Hôm nay,  

Người đàn bà bí ẩn trong trái tim Beethoven

14/11/202500:00:00(Xem: 1134)

bethoven
Người đời thường nói Beethoven cô độc trong tình yêu, nhưng cái chết của ông không khép lại trái tim ấy. Giữa đống giấy tờ trong ngăn bàn của thiên tài điếc, người ta tìm thấy một bức thư tình chưa gửi – ngọn lửa còn cháy dở của một cuộc tình bị giấu kín.

Bức thư không đề tên người nhận. Chỉ có mấy chữ run rẩy: “Gửi người yêu bất tử.”

“Anh chỉ có thể sống trọn vẹn bên em, hoặc không sống gì cả... Anh sẽ lang thang mãi cho đến khi được bay về với vòng tay em.”

Từ hơn hai thế kỷ nay, bức thư ấy vẫn làm say mê bao thế hệ học giả, nhạc sĩ, đạo diễn và người yêu nhạc. Ai là “người yêu bất tử” mà Beethoven viết cho trong tuyệt vọng và lửa cháy cùng lúc như thế?

Từ khúc nhạc đến khúc tình

Khi Beethoven qua đời ngày 26 tháng 3 năm 1827, không có một người vợ, chỉ có đám đông tiễn biệt ông giữa mưa lạnh Vienna. Nhưng trong ngăn bàn của ông, người thư ký Anton Schindler đã tìm thấy bức thư viết tay, lẫn trong giấy tờ nhạc. Từng dòng như một bản sonata của khát vọng: thiết tha, phức điệu, và bị kìm nén đến tận cùng.

Các nhà nghiên cứu đoán thư được viết tháng 7 năm 1812 – đúng lúc Beethoven ở Praha rồi sang Teplitz, một thị trấn suối khoáng ở Tiệp Khắc. Có lẽ ông và người đàn bà kia đã có một đêm nồng cháy ở Praha, rồi phải chia tay. Nàng sang Karlsbad, ông sang Teplitz. Và rồi bức thư ra đời – những lời yêu của kẻ không được phép yêu.

Beethoven hỏi: “Sao em không hoàn toàn là của anh, anh không hoàn toàn là của em?” – câu hỏi chỉ có thể bật ra giữa hai người bị ràng buộc. Phần lớn học giả tin nàng là người đã có chồng.

Hai cái tên giữa cơn mộng

Trong suốt hai thế kỷ, có ít nhất mười ba người phụ nữ từng được nhắc đến. Nhưng cuối cùng, hai cái tên vẫn đứng lại trong vòng nghi ngờ: Antonie Brentano và Josephine Brunsvik.

Antonie – sinh năm 1780, vợ của nhà buôn giàu Franz Brentano – quen Beethoven năm 1810. Gia đình bà là bạn và cũng là người bảo trợ tài chính của ông. Trong thư gửi người thân, Antonie từng viết rằng bà “tôn kính Beethoven như một vị thần giữa loài người.”

Nhiều học giả tin Antonie chính là “người yêu bất tử”: bà có mặt ở Praha trước khi đến Karlsbad đúng thời điểm lá thư được viết, và là phụ nữ đã có chồng – một rào cản hoàn hảo cho một mối tình tội lỗi. Nhà nghiên cứu Maynard Solomon từng nói: “Tình yêu của Beethoven dành cho Antonie là cuộc chiến giữa trái tim và lòng trung tín với bạn.”


Nhưng vẫn còn một người khác – Josephine Brunsvik.

Josephine là học trò piano của Beethoven, quen ông từ năm 1799, và khi trở thành góa phụ trẻ, giữa họ nảy sinh một mối tình lặng lẽ. Từ 1805 đến 1807, họ trao nhau 14 bức thư yêu, trong đó Beethoven đã gọi nàng bằng chính những từ sau này lặp lại trong bức thư bất tử: “Thiên thần của anh”, “Người yêu dấu của anh.”

Nhiều bản nhạc mang dấu ấn của Josephine – như khúc Andante favori, nơi giai điệu mở đầu nghe như lời thì thầm của tên nàng. Nhà nghiên cứu Rita Steblin từng tìm thấy nhật ký và thư từ cho thấy Josephine chính là người được nhắc đến trong lá thư năm 1812: một phụ nữ quý tộc, đã kết hôn, ở Praha đúng thời điểm ấy.

Và còn một chi tiết khiến nhiều người không dám gạt bỏ giả thuyết ấy: tháng 4 năm 1813, chín tháng sau đêm Praha định mệnh, Josephine sinh một bé gái – Minona von Stackelberg. Đứa trẻ được ghi là con của người chồng hợp pháp, nhưng cũng có thể là máu thịt của Beethoven.

Tên “Minona,” theo Steblin, mang ý nghĩa tượng trưng: nàng là “con gái của người nhạc sĩ” trong các thi phẩm của thi sĩ Ossian – người Beethoven yêu thích nhất.

Nếu thử nghiệm di truyền từ tóc của Beethoven – vốn được bảo tồn và phân tích năm 2023 – trùng khớp với hài cốt của Minona, câu chuyện tình lớn nhất trong đời ông sẽ có hồi kết. Nhưng luật pháp Áo và Đức nghiêm ngặt về việc khai quật mộ, nên bí mật ấy có thể sẽ ngủ yên mãi trong lòng đất.

Âm vang của một linh hồn cô độc

Dù người đàn bà ấy là Antonie hay Josephine, điều chắc chắn là: Beethoven đã yêu đến tận cùng, và thất tình cũng đến tận cùng. Bức thư ấy không chỉ là lời tỏ tình, mà còn là bi kịch của một thiên tài: kẻ chỉ biết trút nỗi khao khát vào nhạc, vì đời thật không dung nổi mối tình của ông.

“Người yêu bất tử” – chỉ ba chữ, nhưng qua đó, ta thấy một Beethoven khác: không phải tượng đài lạnh lùng, mà là một người đàn ông biết run rẩy, biết đau, biết yêu say đắm như ai.

Và chính từ nỗi đau đó, những bản nhạc của ông – Sonata Ánh Trăng, Bản Giao hưởng Thứ Chín, Fidelio – vẫn ngân vang như tiếng thở dài không dứt của trái tim ông gửi cho một người đàn bà không bao giờ được gọi tên.

Cung Mi sưu tầm và biên dịch
Nguồn: Theo bài viết của Parissa Djangi – tạp chí National Geographic, số ngày 7 tháng 11, 2025.
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Ngôn ngữ, chữ viết là một trong những phát minh quan trọng vào bậc nhất của nhân loại. Ngôn ngữ phát triển như một kết quả tất yếu của sự tiến hóa văn hóa xã hội. Mỗi ngôn ngữ phản ánh lịch sử, môi trường và nhu cầu giao tiếp của cộng đồng sử dụng nó. Còn chữ viết giúp lưu trữ tri thức, lịch sử, văn hóa. Chữ viết dẫn đến sự ra đời của văn chương, thi ca, một kho báu vô giá của loài người. Thế nhưng, không phải lúc nào ngôn ngữ cũng thành công trong nhiệm vụ truyền tải thông điệp. Có những trường hợp, ngôn ngữ trở nên bất lực.
Trong những ngày phong tỏa vì Covid-19 năm 2020, tại thị trấn Zutphen, miền đông Hòa Lan, bà Charlotte Meyer vô tình mở lại một ngăn kéo cũ trong nhà – và bất ngờ đánh thức một “kho tàng” mỹ thuật đã ngủ quên gần một thế kỷ: 35 bản khắc kim nguyên bản của Rembrandt van Rijn. Tập tranh khắc này vốn do ông nội bà, một nhà sưu tầm nghiệp dư, mua dần dần trong khoảng từ 1900 đến 1920 với giá chỉ vài đồng guilder mỗi tờ, vào thời mà tranh in chưa được xem là thứ nghệ thuật đáng kể, rồi được gói ghém lại như một thứ kỷ vật gia đình và dần rơi vào quên lãng.
Giữa ánh đèn vàng ấm của những quán cà phê “Jazz Kissa” tại Nhật Bản, một lớp người mê đĩa nhựa đang gìn giữ một cách thưởng thức âm nhạc mà thời đại ồn ào hôm nay gần như đã quên: ngồi lại với nhau, và nghe cho trọn. Một chiều thứ Bảy, chúng tôi len qua những con hẻm nhỏ của khu Shimokitazawa ở Tokyo – nơi áo thun cũ treo đầy cửa tiệm, mùi cà ri từ quán ăn bình dân lan ra ngoài phố – để tìm một quán chỉ thấy trên mạng. Khi nhận ra tấm bảng nhỏ treo kín đáo, chúng tôi bước lên cầu thang hẹp, gõ nhẹ cánh cửa không cửa sổ, rồi bước vào một căn phòng ốp gỗ ấm áp, treo rèm hạt và bức tranh vẽ nữ nghệ sĩ harp Alice Coltrane.
Ngựa là một hình ảnh rất gần với chúng ta, ngay cả trong đời thường, bất kể thực tế rằng không còn bao nhiêu quốc gia dùng ngựa để kéo xe nữa. Tuy nhiên, bạn thử ngó lên tường, hay mở ra một vài truyện cổ, hay các trang thơ xưa, gần như lúc nào cũng có thể gặp hình ảnh con ngựa. Dĩ niên, năm tới là năm con ngựa. Nhưng trước giờ, trong sách sử, vẫn có Thánh Gióng bay mãi trong truyện cổ tích Việt Nam với ngựa sắt. Ngựa đã gắn liền với lịch sử Việt Nam như thế. Đó là ngựa sắt, vậy mà bay được ra trận, chở được cậu bé Phù Đổng Thiên Vương nhổ gốc tre khổng lồ, phi ngựa như giông bão, ào ạt càn quét quân Bắc phương ra khỏi bờ cõi nước Nam. Trong ký ức đời thường, đối với dân Sài Gòn, những người ở lứa tuổi 60 trở lên, hình ảnh con ngựa là các xe thổ mộ chạy lóc cóc ở ngoại ô. Lúc đó, chưa có xe buýt nội ô, chỉ có xe đò (bây giờ gọi là xe khách) liên tỉnh. Bước tới gần ngoại ô, như Hòa Hưng, Bảy Hiền, Ông Tạ, Bà Điểm, Hóc Môn... sáng sớm là có xe thổ mộ với vó ngựa chạy lóc cóc.
Ngay dịp Valentine năm nay, hãng Warner Bros. cho ra mắt bộ phim “Wuthering Heights” – phóng tác mới nhất từ tiểu thuyết “Đỉnh Gió Hú” của Emily Brontë. Phim do Emerald Fennell – nữ đạo diễn Anh từng gây tiếng vang với “Promising Young Woman” và “Saltburn” – viết kịch bản và đạo diễn, với Margot Robbie đóng vai Cathy và Jacob Elordi trong vai Heathcliff. Ngay phần giới thiệu đầu phim, Fennell chỉ ghi lời khiêm tốn “dựa theo tiểu thuyết của Emily Brontë”, và còn để nhan đề trong ngoặc kép, như muốn nói đây là một phiên bản riêng, không phải chuyển thể “theo sách”.
Có lẽ cách dễ nhất để hiểu Bảy tám năm của Bùi Chát không phải là nhìn nó như một dự án ý niệm về sự phai tàn, mà như một tình huống hội họa được kéo dài trong thời gian. Ở đó, tranh không chỉ được treo lên để xem, mà được đặt vào một hoàn cảnh đặc biệt: hoàn cảnh sẽ biến mất. Không phải như một tai nạn, mà như một điều kiện tồn tại.
Theo lẽ thường, con người học hỏi kiến thức, kỹ năng từ dễ đến khó. Lấy toán học làm ví dụ, những đứa trẻ vào tiểu học bắt đầu cộng trừ nhân chia; lên trung học biết thêm căn, lũy thừa; rồi đến các môn hình học, đại số, lượng giác, giải tích, tân toán học… Để hình tượng hóa mức độ phức tạp của toán học, người ta thường dùng bức ảnhnhà bác học Albert Einstein đứng trước tấm bảng với chằng chịt những phương trình mà không có mấy người hiểu được.
Giải thích thế nào về một cảm giác lơ lửng, lâng lâng như say sau khi đọc tuyển tập “Đi Vào Cõi Tạo Hình II” của họa sĩ Đinh Cường (1939-2016)? Khi tôi khép sách lại và vài ngày sau lại mở ra đọc lại, và rồi lại ngưng vài ngày rồi đọc lại. Tôi bâng khuâng. Tôi lạc lối. Như đang bước trên mây. Thế giới trong sách như dường tách biệt với cõi đời đầy những xung đột thế gian quanh tôi. Cuốn sách đưa độc giả vào một thế giới cực kỳ thơ mộng và rất riêng tư của Đinh Cường. Từng trang sách “Đi Vào Cõi Tạo Hình II” là một cuộc đi dạo với Đinh Cường trong một cõi của thơ, của tranh, của tượng, của mỹ thuật và của tình bạn nghệ sĩ. Tuyển tập II dày 180 trang, in trên giấy đẹp, dày để giữ hình ảnh, màu sắc của các họa phẩm gần như nguyên vẹn ở mức tối đa.
Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ (Vietnamese American Arts and Letters Association – VAALA) trân trọng thông báo thời gian chính thức mở liên hoan phim và ra thông báo tuyển phim cho Viet Film Fest 2026, đánh dấu 23 năm liên hoan phim tôn vinh nghệ thuật kể chuyện và văn hóa Việt Nam qua điện ảnh. Đại Hội Điện Ảnh Việt Nam Quốc Tế Viet Film Fest sẽ diễn ra từ ngày 9 đến 11 tháng 10 năm 2026 tại The Frida Cinema, số 305 E. 4th Street, thành phố Santa Ana, đồng thời kết hợp hình thức online để khán giả trên toàn nước Mỹ và quốc tế có thể thưởng thức đa số phim được tuyển chọn.
Một trò chơi dân gian mà thế hệ tôi thường chơi vào những ngày Tết là chơi bài “ngầu”, có nơi gọi “ngầu hầm” hoặc “ngầu tố”. Con số 785 là con số cụ thể của ba quân bài, mô tả việc đã “có ngầu” — đủ điều kiện để tiếp tục ở lại ván chơi. Tôi thích trò chơi này vì nó không có thứ bậc. Không ai hơn ai. Chỉ có hai loại người: có ngầu và không ngầu. Có ngầu nghĩa là còn lý do để chơi. Không ngầu nghĩa là rời khỏi bàn. Nghệ thuật cũng thế: không có tác phẩm “cao” hay “thấp”, “kinh điển” hay “thường dân”. Chỉ có kẻ còn dám liều trong chính giới hạn của mình, và kẻ đã thôi. Tôi gọi dự án này là Bảy tám năm – vừa là con số “ngầu” trong trò chơi, vừa là hạn sử dụng của tác phẩm. Tôi đã thử nghiệm một loại dung môi đặc biệt: khi pha với màu, nó khiến bức tranh tự tan biến dần theo thời gian. Sau bảy đến tám năm, toàn bộ màu sắc sẽ phai hết, chỉ còn lại tấm toan trắng. Không phải vì bị phá hủy, mà vì được lập trình để biến mất.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.