Hôm nay,  

Dòng Sông Định Mệnh hay cơn lũ bi kịch? Doãn Quốc Sỹ và tiếng nói của trí thức

24/10/202500:00:00(Xem: 2341)

DQS VQHN
Ảnh: Bìa Sách Dòng Sông Định Mệnh, NXB Tự Do.
  
Nếu phải tóm tắt các tác phẩm lớn của nhà văn Doãn Quốc Sỹ (1923-2025), có thể nói rằng ông đã phản ánh nỗi lòng của người trí thức Việt Nam cùng thế hệ, là những người bước vào tuổi 20 trong thời kháng chiến, chứng kiến sự đảo lộn của xã hội. Họ đã có thể có những phản ứng, hành động trước thời cuộc đó, nhưng phần nào bất lực không ngăn chặn được những xáo trộn xảy ra chung quanh.

Truyện dài Dòng Sông Định Mệnh (1959) là một tác phẩm như thế. Ở mặt nổi, đó là một chuyện tình lãng mạn, hai người trẻ, một dòng sông. Nhưng sâu hơn, đó là bi kịch của những con người bị cắt đôi giữa lý tưởng và sự thật phũ phàng. Ở phương diện đó, Dòng Sông Định Mệnh có những chi tiết, những nhân vật hình mẫu sẽ trở lại trong bộ tiểu thuyết Khu Rừng Lau, nhất là tập Ba Sinh Hương Lửa (1962), mà ông sẽ viết sau này. 
 
Từ làng đến chiến khu: Câu chuyện dòng sông
 
Truyện mở đầu bằng chương Khúc Quành của Dòng Sông, với tuổi thơ của hai nhân vật chính, cậu bé Thiệu và cô bé Yến, bên sông Đuống. Thiệu hơn Yến hai tuổi, được mẹ Yến giao nhiệm vụ trông nom khi đi và về trường làng. Khi Thiệu 10 tuổi và Yến 8 tuổi, Thiệu liều mình cứu Yến khỏi bị nước cuốn ở bến phà, chấp nhận bị cha đánh đòn. 

Thiệu hay ra đê ngắm khúc quành của sông Đuống, hình dung cây đa làng là cây đa của Thạch Sanh. Đó là con sông của tuổi thơ.

Thiệu đậu Sơ học bổ túc và lên Bắc Ninh trọ học. Yến theo bác xuống Hà Nội học ở trường Hàng Cót. Năm 16 tuổi, Thiệu “khám phá được thêm một điều mà từ xưa Thiệu không để ý: Yến đẹp, đẹp lắm.” Thiệu viết thư tình đầu tiên cho Yến. Nhưng Yến lại nói, “Đừng anh Thiệu ạ.” Chương này Doãn Quốc Sỹ đặt tên là Con Sông Dài Đi Tìm Ánh Trăng Mười Sáu.

Năm 17 tuổi, Thiệu đậu bằng Thành Chung và ra Hà Nội trọ học. Năm sau, Yến nhận trầu cau và kết hôn với một người du học từ Pháp về. Thiệu vào trường Cao đẳng Mỹ thuật ban Hội họa để tìm cách quên đi nỗi thất tình. Đó là chương III Hai Ngả Sông Đi Về Đâu?, cũng kết thúc bằng cùng câu hỏi:
Giờ đây Thiệu với đời Yến như một dòng sông tách ra làm hai ngành cách biệt hẳn.

Hai ngành cách biệt hẳn và xa khơi...
Rồi đây hai ngả sông đi về đâu?

Vào Huế dạy học, nhưng với lý tưởng cách mạng chống Pháp, Thiệu tham gia tổng khởi nghĩa năm 1945 tại Huế và các hoạt động tuyên truyền, tình báo.

Lý tưởng và phản bội

Vào chiến khu La Chữ, Thiệu chứng kiến những điều khác hẳn với giấc mơ giải phóng dân tộc. Trong môi trường cách mạng, tinh thần tự do, nhân bản bị bóp nghẹt bởi giáo điều ý thức hệ. Thiệu sững sờ phải nghe các đồng chí nói chuyện kiểu này, trong một đoạn thoại khá dài trong truyện:

– Pasteur là một tên phản động.

Thiệu giật mình nghĩ: Quái đêm khuya thế này mà tiểu ban nghiên cứu kinh tế địch ở gian bên vẫn chưa kiểm thảo xong. Lời nói vừa rồi, Thiệu nhận ngay ra là lời của “đồng chí” trưởng tiểu ban.

Giọng “đồng chí” dằn mạnh hơn:

– Xin đồng chí nhớ cho: Pasteur là một tên phản động!
Một giọng nói dễ dàng hỏi lại mà Thiệu nhận ngay là giọng của anh cựu sinh viên năm thứ hai trường thuốc – nhân viên trong ban:
– Đồng chí cho biết vì sao mà Pasteur là một tên phản động kia chứ và như thế cả Koch cũng là một tên phản động sao?
– Phải, cả Pasteur và Koch đều phản động!
– Vì sao vậy?
– Vì tài của họ là do tư bản đế quốc nâng đỡ huấn luyện, vì họ đã đem tài đó ra để phục vụ tư bản đế quốc, Pasteur và Koch đều có tội với nhân dân.
– Thưa đồng chí tôi chỉ thấy rằng Pasteur có tội với vi trùng nói chung và Koch có tội với vi trùng lao nói riêng, vì họ đã phát minh ra cách diệt chúng để tất cả chúng ta ngày nay đều được hưởng kết quả đó.
– Đồng chí nên nhớ Pasteur và Koch là người của tư bản đế quốc!
– Nhưng lúc bấy giờ chưa có Đảng để lãnh đạo Pasteur và Koch thì lỗi đâu ở Pasteur và Koch?
– Đồng chí không bao giờ được phép quên rằng: Pasteur và Koch là người của tư bản đế quốc.

Lập luận “người của tư bản đế quốc” có thể nghe rất ngớ ngẩn, nhưng đó từng là lập luận có thật, từng được sử dụng thường xuyên. “Người của tư bản đế quốc” suy ra là phản động, chính là nền móng cho tiêu chuẩn “hồng hơn chuyên”.


Ngay cả viện dẫn “tài của họ là do tư bản đế quốc nâng đỡ huấn luyện” để hạ thấp người khác cũng từng là lý do có thật, được sử dụng trong đời thật, để hạ điểm một sinh viên chẳng hạn, với lý do sinh viên ấy chỉ giỏi do lớn lên với “bơ sữa tư bản”.

Các lập luận kiểu này rõ ràng là ngụy biện (có thể gộp chung vào genetic fallacy – ngụy biện nguồn gốc) nhưng chúng dẫn đến hai hệ quả. Thứ nhất, khó mà cãi lại. Vì cãi lại có thể bị quy vào tội bênh vực “tư bản đế quốc”. Và thứ nhì, dẫn đến chủ nghĩa lý lịch mà tới nay vẫn lan tràn khắp Việt Nam (“nhất hậu duệ, nhì quan hệ”).

Cả hai hệ quả này, một người trí thức có suy nghĩ không thể chấp nhận được.

Chính vì vậy, ngoài đời thật, Doãn Quốc Sỹ đã từng đi theo kháng chiến trong 5 năm, nhưng cuối cùng ông đã bỏ về thành.

Nhân vật Thiệu, và sau này là các nhân vật khác của Doãn Quốc Sỹ như Kha, Hiển, Miên trong Ba Sinh Hương Lửa, cũng vậy. Thiệu bỏ chiến khu, về lại Huế.

Những người theo kháng chiến nhưng thất vọng và bỏ, rất đông, và họ bị người cộng sản miêu tả bằng cụm từ miệt thị là theo cách mạng kiểu “lãng mạn tiểu tư sản”. Đại ý là không đủ cứng rắn như họ, để theo cách mạng tới cùng.

Lãng mạn tiểu tư sản
 
Người cộng sản dùng “lãng mạn tiểu tư sản” để quy kết giới trí thức đã từng theo họ, như Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Văn Cao, Quang Dũng, Nguyễn Tuân. Nhưng trên thực tế, tôi chưa tìm thấy được một định nghĩa nào, một bảng điểm nào để theo đó có thể chấm tác phẩm A, tác giả X, lãng mạn tiểu tư sản hay không. Nó như một thứ bùa để vô hiệu hóa những đóng góp xương máu mồ hôi và tuổi trẻ của những trí thức này, và bùa thì nằm trong túi nên khó biết hình dạng ra sao.

Vì không được định nghĩa rõ ràng, nên rất dễ gán cho ai thì gán. Kiểu ngụy biện này tiếng Anh có tên rất hay, là “No true Scotsman” – không phải người Scotland chân chính. “Không người Scotland chân chính nào lại cho đường vào cháo.” “Nhưng bố tôi người Scotland và ông cho đường vào cháo.” “Vậy bố chị không phải người Scotland chân chính.”

Cũng như vậy: “Cách mạng chân chính sẽ không làm thơ như Tây Tiến của Quang Dũng.” “Nhưng Quang Dũng là người của cách mạng.” “Vậy Quang Dũng không phải người cách mạng chân chính.”

Có điều là chẳng ai bận tâm gán nhãn “lãng mạn tiểu tư sản” cho những người chưa hề theo cách mạng. Và cũng chỉ có trí thức, người có viết, có vẽ, có dạy học, làm nhạc, mới bị gán nhãn “lãng mạn tiểu tư sản” chứ người khác thì không. 

Ở một mặt nào đó, cái nhãn “lãng mạn tiểu tư sản” cũng chỉ là một cách để loại trừ một tầng lớp người dựa trên xuất thân của họ. Một thể hiện khác của chủ nghĩa lý lịch. 

Lãng mạn tiểu tư sản kiểu Doãn Quốc Sỹ
 
Nếu đi kháng chiến kiểu Doãn Quốc Sỹ là lãng mạn tiểu tư sản thì trong tay Doãn Quốc Sỹ, điều đó trở thành dấu hiệu của nhân tính, của sự cảm thương, của khả năng biết thông cảm cho người khác. Như nhân vật Thiệu nhận ra trong truyện: 

Ai mà chẳng yêu Tổ quốc, yêu nhân loại vô điều kiện? Nghệ thuật chân chính mặc nhiên phải vô tư, chính trị chân chính mặc nhiên phải vươn tới chỗ vô tư… Nếu đừng quá căn cứ vào góc cạnh của tiếng nói nhân loại, thì Thiệu có thể cả quyết rằng: Chân, Thiện, Mỹ là một! 

Người ta có thể chỉ vào đấy và nói, “lãng mạn tiểu tư sản đây chứ đâu!” Nhưng đó chính là mấu chốt: nó là kết luận của một con người tử tế. 

Chính vì vậy, sau hơn nửa thế kỷ trải qua gần tất cả các biến động của lịch sử hiện đại, Dòng Sông Định Mệnh vẫn chạm đến người đọc như một lời chứng của một trí thức Việt Nam không chịu để bị tước đi phẩm giá. Doãn Quốc Sỹ đã để lại cho văn học Việt Nam một tác phẩm không chỉ mô tả bi kịch thời đại, mà còn minh chứng rằng ngay cả khi lý tưởng sụp đổ, con người vẫn có thể tìm thấy sự vô tư và phẩm giá của mình bằng những giá trị Chân, Thiện, Mỹ vĩnh cửu.
 
Vũ Quí Hạo Nhiên
 
Bài gốc tại:
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tình hình chiến tranh bây giờ khó làm chúng ta hình dung về một Iran cổ đại nơi được nghe kể về những cổ tích thơ mộng, nơi các nhân vật mang tâm hồn Bồ Tát bước ra từ sương khói của truyện Ngàn Lẻ Một Đêm. Chúng ta cũng sẽ kinh ngạc khi nhớ rằng lịch sử đã từng có các nhà thơ sáng tác trong ngôn ngữ Ba Tư cổ đại (Persian: Farsi), tiền thân của tiếng Iran hiện nay, hay và thâm sâu tới mức không dễ có bao nhiêu thi sĩ hiện nay bước tới mép bờ giấy mực của họ. Và bạn sẽ thấy truyện võ hiệp Kim Dung cũng đã từng lấy một mảng Minh Giáo của Iran cổ đại rất mực từ bi và khắt khe – nơi tu sĩ phải sống độc thân, khổ hạnh, bất bạo động, ăn chay, không rượu thịt -- để chế biến thành cảm hứng văn học, nơi các truyền nhân đều lãng mạn và võ học phi thường như Trương Vô Kỵ, Dương Tiêu...
Trong đời sống này, có lắm nẻo để trở thành một người “khó chịu”. Người ta có thể đòi hỏi quá nhiều, có thể bất tiện, ương ngạnh, rắc rối, lắm điều, khó hiểu, như một bản văn không sao đọc được. Ở giao điểm của mọi kiểu “khó” ấy, có một thân phận: người đàn bà da đen. Tôi có cảm giác mình biết điều đó từ rất sớm; chữ “khó chịu” đã gắn với tôi nhiều lần hơn là tôi có thể đếm. Nhưng phải đến khi gặp Toni Morrison – gặp tác phẩm và giọng nói của bà – tôi mới bắt đầu nhận ra, mới lần dò được ý nghĩa, cũng như công dụng, của cái “khó” trong chính mình.
Giải Văn Việt lần thứ Mười Một, năm 2025, thể loại Nghiên cứu Phê bình đã được công bố hôm 3/3/2026: Nhà phê bình Tino Cao. Trong tư cách là một trong năm thành viên Ban Xét giải, tôi xin có đôi điểu nhận xét đơn sơ về nhà phê bình Tino Cao...
Tình yêu đúng có lẽ là thứ không ai định nghĩa được trọn vẹn, bởi mỗi trái tim đập theo nhịp riêng, mỗi linh hồn khao khát theo cách riêng. Nhưng có điều gì đó huyền bí trong khoảnh khắc hai người gặp nhau, khi ánh mắt chạm ánh mắt, khi giọng nói làm rung động một sợi dây nào đó sâu trong lồng ngực. Người ta gọi đó là pháp thuật ái tình, nhưng khoa học lại nói đó chỉ là dopamine, oxytocin, serotonin đang chơi trò ma thuật với não bộ. Cả hai đều đúng và cả hai đều thiếu sót. Phản ứng hóa học thực sự xảy ra, những chất dẫn truyền thần kinh bùng nổ như pháo hoa trong đầu, khiến ta mất ngủ, mất ăn, mất cả lý trí. Nhưng gọi tình yêu chỉ là hóa học thì giống như gọi bản giao hưởng Beethoven chỉ là sóng âm. Có gì đó nhiều hơn thế, có cả lịch sử cá nhân, nỗi cô đơn tích tụ, khát vọng được thấu hiểu, ước mơ về sự kết nối hoàn hảo. Tình yêu si mê chính là lúc tất cả những thứ này giao hòa, khi ta tin rằng đã tìm thấy mảnh ghép còn thiếu của linh hồn mình.
Ông James Duffy cư ngụ ở Chapelizod vì ông muốn sống càng xa càng tốt thành phố nơi ông là một công dân, và trong mắt ông, tất cả các vùng ngoại ô khác của Dublin đều chẳng dễ chịu, yên ả tí nào, trông nó mới mẻ một cách lố bịch, lại còn để lộ bộ mặt khoa trương một cách giả tạo...
Thỉnh thoảng, chúng ta nghe lời chúc nhau rằng hãy đi như một dòng sông. Lời nghe như thơ, và như dường mang ẩn nghĩa, vì bước đi trong đời người không thể là một dòng sông. Bởi vì bước đi luôn luôn là một lựa chọn giữa những hướng đi, trong khi dòng sông, hay dòng nước luôn luôn là một hướng chảy từ trên cao xuống, lan tỏa, và không phân biệt. Vì nước tự thân là hòa hài với tất cả những gì chung quanh.
Công án Thiền là gì? Có lẽ đây là câu hỏi đầu tiên mà độc giả bài này muốn có câu trả lời để biết trước khi có thể đọc tiếp. Một cách tóm lược và đơn giản, công án Thiền là những lời chỉ dạy của một thiền sư dành cho một đệ tử trong một hoàn cảnh đặc biệt nào đó để vị đệ tử này dùng lời chỉ dạy ấy như một pháp quán để ngộ hay kiến tánh. Trong Thiền Tông Trung Hoa có khoảng 1,700 công án được tích tập bởi những lời dạy của nhiều thiền sư qua các thế hệ. Nhiều vị học Thiền không có cơ duyên thân cận với một bậc Thầy đắc đạo để nhận sự chỉ giáo trực tiếp thì dùng một trong các công án này để tự mình kiến tánh. Nói cho đúng ra, tất cả công án Thiền chỉ có một mục đích duy nhất là làm sạch tạp niệm trong tâm của người tu để khi tâm đạt đến tình trạng tĩnh lặng tuyệt đối thì trí tuệ rốt ráo bừng sáng và có thể thấy tánh. Giống như khi mặt nước lắng trong thì mặt trăng hiện nguyên hình. Vì vậy, quán công án Thiền không phải để tìm câu giải đáp bí ẩn nào đó nằm trong công án ấy mà để tẩy sạch
Trong cõi văn của Phan Tấn Hải, không có cao trào, cũng không có bi kịch. Ông viết như người điềm nhiên ngồi bên dòng nước, không đuổi theo và cũng không muốn chạm vào tốc độ- để chữ nghĩa tự sinh tự diệt trong từng khoảnh khắc, nơi con người đối diện với những thứ bình thường đến một lần trong đời: một căn gác khuya vắng, một cuốn sách mở dở, một cuộc trò chuyện nửa chừng, một khung cửa mở ra buổi sớm đầy bóng nắng, những tiểu tiết ấy làm nên thế giới mùi hương — giản dị nhưng thâm trầm, đời thường với nhiều tầng bóng lá.
Những ngày cuối đời, Ernest Hemingway sống trong một vòng tròn khép kín của ảo giác, hoang tưởng và trầm uất. Nhưng giữa bóng tối ấy vẫn lóe lên một câu chữ nhỏ, viết cho một nữ tu ở Minnesota. Cuối năm 1960, ông vào Saint Marys, bệnh viện thuộc hệ thống Mayo Clinic do các nữ tu Dòng Thánh Phanxicô điều hành. Ở đó, một toán y tá Công giáo chăm sóc ông, trong đó có Sister Immaculata – Helen Hayes – một y tá tâm thần hiền hòa, sau này sơ trở thành tuyên úy.
Thảo Trường kể chuyện rất tỉnh. Ông không cần tố cáo, không cần gào thét. Chỉ tả: ban ngày, những đứa lớn chơi trò “cai tù” — đứa bắt, đứa bị bắt; quát tháo, tra hỏi, úp mặt vào tường. Tất cả đều học từ người lớn quanh mình. Những đứa còn nhỏ, chưa biết đi, ngồi nhìn. Có bà mẹ mang thai bị đánh đến sẩy thai, sinh con trong tù. Sinh xong, gửi con vào nhà trẻ để quay lại “lao động tốt”. Sáng, bọn nhỏ chạy theo cô giáo sang nhà trẻ để có ăn. Tối, chạy về khu B để kịp chỗ ngủ cạnh mẹ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.