!
 
Nghịch lý mang gam màu Shakespeare

Nhưng thật trớ trêu – vẫn có một nghịch lý mang gam màu Shakespeare.

“Tôi dành giải thưởng này cho người dân Venezuela đang chịu khổ và cho Tổng thống Trump vì sự ủng hộ quyết định của ông đối với sự nghiệp của chúng tôi!" Bà Machado viết trên X. Bà phát biểu trên Fox News, cho biết Trump "xứng đáng" nhận giải thưởng này vì những nỗ lực tự nhận của ông trong việc chấm dứt tám cuộc chiến và bảo vệ nền dân chủ ở Venezuela.

Hành động của bà đã khiến nhiều nhà quan sát bối rối, mạng xã hội ngỡ ngàng, lẫn chỉ trích. Một số người cho rằng bà là một người nắm bắt thời cơ chính trị,  đã được hưởng lợi từ các lệnh trừng phạt thời Trump làm suy yếu chế độ Maduro. Theo các nhà bình luận, bà Machado có thể đang hướng tới Trump để tìm kiếm chiến thắng cho nền dân chủ trong nước. .

Tác giả, nhà bình luận Nishtha Gautam cho rằng, bà Maria Corina Machado biết điều mà nhiều nhà lãnh đạo thế giới không biết. Đó là “đừng bao giờ mắc sai lầm khi để một “con cáo già” đi vào bóng tối.” Bà cho rằng đối đầu chỉ có thể đến sau khi có năng lực. Nghĩa là bà Machado, lãnh đạo phe đối lập Venezuela, đã nhận được thứ mà Donald Trump thèm muốn, Giải Nobel Hòa bình. Tuy nhiên, bà tuyên bố dành tặng ngược lại nó cho tổng thống Hoa Kỳ. Theo một cách nào đó, Trump đã nhận được giải thưởng của mình.

Bà Machado đã chặn trước phản ứng của Trump, chặn trước những lời mạ lị quen thuộc như "gian lận”; "bất công.” Bà Machado đã làm điều thực tế là khiến Trump cảm thấy ông ta mới thật là người xứng đáng.

Hơn tất cả, bà Machado hiểu rõ luật chơi và đối thủ.

Hoa Kỳ đang áp đặt các lệnh trừng phạt đối với các quan chức chính phủ Venezuela. Trong một hành động mà nhiều luật sư cho là vi phạm luật pháp quốc tế, Hoa Kỳ gần đây đã tấn công bắn phá các tàu thuyền, cáo buộc chở ma túy trên vùng biển quốc tế, với lý do rằng chúng gây ra mối đe dọa cho sự thịnh vượng của Hoa Kỳ. Động cơ thực sự có thể là lật đổ Tổng Thống Venezuela Nicolas Maduro sau một màn phô trương sức mạnh quân sự trong khu vực.

Đây là điều bà Machado đang cần ở Donald Trump.

Dù thế nào, hành động này đã biến một giải thưởng danh giá, biểu tượng cho chiến thắng của một dân tộc, thành một vở kịch chính trị khéo léo, sắc bén, chính xác như từng đường gấp thành chim hạc giấy hòa bình.

Khi bà công khai tuyên bố ủng hộ Hoa Kỳ bằng cách dành tặng giải thưởng cho “người dân Venezuela đang đau khổ và Tổng Thống Trump vì sự ủng hộ quyết liệt của ông” thì chiếc huy chương Nobel Hòa Bình đã trở thành một chiến lược, một con bài trên bàn cờ chính trị. Tổng Thống Trump đã có chiến thắng của mình, nhưng nền dân chủ ở đâu?

Và chính ở đây, cái gọi là “nghịch lý mang gam màu Shakespeare” hiện rõ. Việc Tổng Thống Trump tự đề cử, và sự “hiến tặng” đáng ngạc nhiên của Machado, cho thấy giá trị của giải Nobel Hòa Bình và đã trở nên mong manh đến mức nào. Cho dù trước đó, thế giới nức lòng với câu nói của Jørgen Watne Frydnes, Chủ tịch Ủy ban Giải Nobel: “Chúng tôi chỉ trao giải thưởng cho những người có lòng dũng cảm và liêm chính.”

“Chúng tôi muốn gửi một thông điệp đến Tổng Thống Nicolás Maduro, lắng nghe người dân, chấp nhận kết quả bầu cử của năm vừa qua và bắt đầu một cuộc chuyển giao hòa bình từ độc tài sang dân chủ.”

Giải thưởng Nobel Hòa bình năm 2025 sẽ được nhớ đến không phải vì người nhận mà vì cảnh tượng chung quanh nó – các chiến dịch thất bại, sự dâng tặng gây ngạc nhiên, và tiếng cười gượng gạo sau đó. Từ khoảnh khắc đó, chúng ta có thể lấy lại nhận thức ban đầu rằng hòa bình, như Arendt đã nhắc nhở chúng ta, không chỉ đơn thuần là sự vắng mặt của chiến tranh mà còn là sự hiện diện của công lý.

Nếu chúng ta nhớ điều đó, Giải thưởng Nobel Hòa Bình có thể sẽ sống đúng với tên gọi của nó.

Ngược lại, như những vở bi kịch của Shakespeare, nơi các nhân vật bị cuốn vào ảo tưởng do chính họ tạo ra. Bi kịch của Trump – nếu có thể nói vậy – nằm ở chính niềm tin mãnh liệt vào ảo tưởng của mình. Bi kịch của cả người quá hiểu cuộc chơi và đối thủ. Tất cả nó tạo ra một bi kịch khác – bi kịch cho dân tộc.

Kalynh Ngô
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
Giới binh pháp có một câu quen thuộc: không có kế hoạch tác chiến nào còn nguyên vẹn sau lần chạm trán đầu tiên với đối phương. Mike Tyson diễn đạt cùng ý đó theo cách của ông: “Ai cũng có sẵn một kế hoạch, cho tới khi bị đấm vào mặt.” Quân lực Hoa Kỳ là lực lượng lớn mạnh nhất thế giới, và khoảng cách với phần còn lại là rất xa. Dưới nhiệm kỳ tổng thống này, điều đó đã được chứng minh nhiều lần; Trump đã ra lệnh sử dụng quân lực nhiều hơn bất kỳ tổng thống nào trong thời kỳ hiện đại. Nhưng Iran là một câu chuyện khác hẳn.
Rất nhiều người Việt tỵ nạn trong và ngoài nước đã vỗ tay reo hò, chúc mừng cho dân tộc Iran. Người dân Iran xứng đáng được như thế. Họ xứng đáng được xuống đường nhảy điệu Bandari, hoặc nắm tay nhau múa điệu Kurdish. Chỉ là chưa thấy một ai ca ngợi cuộc không kích do Tổng thống Mỹ khởi xướng, có thể giúp ông ấy một ý kiến, “sau bom rơi đạn nổ, là gì?”, để Iran không có một Ayatollah Khamenei thứ hai, và chiến tranh mau kết thúc.
Sau sáu tháng ẩn náu, ông Peter Mandelson, một chính khách kỳ cựu, đã bị cảnh sát còng tay, đưa ra khỏi ngôi nhà thuê ở vùng nông thôn thuộc một thung lũng đẹp như tranh vẽ ở Wiltshire, cách London khoảng 100 dặm về phía Tây. Tính đến Thứ Hai 23/2, Peter Mandelson là cái tên mới nhất, ngoài nước Mỹ, bị bắt giữ vì liên quan đến vụ án xuyên thế kỷ Jeffrey Epstein. Trước đó, là vụ bắt giữ cựu hoàng tử Anh quốc Andrew Mountbatten-Windsor. Dù đã được thả, nhưng vụ bắt một cựu hoàng gia của vương quốc sương mù cũng đủ gây chấn động thế giới, làm cho những người tin vào pháp luật phải giật mình tự hỏi, cán cân công lý của Mỹ đang ở nơi đâu?
Chiều mùng Hai Tết, cả bọn chúng tôi hẹn nhau ở quán Qua. Một người bạn bảo, Qua là cho qua đi mọi phiền hà rắc rối của năm cũ để đón năm mới nhẹ đầu hơn; một người khác lại nói, Qua nghe như nước, mà nước chảy vào nhà thì cả năm may mắn. Giữa tiếng chén đũa và tiếng cụng ly, chúng tôi chúc nhau những điều quen thuộc: vui, khỏe, thành đạt. Nhưng năm nay, hầu như ai cũng kèm thêm hai chữ “bình an” – không phải theo nghĩa tâm linh, mà như một tấm bùa để tránh rắc rối. Mấy chị bạn thân, lâu nay vẫn âm thầm bấm like bài tôi viết, lần này nói thẳng: “Năm nay bớt viết mấy chuyện chính trị lại đi em, nguy hiểm lắm. Thời buổi này không đơn giản đâu.” Các bạn không hỏi tôi nghĩ gì; họ chỉ quan tâm liệu tôi có còn an toàn không khi vẫn đều đặn lên tiếng, vẫn gọi đích danh những điều đang xảy ra ở Hoa Kỳ mà nhiều người chọn lướt qua cho nhẹ đầu. Câu chúc “bình an”, trong không khí Tết, bỗng như một lời nhắc nhở: hãy coi chừng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.