Hôm nay,  

ADHD Không Chỉ Ở Trẻ Em: Người Lớn Cũng Có Thể Mắc Bệnh Mà Không Hay Biết

24/10/202500:00:00(Xem: 796)

ADHD
Nhiều người trưởng thành rồi mới biết mình bị ADHD, sau nhiều năm bị hiểu lầm là “lười biếng.” Các khoa học gia cho biết những yếu tố di truyền, phản ứng hóa học trong não và môi trường đều góp phần gây ra căn bệnh này. (Nguồn: pixabay.com)

Từ nhỏ, Dustin Chandler đã luôn bị thầy cô phàn nàn vì không bao giờ làm bài tập về nhà. Trong mắt mọi người, Chandler là một cậu học trò “
lười biếng.” Nhiều năm sau, khi mẹ anh, lúc này đang làm việc tại một phòng khám nhi khoa, nhìn thấy anh loay hoay sửa sang căn nhà đầu tiên, bà mới nhận ra có điều gì đó không ổn. “Con à,” bà nói, “có lẽ con cần đi khám bệnh xem có bị ADHD không.
 
Năm 25 tuổi, Chandler được chẩn bệnh là mắc chứng rối loạn tăng động/giảm chú ý (ADHD, một bệnh tiến triển do sự thiếu chú ý và đãng trí, kém hoặc không tăng hoạt động). Khi biết bệnh này có thể di truyền, vợ chồng Chandler bắt đầu theo dõi những dấu hiệu tương tự ở các con. Bé gái thứ hai khá giống cha: ít nói và hay mơ màng. Cô bé thích đọc sách một mình; khi được thầy cô dạy riêng, bé học rất tốt. Nhưng đến lúc vào tiểu học, hai vợ chồng bắt đầu thấy lo. Trong một cuộc thi toán, học sinh phải giải thật nhanh nhiều bài toán trong vòng một phút, cô bé làm bài quá chậm. Năm học lớp Hai, bé được chẩn bệnh là mắc ADHD.
 
Các bác sĩ và nhà nghiên cứu hiện vẫn chưa tìm được nguyên nhân chính xác gây ra ADHD. Theo giáo sư Stephen Rush, chuyên gia tâm thần học tại Đại học Cincinnati, nguyên nhân thường được cho là do yếu tố di truyền và các hoạt động diễn ra trong não bộ. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng có đến 80% người bị ADHD có những yếu tố di truyền giống nhau, rất khác so với những người không bị.
 
Các khoa học gia gần đây đã phát hiện ra não bộ của người mắc ADHD không hoạt động giống như người bình thường, đặc biệt là đối với dopaminenorepinephrine. Đây là hai chất quan trọng giúp chúng ta tỉnh táo và tập trung. Nhưng ở người mắc ADHD, dopaminenorepinephrine bị tiêu hao nhanh hơn, khiến họ rất khó tập trung, chú ý điều gì đó.
 
Dopamine giúp ta có động lực, tập trung và cảm nhận được phần thưởng,” bác sĩ Frances Javier, chuyên gia tâm thần học kiêm giám đốc y khoa tại Neuro Wellness Spa (California) giải thích. “Còn norepinephrine thì giúp ta tỉnh táo, chú ý và thấy thích thú. Hai chất này cũng là mục tiêu chính của các loại thuốc điều trị ADHD.
 
Yếu tố di truyền cũng có thể liên quan đến sự thay đổi trong não bộ khiến bệnh nhân ADHD khó kiểm soát cảm xúc và tập trung. Rush cho biết: “Cấu trúc gene trong não của chúng ta rất phức tạp. Có hàng trăm gene khác nhau, mỗi gene ảnh hưởng một phần nhỏ, và chính sự kết hợp đó, cùng với tác động của môi trường sống, góp phần làm tăng cơ nguy mắc ADHD.
 
Các nghiên cứu di truyền học mới đang dần tìm ra những gene góp phần hình thành ADHD. Một nghiên cứu đăng trên Nature Genetics đã phát hiện nhiều gene hoạt động mạnh trong giai đoạn phát triển của não bộ. Theo Sandra K. Loo, Giám đốc khoa Thần kinh Nhi khoa và Giáo sư Tâm thần học tại Trường Y Khoa David Geffen thuộc UCLA, “nhiều nghiên cứu gần đây nhận thấy có 27 biến thể gene thường gặp ở người bị ADHD. Càng có nhiều những biến thể này thì cơ nguy mắc bệnh càng cao.
 
Tuy nhiên, không phải ai bị ADHD cũng do cùng một nguyên nhân. Mỗi người đều có sự kết hợp khác nhau của nhiều yếu tố. Javier cho biết: “Gene của chúng ta chịu ảnh hưởng rất lớn từ môi trường sống và cách các gene tương tác với nhau. Vì vậy, cơ địa, mức độ tiếp xúc với hóa chất, môi trường sống xung quanh hay thói quen ăn uống đều có thể ảnh hưởng đến việc ADHD sẽ hình thành và biểu hiện ra sao.
 
Trường hợp của Chandler có vẻ là di truyền từ cha sang con, nhưng các nhà nghiên cứu cho rằng một số yếu tố trong thai kỳ hoặc sau khi vừa chào đời cũng có thể góp phần gây ra bệnh. “Có mối liên quan chặt chẽ giữa ADHD và các yếu tố như người mẹ hút thuốc, mập phì, tiền sản giật trong thai kỳ hoặc sử dụng acetaminophen. Riêng tác động của acetaminophen vẫn còn gây nhiều tranh cãi,” Rush cho hay.
 
Một nghiên cứu đăng trên Tạp chí Tâm lý và Tâm thần Trẻ em (Journal of Child Psychology and Psychiatry) cũng chỉ ra rằng nếu bị nhiễm trùng khi mang thai, nhất là khi người mẹ bị sốt, có thể làm gián đoạn sự phát triển não bộ của thai nhi. Javier chia sẻ: “Điều này cũng phần nào lý giải cho giả thuyết tại sao trẻ sinh ra vào tháng 9 về sau dễ bị mắc ADHD (thường trùng với mùa đông, khi bệnh truyền nhiễm lưu hành nhiều, mẹ dễ mắc bệnh và sốt).” Tuy nhiên, bà cũng lưu ý rằng hiện tượng này có thể bị ảnh hưởng bởi thời điểm tuyển sinh của trường học: những trẻ sinh vào cuối năm thường nhỏ tuổi nhất trong lớp và dễ bị chẩn bệnh ADHD do chậm phát triển hơn so với các bạn cùng trang lứa.
 
Ngoài các yếu tố trong thai kỳ, môi trường cũng có thể góp phần dẫn tới bệnh ADHD. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối liên quan giữa việc tiếp xúc với chì ở trẻ nhỏ và các triệu chứng của ADHD. Các hóa chất trong đồ nhựa như phthalatesbisphenol A (BPA) cũng bị nghi ngờ có liên quan. Loo cho biết: “Trong số các hóa chất độc hại, tiếp xúc với lượng chì cao có liên quan mạnh nhất với cơ nguy bị ADHD.
 
Tuy nhiên, mối quan hệ giữa các yếu tố di truyền và môi trường vẫn chưa được nghiên cứu tường tận. Theo Rush, có rất nhiều yếu tố cùng góp phần gây ra những thay đổi trong não bộ, và chúng ta gọi chung là ADHD vì những triệu chứng mà các thay đổi đó tạo ra.
 
Học cách thích nghi để sống tốt hơn
 
Với Chandler, hiểu rõ căn bệnh đã giúp anh và gia đình thích nghi dễ dàng hơn trong cuộc sống thường ngày. Anh hiện đang làm kỹ thuật viên, tận dụng sự khéo tay, tỉ mỉ trong công việc và niềm đam mê mô tô. Sau khi con gái được chẩn bệnh bị ADHD và học trong trường công được vài năm, vợ chồng anh quyết định cho bé học tại nhà. Cô bé tiến bộ rất nhanh vì được học theo tốc độ phù hợp với mình.
 
Giờ đây, cô bé đã là thiếu nữ, rất yêu thích các môn giải phẫu học và sinh học. Cô đang chuẩn bị theo học chương trình đào tạo nghề hàn, có vẻ đang đi theo con đường của cha mình. Đặc biệt, cô vừa mua chiếc mô tô đầu tiên. Chandler mỉm cười: “Dù ở trong bất kỳ nền văn hóa nào, chúng ta đều có thể góp phần giúp xã hội tiến bộ hơn, cởi mở hơn, thấu hiểu và chấp nhận mọi người sống đúng với con người thật của họ.
 
Nguồn: “How to determine if you’re at risk for adult ADHD” được đăng trên trang NationalGeographic.com.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Một loại virus hô hấp mang tên human metapneumovirus (HMPV) đang được phát hiện ở nồng độ cao trong nước thải tại nhiều cộng đồng ở Bắc California, nhưng giới y tế công cộng cho rằng chưa cần báo động, chỉ khuyến cáo người dân tăng cường phòng ngừa như với cúm mùa.
Mùa đông năm nay, nước Mỹ chứng kiến sự trở lại ầm ầm của bệnh sởi – một căn bệnh từng được coi là “gần như xóa sổ” nhờ tiêm chủng đại trà. Tâm điểm là South Carolina với gần một ngàn ca xác nhận, trong khi hàng chục bang khác lần lượt báo cáo thêm ca mới. Năm ngoái, hai trẻ em Mỹ đã chết vì sởi, cả hai đều chưa được tiêm vắc xin. Những con số này không phải ngẫu nhiên. Đó là hệ quả có thể dự đoán được từ nhiều năm tỷ lệ tiêm chủng tụt dần – và giờ được tăng tốc bởi một quyết định chính trị: “hạ cấp” lịch tiêm chủng trẻ em liên bang dưới thời Tổng thống Donald Trump và Bộ trưởng Y tế Robert F. Kennedy Jr.
Theo Sandee LaMotte, viết trên CNN mục Health ngày 25 tháng 2 năm 2026, các nhà khoa học vừa công bố một nghiên cứu cho thấy não bộ ở tuổi già vẫn có khả năng tái tạo mạnh mẽ hơn chúng ta từng nghĩ. Nghiên cứu tập trung vào một nhóm người trên 80 tuổi nhưng trí nhớ vẫn sắc bén khác thường. Giới khoa học gọi họ là “SuperAgers”. Kết quả cho thấy não của các “SuperAgers” tạo ra số tế bào thần kinh non nhiều gấp đôi so với người cao tuổi khỏe mạnh bình thường, và nhiều hơn khoảng 2,5 lần so với người mắc bệnh Alzheimer.
Mệt mỏi không đồng nghĩa với buồn ngủ. Buồn ngủ thì chỉ cần ngủ là qua. Mệt mỏi là cảm giác rã rời, cạn sức, len sâu vào sinh hoạt hằng ngày, ảnh hưởng cả thể chất, tinh thần lẫn khả năng suy nghĩ. Leorey Saligan, nhà nghiên cứu tại Đại học Rutgers, cho biết mệt mỏi không chỉ là vấn đề thân xác mà còn là trạng thái tâm lý và nhận thức. Với những người mang bệnh mãn tính như ung thư, đa xơ cứng hay hội chứng hậu COVID kéo dài, mệt mỏi là điều thường gặp. Nếu tình trạng này kéo dài nhiều tuần, cần đi khám để loại trừ các nguyên do y khoa như thiếu máu hay bệnh tim. Tuy vậy, phần lớn mọi người cũng sẽ có lúc trải qua mệt mỏi ngắn hạn vì áp lực thể xác, tinh thần hoặc cảm xúc. Khi điều đó xảy ra, các biện pháp sau đây có thể giúp.
Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) vừa chính thức từ chối thụ lý hồ sơ xin chuẩn thuận loại vắc xin cúm mới của hãng Moderna, dùng kỹ thuật mRNA – loại đầu tiên của hãng trong lãnh vực cúm mùa. Trong gần hai năm qua, Moderna và FDA trao đổi qua lại quanh kết quả thử nghiệm giai đoạn 3 của vắc xin mang mã số mRNA 1010.6, so sánh hiệu lực với các mũi chích cúm hiện đang lưu hành. Theo tường trình của Moderna, hãng đã mở một cuộc thử nghiệm lớn từ năm 2025, ghi danh trên 40.000 người trên 50 tuổi, chia nhóm: một bên chích mRNA 1010.6, bên kia chích loại Fluarix.
Vitamin D là một dưỡng chất thiết yếu, giúp cơ thể hấp thu canxi và duy trì sức khỏe xương. Tuy nhiên, khoảng một phần ba người Mỹ hiện nay bị thiếu vitamin D; trong số đó, phụ nữ chiếm tỷ lệ cao hơn. Với phụ nữ, tình trạng thiếu vitamin D không chỉ là câu chuyện của xương khớp mà còn liên quan đến nhiều mặt khác của sức khỏe. Phụ nữ có tỷ lệ loãng xương cao hơn nam giới nhiều lần. Khi thiếu vitamin D, xương dễ trở nên mềm và yếu, lâu dài dẫn đến gãy xương. Do cấu trúc xương nhỏ và mỏng hơn, phụ nữ chịu ảnh hưởng rõ rệt hơn khi thiếu dưỡng chất này. Các giai đoạn sinh học quan trọng như mang thai và sau mãn kinh càng làm nhu cầu vitamin D tăng cao.
Hãy thử tưởng tượng: một ngày nào đó, bạn vào bệnh viện vì nhiễm trùng tai do vi khuẩn, và bác sĩ nói thẳng: “Chúng tôi hết thuốc rồi.” Nghe có vẻ không tin nỗi, nhưng viễn cảnh ấy đang tiến gần hơn nhiều người nghĩ. Năm 2016, tại Nevada, một phụ nữ đã tử vong vì nhiễm trùng do một loại vi khuẩn kháng toàn bộ 26 loại kháng sinh hiện có tại Hoa Kỳ lúc bấy giờ. Riêng Hoa Kỳ mỗi năm ghi nhận hơn 2,8 triệu ca bệnh liên quan đến vi khuẩn kháng thuốc. Trên quy mô toàn cầu, kháng thuốc kháng sinh có liên quan đến gần 5 triệu ca tử vong mỗi năm. Đây không còn là chuyện hiếm, cũng không còn là cảnh báo lý thuyết.
Tổ chức American Academy of Pediatrics (AAP) vừa công bố hướng dẫn chích ngừa cho trẻ em trong năm 2026, đánh dấu lần rạn nứt lớn đầu tiên với chính phủ liên bang về lịch chích ngừa sau gần 30 năm thống nhất. Theo AAP, trẻ em Hoa Kỳ vẫn cần được chích ngừa để phòng ngừa 18 loại bệnh nguy hiểm, trong đó có Covid-19, cúm mùa, viêm gan A và B, sởi, RSV và một số bệnh truyền nhiễm khác. Hướng dẫn này đi ngược lại quyết định mới của Centers for Disease Control and Prevention (CDC), vốn đã cắt giảm lịch chích ngừa chính thức từ 18 bệnh xuống còn 11 bệnh kể từ đầu tháng Giêng.
Hàng chục ngàn người dân California thuộc tầng lớp trung lưu đang phải trả phí bảo hiểm y tế cao hơn nhiều trong năm nay, sau khi các khoản trợ cấp liên bang tăng cường theo Luật Chăm Sóc Sức Khỏe Giá Phải Chăng (Affordable Care Act, thường gọi là Obamacare) chính thức chấm dứt vào cuối năm 2025.
Có một nỗi khổ mà các bà, các cô thường phải âm thầm gánh chịu nhiều hơn các ông, đó là chứng nhức nửa đầu, hay còn gọi là migraine. Nhức đầu thì ai cũng từng bị, nhưng với nhiều phụ nữ, đây không phải chuyện đau vài tiếng rồi thôi, mà là một thứ bệnh đeo đẳng suốt nhiều năm, ảnh hưởng đến cuộc sống hằng ngày và cả công ăn việc làm.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.