Hôm nay,  

Dòng Sông Định Mệnh hay cơn lũ bi kịch? Doãn Quốc Sỹ và tiếng nói của trí thức

24/10/202500:00:00(Xem: 2755)

DQS VQHN
Ảnh: Bìa Sách Dòng Sông Định Mệnh, NXB Tự Do.
  
Nếu phải tóm tắt các tác phẩm lớn của nhà văn Doãn Quốc Sỹ (1923-2025), có thể nói rằng ông đã phản ánh nỗi lòng của người trí thức Việt Nam cùng thế hệ, là những người bước vào tuổi 20 trong thời kháng chiến, chứng kiến sự đảo lộn của xã hội. Họ đã có thể có những phản ứng, hành động trước thời cuộc đó, nhưng phần nào bất lực không ngăn chặn được những xáo trộn xảy ra chung quanh.

Truyện dài Dòng Sông Định Mệnh (1959) là một tác phẩm như thế. Ở mặt nổi, đó là một chuyện tình lãng mạn, hai người trẻ, một dòng sông. Nhưng sâu hơn, đó là bi kịch của những con người bị cắt đôi giữa lý tưởng và sự thật phũ phàng. Ở phương diện đó, Dòng Sông Định Mệnh có những chi tiết, những nhân vật hình mẫu sẽ trở lại trong bộ tiểu thuyết Khu Rừng Lau, nhất là tập Ba Sinh Hương Lửa (1962), mà ông sẽ viết sau này. 
 
Từ làng đến chiến khu: Câu chuyện dòng sông
 
Truyện mở đầu bằng chương Khúc Quành của Dòng Sông, với tuổi thơ của hai nhân vật chính, cậu bé Thiệu và cô bé Yến, bên sông Đuống. Thiệu hơn Yến hai tuổi, được mẹ Yến giao nhiệm vụ trông nom khi đi và về trường làng. Khi Thiệu 10 tuổi và Yến 8 tuổi, Thiệu liều mình cứu Yến khỏi bị nước cuốn ở bến phà, chấp nhận bị cha đánh đòn. 

Thiệu hay ra đê ngắm khúc quành của sông Đuống, hình dung cây đa làng là cây đa của Thạch Sanh. Đó là con sông của tuổi thơ.

Thiệu đậu Sơ học bổ túc và lên Bắc Ninh trọ học. Yến theo bác xuống Hà Nội học ở trường Hàng Cót. Năm 16 tuổi, Thiệu “khám phá được thêm một điều mà từ xưa Thiệu không để ý: Yến đẹp, đẹp lắm.” Thiệu viết thư tình đầu tiên cho Yến. Nhưng Yến lại nói, “Đừng anh Thiệu ạ.” Chương này Doãn Quốc Sỹ đặt tên là Con Sông Dài Đi Tìm Ánh Trăng Mười Sáu.

Năm 17 tuổi, Thiệu đậu bằng Thành Chung và ra Hà Nội trọ học. Năm sau, Yến nhận trầu cau và kết hôn với một người du học từ Pháp về. Thiệu vào trường Cao đẳng Mỹ thuật ban Hội họa để tìm cách quên đi nỗi thất tình. Đó là chương III Hai Ngả Sông Đi Về Đâu?, cũng kết thúc bằng cùng câu hỏi:
Giờ đây Thiệu với đời Yến như một dòng sông tách ra làm hai ngành cách biệt hẳn.

Hai ngành cách biệt hẳn và xa khơi...
Rồi đây hai ngả sông đi về đâu?

Vào Huế dạy học, nhưng với lý tưởng cách mạng chống Pháp, Thiệu tham gia tổng khởi nghĩa năm 1945 tại Huế và các hoạt động tuyên truyền, tình báo.

Lý tưởng và phản bội

Vào chiến khu La Chữ, Thiệu chứng kiến những điều khác hẳn với giấc mơ giải phóng dân tộc. Trong môi trường cách mạng, tinh thần tự do, nhân bản bị bóp nghẹt bởi giáo điều ý thức hệ. Thiệu sững sờ phải nghe các đồng chí nói chuyện kiểu này, trong một đoạn thoại khá dài trong truyện:

– Pasteur là một tên phản động.

Thiệu giật mình nghĩ: Quái đêm khuya thế này mà tiểu ban nghiên cứu kinh tế địch ở gian bên vẫn chưa kiểm thảo xong. Lời nói vừa rồi, Thiệu nhận ngay ra là lời của “đồng chí” trưởng tiểu ban.

Giọng “đồng chí” dằn mạnh hơn:

– Xin đồng chí nhớ cho: Pasteur là một tên phản động!
Một giọng nói dễ dàng hỏi lại mà Thiệu nhận ngay là giọng của anh cựu sinh viên năm thứ hai trường thuốc – nhân viên trong ban:
– Đồng chí cho biết vì sao mà Pasteur là một tên phản động kia chứ và như thế cả Koch cũng là một tên phản động sao?
– Phải, cả Pasteur và Koch đều phản động!
– Vì sao vậy?
– Vì tài của họ là do tư bản đế quốc nâng đỡ huấn luyện, vì họ đã đem tài đó ra để phục vụ tư bản đế quốc, Pasteur và Koch đều có tội với nhân dân.
– Thưa đồng chí tôi chỉ thấy rằng Pasteur có tội với vi trùng nói chung và Koch có tội với vi trùng lao nói riêng, vì họ đã phát minh ra cách diệt chúng để tất cả chúng ta ngày nay đều được hưởng kết quả đó.
– Đồng chí nên nhớ Pasteur và Koch là người của tư bản đế quốc!
– Nhưng lúc bấy giờ chưa có Đảng để lãnh đạo Pasteur và Koch thì lỗi đâu ở Pasteur và Koch?
– Đồng chí không bao giờ được phép quên rằng: Pasteur và Koch là người của tư bản đế quốc.

Lập luận “người của tư bản đế quốc” có thể nghe rất ngớ ngẩn, nhưng đó từng là lập luận có thật, từng được sử dụng thường xuyên. “Người của tư bản đế quốc” suy ra là phản động, chính là nền móng cho tiêu chuẩn “hồng hơn chuyên”.


Ngay cả viện dẫn “tài của họ là do tư bản đế quốc nâng đỡ huấn luyện” để hạ thấp người khác cũng từng là lý do có thật, được sử dụng trong đời thật, để hạ điểm một sinh viên chẳng hạn, với lý do sinh viên ấy chỉ giỏi do lớn lên với “bơ sữa tư bản”.

Các lập luận kiểu này rõ ràng là ngụy biện (có thể gộp chung vào genetic fallacy – ngụy biện nguồn gốc) nhưng chúng dẫn đến hai hệ quả. Thứ nhất, khó mà cãi lại. Vì cãi lại có thể bị quy vào tội bênh vực “tư bản đế quốc”. Và thứ nhì, dẫn đến chủ nghĩa lý lịch mà tới nay vẫn lan tràn khắp Việt Nam (“nhất hậu duệ, nhì quan hệ”).

Cả hai hệ quả này, một người trí thức có suy nghĩ không thể chấp nhận được.

Chính vì vậy, ngoài đời thật, Doãn Quốc Sỹ đã từng đi theo kháng chiến trong 5 năm, nhưng cuối cùng ông đã bỏ về thành.

Nhân vật Thiệu, và sau này là các nhân vật khác của Doãn Quốc Sỹ như Kha, Hiển, Miên trong Ba Sinh Hương Lửa, cũng vậy. Thiệu bỏ chiến khu, về lại Huế.

Những người theo kháng chiến nhưng thất vọng và bỏ, rất đông, và họ bị người cộng sản miêu tả bằng cụm từ miệt thị là theo cách mạng kiểu “lãng mạn tiểu tư sản”. Đại ý là không đủ cứng rắn như họ, để theo cách mạng tới cùng.

Lãng mạn tiểu tư sản
 
Người cộng sản dùng “lãng mạn tiểu tư sản” để quy kết giới trí thức đã từng theo họ, như Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Văn Cao, Quang Dũng, Nguyễn Tuân. Nhưng trên thực tế, tôi chưa tìm thấy được một định nghĩa nào, một bảng điểm nào để theo đó có thể chấm tác phẩm A, tác giả X, lãng mạn tiểu tư sản hay không. Nó như một thứ bùa để vô hiệu hóa những đóng góp xương máu mồ hôi và tuổi trẻ của những trí thức này, và bùa thì nằm trong túi nên khó biết hình dạng ra sao.

Vì không được định nghĩa rõ ràng, nên rất dễ gán cho ai thì gán. Kiểu ngụy biện này tiếng Anh có tên rất hay, là “No true Scotsman” – không phải người Scotland chân chính. “Không người Scotland chân chính nào lại cho đường vào cháo.” “Nhưng bố tôi người Scotland và ông cho đường vào cháo.” “Vậy bố chị không phải người Scotland chân chính.”

Cũng như vậy: “Cách mạng chân chính sẽ không làm thơ như Tây Tiến của Quang Dũng.” “Nhưng Quang Dũng là người của cách mạng.” “Vậy Quang Dũng không phải người cách mạng chân chính.”

Có điều là chẳng ai bận tâm gán nhãn “lãng mạn tiểu tư sản” cho những người chưa hề theo cách mạng. Và cũng chỉ có trí thức, người có viết, có vẽ, có dạy học, làm nhạc, mới bị gán nhãn “lãng mạn tiểu tư sản” chứ người khác thì không. 

Ở một mặt nào đó, cái nhãn “lãng mạn tiểu tư sản” cũng chỉ là một cách để loại trừ một tầng lớp người dựa trên xuất thân của họ. Một thể hiện khác của chủ nghĩa lý lịch. 

Lãng mạn tiểu tư sản kiểu Doãn Quốc Sỹ
 
Nếu đi kháng chiến kiểu Doãn Quốc Sỹ là lãng mạn tiểu tư sản thì trong tay Doãn Quốc Sỹ, điều đó trở thành dấu hiệu của nhân tính, của sự cảm thương, của khả năng biết thông cảm cho người khác. Như nhân vật Thiệu nhận ra trong truyện: 

Ai mà chẳng yêu Tổ quốc, yêu nhân loại vô điều kiện? Nghệ thuật chân chính mặc nhiên phải vô tư, chính trị chân chính mặc nhiên phải vươn tới chỗ vô tư… Nếu đừng quá căn cứ vào góc cạnh của tiếng nói nhân loại, thì Thiệu có thể cả quyết rằng: Chân, Thiện, Mỹ là một! 

Người ta có thể chỉ vào đấy và nói, “lãng mạn tiểu tư sản đây chứ đâu!” Nhưng đó chính là mấu chốt: nó là kết luận của một con người tử tế. 

Chính vì vậy, sau hơn nửa thế kỷ trải qua gần tất cả các biến động của lịch sử hiện đại, Dòng Sông Định Mệnh vẫn chạm đến người đọc như một lời chứng của một trí thức Việt Nam không chịu để bị tước đi phẩm giá. Doãn Quốc Sỹ đã để lại cho văn học Việt Nam một tác phẩm không chỉ mô tả bi kịch thời đại, mà còn minh chứng rằng ngay cả khi lý tưởng sụp đổ, con người vẫn có thể tìm thấy sự vô tư và phẩm giá của mình bằng những giá trị Chân, Thiện, Mỹ vĩnh cửu.
 
Vũ Quí Hạo Nhiên
 
Bài gốc tại:
 

Trong một tác phẩm cùng tựa đề, Nhà Văn Cung Tích Biền đã có lần từng ước muốn "Không nên có mặt". Tuy nhiên, như một định mệnh, ông vẫn sống, có mặt và phải chứng kiến đầy đủ mặn ngọt cuộc đời suốt hơn 90 năm như một chứng nhân của thời cuộc, của những thăng trầm, ly loạn của đất nước. Cuộc chiến Việt Nam từ giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp cho tới khi đất nước thống nhất mất 30 năm, thế mà ông văn nghiệp của ông đã kéo dài tới 65 năm. Có thể nói, ông là một nhà văn viết lâu, viết khoẻ và cũng là một chứng nhân giữa cuộc phong ba, khắc nghiệt của nước nhà. Bất kể bạn đồng ý hay không với những gì ông viết, bạn cứ đọc ông bạn sẽ hiểu rõ thân phận lạc loài của con người đứng giữa lằn ranh cuộc chiến. Bao nhiêu người bị chi phối trực hay gián tiếp trong cuộc tranh chấp máu lửa tương tàn, bị cắt đứt gốc rễ với quá khứ, không tìm thấy mục đích ở hiện tại và mơ hồ trước tương lai.
Đa số người Việt thích viết và đọc thơ tình vì khi đối diện với nghệ thuật, chúng ta thích thú bằng cảm tính. Chúng ta không mấy quan tâm về việc sử dụng học thuật để sáng tạo hoặc thưởng thức bài thơ, mà dùng học thuật sẵn có trong truyền thống như mượn thuyền sang sông. Ưu điểm là chúng ta có nhiều bài thơ tình, thơ cảm tính đặc sắc. Khuyết điểm là thơ chúng ta không theo kịp khả năng phát triển của thơ thế giới nói chung và thơ Tây phương nói riêng.
Đúng 1 giờ trưa thứ Năm, giờ Stockholm, Viện Hàn Lâm Thụy Điển công bố quyết định trao giải Nobel Văn Chương năm nay cho Anne Carson, người phụ nữ thứ 19 nhận được vinh dự này. Trong lời tuyên dương, Viện Hàn Lâm Thụy Điển vinh danh bà: “Vì sự nghiệp sáng tác táo bạo, độc đáo, qua cuộc đối thoại tài tình và dí dỏm với truyền thống văn chương cổ điển, đã khai mở những hình thức biểu đạt mới cho văn học đương đại.”
Trước tiên là chuyện cá độ văn học. Bởi vì người dám đưa tiền ra cá độ, hẳn là có lý do họ tin rất mực. Nếu nhìn vào các thị trường dự đoán và nhà cái về giải văn học trong những ngày trước mùa Nobel 2026, chưa có ứng viên nào vượt trội tuyệt đối. Nobel Văn học vẫn là giải khó đoán nhất vì Viện Hàn lâm Thụy Điển thường gây bất ngờ. Tuy nhiên, một số tên tuổi được nhắc đến nhiều nhất hiện nay.
Cầm bút để viết lên những ước mơ sẽ không còn tiếng súng trên đời này. Đó là những gì đẹp nhất một nhà văn có thể nói lên. Ngưng chiến tranh. Chúng ta tránh nói chữ “phản chiến,” một chữ quá quen thuộc có khi được dùng cho những nghĩa đen tối. Chúng ta muốn nói tới ước mơ không còn tiếng súng. Nơi đó, không ai còn phải giết nhau. Bao giờ thì biên giới sắc tộc, quốc gia và kỳ thị tôn giáo ngưng thúc đẩy nhân loại giết nhau? Bao giờ các chàng trai sẽ không còn phải chết cho tham vọng của các lãnh tụ? Bao giờ thế giới sẽ không còn các quả phụ trẻ, và bao giờ các em vị thành niên sẽ không còn phải học cách giết nhau? Trong dòng chảy văn học thế giới, những tác phẩm có giá trị bền vững nhất luôn luôn phải là văn học kêu gọi ngưng tiếng súng. Đó là những tiếng nói đứng về phía con người, không phục vụ bạo lực hay quyền lực.
Không phải tác phẩm ở một bên và cuộc đời ở một bên, rồi ta cố tìm vài chiếc cầu cho chúng gặp nhau. Có thể đơn giản hơn: người viết đem vào câu chữ chính cái con người đã sống, đã chịu đựng, đã nhìn, đã sai, đã mất, đã tìm đường trở lại với mình. Văn chương nếu có sức nặng lâu dài, đôi khi không phải vì nhà văn đứng cao hơn cuộc đời, mà vì họ đã đi đủ sâu vào nó mà vẫn còn mang được một cái gì đó trở ra.
Phát biểu của Trịnh Y Thư nhân buổi lễ Tưởng niệm 50 năm ngày qua đời của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, ngày 20 tháng 9 năm 2026 tại Quận Cam, California.
Trên thế gian này, không người nào không muốn có được cuộc sống hạnh phúc. Điều này cho thấy một sự thật khó chối cãi rằng là ai cũng đã từng trải nghiệm sự đau khổ trong đời mình! Hay nói cách khác, khổ đau là sự thật phổ quát ở trên đời. Chính vì vậy, tất cả mọi người đều mưu cầu hạnh phúc. Các nhà lập quốc Hoa Kỳ đã nhìn thấu rõ được sự thật ấy cho nên đã viết trong Tuyên Ngôn Độc Lập của nước Mỹ (The United States Declaration of Independence) rằng: “Chúng tôi giữ gìn những sự thật hiển nhiên này, rằng tất cả con người đều được tạo ra bình đẳng, rằng họ được Tạo Hóa ban cho một số quyền bất khả chuyển nhượng, rằng trong số những quyền này là quyền Sống, Tự Do và mưu cầu Hạnh Phúc.”
Đàn ông đòi hỏi gì ở phụ nữ? Những nét đặc trưng của Ham Muốn được Thỏa Mãn.Phụ nữ đòi hỏi gì ở đàn ông? Những nét đặc trưng của Ham Muốn được Thỏa Mãn. William Blake không đặt câu hỏi rộng, ông giới hạn lại trong cụm từ “đặc trưng,” Trong câu thơ của Blake, "the lineaments of Gratified Desire" được dịch là "những nét đặc trưng của ham muốn được thỏa mãn". Từ "lineaments" trong tiếng Anh vốn nghĩa gốc là những đường nét trên khuôn mặt, những đặc điểm hình thể có thể nhìn thấy được, giống như khi ta nói "gương mặt có những đường nét thanh tú". Blake không nói ham muốn được thỏa mãn một cách trừu tượng, mà nói đến những dấu vết cụ thể, có thể nhìn thấy được trên gương mặt hay dáng vẻ của một người, khi ham muốn của họ đã được đáp ứng. Và từ neo là “đòi hỏi.” Đòi hỏi là nhu cầu, không phải ước mơ, không phải là cầu xin. Điều này cho rõ là đàn ông và phụ nữ cần nhau vì có nhu cầu đòi hỏi Blake đặt câu hỏi rồi tự trả lời. Hai câu trả lời giống hệt nhau, không phân biệt nam hay nữ. Bài thơ
Buổi sáng ngày cuối cùng của tháng 8, một thanh niên 20 tuổi tên Pierre Damas Bel đậu chiếc Toyota bên xa lộ Interstate 70, ngoại ô Springfield, Ohio. Cậu bước ra khỏi xe, điềm nhiên bước thẳng vào làn xe đang lao tới. Vài phút sau, câu chuyện của cậu xuất hiện trên khắp báo đài nước Mỹ, đất nước cậu đặt chân đến năm 2024, sum họp với cha mẹ của mình – những di dân chạy trốn nạn bạo lực băng đảng ở Haiti. Pierre vừa tốt nghiệp trung học được vài tuần. Cậu từng là cầu thủ đội bóng đá của trường, từng được vinh danh trong chương trình JROTC, và mùa Thu này lẽ ra đã bước chân vào đại học Wright State, ấp ủ giấc mơ trở thành bác sĩ. Đầu mùa Hè này, sau khi Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ (TCPV) mở đường cho chính quyền Donald Trump chấm dứt quy chế Bảo Vệ Tạm Thời (TPS) dành cho người Haiti, cơ quan di trú gắn lên chân cậu một chiếc vòng theo dõi GPS. Cậu nói với người thân rằng nó khiến cậu cảm thấy mình như một con vật.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.