Hôm nay,  

Giới trẻ Việt Nam và di sản Cộng hòa

20/11/202522:16:00(Xem: 770)

Luat Khoa
Bìa của ấn bản “70 năm Việt Nam Cộng Hòa – Chân Dung và Di Sản”, trái. Phải, trang Mục Lục, với các bài đầy ắp tài liệu dưới hai chủ đề Chân Dung và Di Sàn. Xem số đặc biệt tại đây. Đăng ký tài trợ tại đây để đọc các bài vở khác và tải ấn bản đặc biệt và các số báo khác tại đây.


“Di sản, còn có thể mang hình thức phi vật thể của lối nghĩ, lối sống, lối hành động, mà con người miền Nam khi xưa đã được trau dồi, hun đúc qua tinh thần của thể chế, của một nền dân chủ hiến định. Chính con người, chính cộng đồng xã hội mới là trung tâm và cũng là cội nguồn lẫn mục đích của mọi bản hiến pháp.” – Hải Sa, “Ngót 60 năm từ một khế ước nhân quyền dang dở,” trang 56
 
Cùng với tin tạp chí Luật Khoa vừa được đề cử giải thưởng Tự Do Báo Chí năm 2025 của Tổ chức Phóng viên Không Biên giới, ban chủ trương trong một thư tới độc giả vào cuối tháng 10 đồng thời thông báo việc phát hành ấn bản đặc biệt với chủ đề “70 Năm Việt Nam Cộng Hòa – Chân Dung & Di Sản” gồm 86 trang, với 14 bài vẽ lại hành trình từ ra đời tới bị bức tử của nền dân chủ duy nhất của Việt Nam và di sản của thể chế yểu mệnh này để lại.
Bài này nhằm điểm qua nội dung của ấn bản đặc biệt này, và sẽ chú trọng vào một bài đã gợi nơi người viết một suy tư sâu sắc.

Từ nhiều năm nay tôi theo dõi việc làm của nhóm bạn trẻ này, khá ấn tượng về tính chuyên nghiệp báo chí của các anh chị em mà phần lớn nếu không là sinh ra thì cũng lớn lên trong lòng chế độ Cộng sản, với một số cộng tác viên hiện còn ở trong nước và đã hẳn phải hoạt động trong những điều kiện khó khăn, nếu không là nguy hiểm. Một thành viên của ban chủ trương là ký giả Phạm Đoan Trang đã bị nhà cầm quyền Hà Nội bắt và hiện đang còn thụ án tù vì tội “tuyên truyền chống nhà nước.”

Một trong những điều gây ấn tượng nơi tôi còn là chủ trương minh bạch của nhóm Luật Khoa. Mặc dù tòa soạn đặt tại Đài Bắc, Luật Khoa thuộc một tổ chức vô vị lợi có đăng ký chính thức ở tiểu bang California, minh bạch về tài chính và các tiết lộ công khai vốn là điều kiện của một tổ chức phi lợi nhuận. Tuy nhiên có một lần Luật Khoa minh bạch một cách khá độc đáo, đó là lần ban chủ trương phạt một phóng viên về tội đạo văn, chẳng những giáng chức người phóng viên mà còn phạt tổng biên tập Trịnh Hữu Long bằng việc cúp một tháng lương của anh ta nữa.

Trở lại ấn bản đặc biệt của tạp chí Luật Khoa có tựa đề “70 Năm Việt Nam Cộng Hòa,” cái tựa đề đã khiến tôi chợt khựng lại. Từ hồi nào tới giờ tôi, và có lẽ nhiều người cùng lứa, vẫn đinh ninh là VNCH chỉ tồn tại có 20 năm, chứ sao lại 70 là làm sao? Phải đọc tới bài thứ 11, “Ngót 60 năm từ một khế ước nhân quyền dang dở” (trang 56), tôi mới hiểu ra.

Trước khi đi vào chi tiết bài trên, cũng là trọng tâm của bài viết này, xin nói qua về nhóm Luật Khoa, kế đó là tổng quát về nội dung ấn bản “70 năm.”
Ra đời cuối năm 2014, do các bạn trẻ gồm có Phạm Đoan Trang, Trịnh Hữu Long, Trần Quỳnh Vi và Trương Tự Minh thành lập, Luật Khoa là một tạp chí độc lập chỉ hiện hữu trên mạng. Mục đích, theo nhóm chủ trương, là “để lấp vào khoảng trống của nền báo chí tiếng Việt trong nước vốn thiếu vắng một nền báo chí độc lập, với chủ trương thoát ly những định kiến lịch sử, hệ thống kiểm duyệt và khuôn mòn của ý thức hệ.”

“Với tâm niệm: báo chí độc lập là thành trì của tự do ngôn luận, là nền tảng của dân chủ và pháp quyền, Luật Khoa tạp chí từ những ngày đầu hoạt động cho đến nay vẫn kiên trì với một chủ trương xuyên suốt: nỗ lực đưa tin một cách trung thực, công bằng thông qua nội dung và tác phong làm báo chuẩn mực, trách nhiệm, với nguồn động lực từ tinh thần cầu thị và lý tưởng khai phóng,” theo một thư gửi bạn đọc gần đây nhân kỷ niệm sinh nhật 11 năm tuổi của tạp chí. [Xem thêm về sự hình thành của tạp chí điện tử này tại đây]

Tính tới nay nhóm đã phát hành hàng ngàn bài viết, cả Việt lẫn Anh ngữ; hàng trăm phim tài liệu ngắn đăng tải trên băng tầng YouTube; và, cùng với cơ quan mẹ là Sáng kiến Luật pháp cho Việt Nam (Legal Inititative for Viet Nam, LIV), đã thực hiện một số báo cáo về thực trạng thực thi nhân quyền, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng tại Việt Nam. Bên cạnh đó, khởi từ hơn năm qua, là kế hoạch khai triển Dự án 1975 nhằm lưu trữ các tư liệu lịch sử, báo chí và lời kể của các nhân chứng về biến cố năm 1975.
 
Tuyển tập “70 Năm Việt Nam Cộng Hòa” là kết quả của “nhiều tháng suy tư và làm việc,” theo lời tòa soạn, “như một cách chúng tôi tri ân độc giả – những người đã cùng chia sẻ niềm tin rằng, chỉ khi lịch sử được kể lại một cách đa chiều và nhân bản, chúng ta – và cả những thế hệ tiếp theo – mới có thể bình tâm đối thoại và cùng nhau bước tiếp.”

Đây không phải là lần đầu Luật Khoa đề cập tới Việt Nam Cộng Hòa, một đề tại được coi là cấm kỵ trong nước, song đã trở thành một thao thức đối với những người trẻ lớn lên có suy tư trong lòng một chế độ độc đảng độc tài. Rải rác qua các số báo, Luật Khoa đã có nhiều bài về nền dân chủ duy nhất mà Việt Nam có được dù chỉ tồn tại có 20 năm, từ 1955 tới 1975. Niềm thao thức trên đã khiến một tác giả trong nhóm từng thốt lên qua tựa một bài viết, là “Việt Nam Cộng Hòa chỉ tồn tại 20 năm – Vì sao tôi vẫn tiếp tục viết về nó?” Và gọi đó như “một nỗi niềm thương nhớ ngược (‘reverse nostalgia’) – một nỗi niềm thương nhớ cho một tương lai không bao giờ có thể thành hình, một tương lai bị đánh mất – và từ đó ám ảnh người sống về sự ‘không tồn tại’ của nó.”

Bài viết “Việt Nam Cộng Hòa chỉ tồn tại 20 năm – Vì sao tôi vẫn tiếp tục viết về nó?” được chuyển sang dạng phim, tại https://youtu.be/5v2FWUIAHIU

 
Lớn lên trong lòng chế độ Cộng sản, những người trẻ này đã nghe nói về một thời Cộng hòa vốn có một sự tự do dù tương đối nhưng đã để lại một di sản cụ thể qua sách báo băng nhạc được lén lút truyền tay nhau khiến họ không khỏi “tò mò sâu sắc về một trong những đề tài bị chính quyền che giấu và kiểm duyệt nặng nề nhất,” ban biên tập tâm sự. “Tò mò nhưng cũng nghe được tiếng lòng rung động của những người ở cả hai phía, chúng tôi tự gán cho mình cái sứ mệnh ghi chép lại không chỉ là dữ liệu lịch sử mà cả những tiếng lòng đó.”

Trong thư tòa soạn cho ấn bản đặc biệt “70 năm Việt Nam Cộng hòa,” Luật Khoa tâm sự: “Ngày nay, chúng ta có thể nói chuyện một cách lắng đọng và bình tâm về những xung đột long trời lở đất trong quá khứ như Nguyễn Phước Ánh – Nguyễn Huệ, Đàng Trong – Đàng Ngoài, Vua Lê – Chúa Trịnh. Lắng đọng và bình tâm như thể chúng ta là khách vãng lai ghé thăm một mốc lịch sử và nhìn những cảnh binh đao khói lửa đó bằng con mắt tò mò nhưng không phán xét. Chúng ta lật hết góc nọ tới góc kia mà không sợ báng bổ hay xúc phạm ai, không sợ chạm đến lòng tự ái của ai, và không sợ đụng đến lợi ích của ai.”
Thế nhưng, “[C]huyện lại hoàn toàn khác khi chúng ta nói về Việt Nam Cộng hòa, vốn là một quá khứ không xa và vẫn còn là vết thương rỉ máu của dân tộc.
“Sự ra đời của Việt Nam Cộng hòa vào ngày 26/10/1955, nhìn từ con mắt của bất kỳ phía nào, đều là một trong những biến cố chính trị quan trọng nhất của lịch sử Việt Nam hiện đại. Nó định hình số phận của dân tộc và vẫn còn ám ảnh dân tộc chúng ta cho tới ngày nay.

“Bảy mươi năm với lịch sử không phải là một quãng thời gian dài. Xung quanh chúng ta vẫn còn rất nhiều người sinh trước Việt Nam Cộng hòa cả chục năm, hai chục năm,” ban biên tập số đặc biệt “70 năm” viết trong Lời Tòa soạn. “Và cuộc chiến Nam – Bắc cũng mới chỉ chấm dứt được năm chục năm. Chừng đó thời gian là chưa đủ để một cộng đồng lắng đọng và bình tâm mà nhìn nhận lịch sử bằng con mắt tò mò nhưng không phán xét. … Trong số báo này, bạn đọc sẽ cùng chúng tôi lần lại lịch sử của Việt Nam Cộng hòa từ khi chính thể này còn phôi thai trong trứng nước của Quốc gia Việt Nam cho tới những giây phút cuối cùng khi Dương Văn Minh đọc giấy khai tử vào trưa ngày 30/4/1975.

“Nhưng lịch sử của Việt Nam Cộng hòa không phải chỉ là lịch sử vật chất, với đất đai, nhà xưởng và tòa thị chính. Nó còn là lịch sử phi vật chất với những giá trị tinh thần về giáo dục, nghệ thuật, chính trị, pháp quyền – những giá trị vượt lên trên giới hạn về thời gian lẫn không gian. Đó cũng là lý do mà giờ đây, 50 năm sau ngày Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, chúng tôi vẫn tìm về, không phải để ngưỡng mộ, không phải để oán thù, càng không phải để ngắm nghía cho vui, mà là để hiểu và học, một cách lắng đọng và bình tâm.”

Qua hơn 80 trang báo, dưới hai tiểu đề “Chân dung” (chín bài) và “Di sản” (bốn bài), độc giả có dịp viếng lại lịch sử từ những ngày đầu tiên lấy lại nền độc lập sau một thế kỷ thuộc Pháp; việc thành lập Quốc gia Việt Nam vào năm 1945 với lá cờ vàng ba sọc đỏ; việc QGVN trở thành Việt Nam Cộng Hòa; 20 năm kiến quốc trong xáo trộn chính trị và khói lửa chiến tranh bên cạnh những thành tựu văn hóa, giáo dục, văn học nghệ thuật. Những thành tựu trở thành phần di sản mà người Việt miền Nam mang theo trên đường di tản phân tán ra mọi ngả trên thế giới sau 1975. Và hiện đang được một nhóm giáo sư đại học gốc Việt nghiên cứu và lưu trữ qua cơ quan Nghiên cứu Việt Mỹ, trụ sở đặt tại Oregon University.

Dù vậy, cái di sản Việt Nam Cộng hòa ấy đã trở thành điều cấm kỵ suốt 50 năm qua trong chế độ độc đảng độc tài, và đã trở thành mối trăn trở đối với nhiều người trẻ sinh ra và lớn lên sau 1975 trong một đất nước tuy thanh bình nhưng không có nhân quyền, đầy rẫy áp bức ngăn cấm, sẵn sàng bỏ tù những ai dám nghĩ bên ngoài các khuôn khổ chế độ đã đặt để ra.

Dien Bien

“70 Năm Việt Nam Công Hòa – Chân dung & Di sản,” trang 3-4.

 
Mở đầu phần chủ đề Di sản là bài viết thoạt tưởng khô khan nhưng lại chan chứa khát vọng, tình tự của những người trẻ trưởng thành sau 1975, tựa là “Ngót 60 năm từ một khế ước nhân quyền dang dở,” trang 56. Bài viết đã khiến tôi suy nghĩ và hiểu tại sao đối với nhóm Luật Khoa, VNCH không chỉ tồn tại có 20 năm mà thực ra giờ đã 70 tuổi, và có lẽ còn tiếp tục hiện hữu ngày nào họ còn nuôi khát vọng về một Việt Nam tươi sáng xứng đáng để sánh vai với thế giới của một nhân loại văn minh khai phóng, đặt nhân quyền làm đối tượng phục vụ, không phải đảng phái hay chế độ như trong một chế độ độc tài.

Luat Khoa 2
Ảnh minh họa, Thiên Tân/Luật Khoa
Bài viết mở đầu bằng việc VNCH ban hành bản Hiến pháp 1967, chấm dứt bốn năm xáo trộn chính trị kể từ sau khi chế độ Ngô Đình Diệm kết thúc và mở đầu cho nền đệ nhị Cộng hòa.
 
Trong diễn văn nhậm chức, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu khẳng định: “Hiến pháp mà chúng ta ban hành hôm nay là một bước đầu tiên cần thiết cho Quốc gia để xây dựng một nền dân chủ. Và như tôi thường trình bày với đồng bào, chỉ có dân chủ mới có tạo dựng được đoàn kết quốc gia thực sự, có dân chủ mới đòi hỏi được sự tham gia tích cực của mọi tầng lớp nhân dân để mở đường cho sự phát triển toàn diện của dân tộc, có dân chủ mới tập trung được mọi sinh lực quốc gia để có đủ sức mạnh sớm chiến thắng xâm lăng, thực hiện được mọi chương trình phục hưng xứ sở và cải tiến xã hội.”
 
Tiếc thay, nền dân chủ thành lập tự năm 1955 và được tái khẳng định trong khói lửa chiến tranh ấy chỉ tồn tại vỏn vẹn thêm có tám năm thì bị khai tử với cuộc tấn công tàn bạo cuối cùng của Cộng sản, tiếp theo là việc áp đặt chế độ độc tài trên toàn quốc.
 
Ong Thieu
Ông Nguyễn Văn Thiệu tuyên thệ nhậm chức tổng thống Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa. Phía sau ông là Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ, Tổng Tham mưu trưởng Cao Văn Viên. Ảnh: U.S. Information Agency 67-0480.
  
“Ta chưa có cơ hội được chứng kiến, rằng nếu đi đến cùng,” tác giả Hải Sa tự hỏi, “bản hiến pháp này sẽ đem lại thành quả gì trên chặng đường dân chủ hóa.
 
“Một nhà nước dân chủ, trước và trên hết, phải là nhà nước tôn trọng nhân quyền. Không ngẫu nhiên khi bản hiến pháp kinh điển của Hoa Kỳ đã mở đầu bằng những tuyên ngôn bất hủ về quyền con người.”
 
Từ đó, tác giả phân tích và đánh giá những điều khoản về quyền con người đã được thừa nhận và hiến định trong hai bản Hiến pháp 1956 và 1967, nhưng chưa kịp áp dụng đặng hoàn thành sứ mệnh.
 
“Những ước mơ và những lời hứa về dân chủ hay nhân quyền chưa được thực hiện đầy đủ theo lời hiệu triệu mà Nguyễn Văn Thiệu gửi đi, cũng như theo những gì bản Hiến pháp 1967 đã quy định, có thể xem là những đề án còn dang dở mà hậu thế phải tiếp quản, dù có muốn hay không,” Hải Sa tiếp. “Nhìn nhận cả những món nợ của ông cha với hậu nhân, âu có lẽ, cũng là một cách để người nay nghiêm túc đón nhận một di sản.”
 
Di sản đó gồm những gì? Sau khi liệt kê những văn hóa phẩm mà người Việt tị nạn đã mang theo, lưu giữ và khai triển trên bước đường lưu vong, điều tác giả Hải Sa kể thêm khiến tôi cảm động vì đó là những gì mình vẫn sống, vẫn đầm mình trong đó nhưng không mấy khi để ý bởi nó đã trở thành một phần bản chất của mình.
 
“Nhìn từ góc độ di sản, những gì một thời Việt Nam Cộng hòa để lại mà ta thấy được … không chỉ là số lượng những sách, báo, văn nghệ phẩm đã phát hành và được lưu giữ,” tác giả Hải Sa viết. “Di sản, còn có thể mang hình thức phi vật thể của lối nghĩ, lối sống, lối hành động, mà con người miền Nam khi xưa đã được trau dồi, hun đúc qua tinh thần của thể chế, của một nền dân chủ hiến định. Chính con người, chính cộng đồng xã hội mới là trung tâm và cũng là cội nguồn lẫn mục đích của mọi bản hiến pháp.”
 
Nhận định trên làm tôi nhớ đến một bài viết, “Từng có một nơi hoàn cảnh không thể làm hỏng con người” của nhà phê bình Vương Trí Nhàn ở Hà Nội, khi suy ngẫm về sự tha hóa của con người trong xã hội Cộng sản và trường hợp của một nhà thơ Miền Nam, Tô Thùy Yên, qua bài thơ “Ta về” ông viết sau khi đi tù về.
 
Bị đầy đọa hàng chục năm trong các trại tù lao động khổ sai của Cộng sản nhưng không vì thế mà nhà thơ mất đi tính nhân bản và nhất là hồn thơ.
 
Trong bài thơ “Ta về” có bốn câu mà lần đầu nghe được tôi đã ứa nước mắt. Đó là trong một chuyến đi thăm mộ thuyền nhân trên một hòn đảo hẻo lánh ở Nam Dương khi anh trưởng đoàn rưới nước thay rượu lên đôi ba “ngôi mộ” vô danh chỉ vỏn vẹn có mấy hòn đá do dân địa phương, sau khi vớt xác các thuyền nhân trôi giạt lên chôn cất, đặt để dánh dấu phòng hờ có người thân trong tương lai đi tìm xác họ. Ta về như lá rơi về cội / Bếp lửa nhân quần ấm tối nay / Chút rượu hồng đây, xin rưới xuống / Giải oan cho cuộc biển dâu này …
 
“Đọc bài thơ của Tô Thùy Yên tôi nhớ lại nhiều cuộc gặp gỡ tiếp xúc với con người ở miền nam sau ngày 30/4/1975,” Vương Trí Nhàn viết, “tôi nhớ lại những trang văn bài thơ mà tôi đã đọc, những công trình nghiên cứu khoa học xã hội được làm trước 1975 và tôi nhận ra rằng cũng trong sự bao vây của chiến tranh, nhưng con người nơi đó không bị hoàn cảnh làm cho tê cứng về mặt tâm hồn, liều lĩnh về cách sống, bất cẩn về mọi hậu quả gây ra cho mọi người. Tôi hiểu rằng ở xã hội đó, văn hóa vẫn còn, vẫn chi phối người ta trong mọi mặt đời sống. Cái sức mạnh tinh thần của Tô Thùy Yên hôm nay cũng như của bao nhiêu người khác là kết quả của một nền giáo dục nhân bản và giữ vững chuẩn mực. Người ta không những biết sống để thích nghi với hoàn cảnh mà còn biết giữ được cả những gì tốt đẹp nhất được bồi đắp từ nhiều thế hệ và chuẩn bị cho người ta ra tiếp xúc với thế giới.”
 
Cái di sản “mang hình thức phi vật thể của lối nghĩ, lối sống, lối hành động, mà con người miền Nam khi xưa đã được trau dồi, hun đúc qua tinh thần của thể chế, của một nền dân chủ hiến định” mà người Việt hải ngoại đã mang theo trên bước đường lưu vong và thể hiện qua trong đời sống các cộng đồng ở rải rác khắp nơi trên thế giới.
 
“Chính con người, chính cộng đồng xã hội mới là trung tâm và cũng là cội nguồn lẫn mục đích của mọi bản hiến pháp,” theo tác giả Hải Sa. Và anh gọi đó là những phiên bản “hiến pháp bất thành văn.”
 
Và kết luận: “Những tạo vật mà người xưa để lại, cố nhiên là di sản trao truyền cho người nay. Và di sản, không chỉ là của để dành, còn là nợ phải trả. Phần của, gồm những gì tinh túy có thể góp nhặt, mang vẹn nguyên giá trị vận dụng để hậu thế kế thừa và tiếp bước. Phần nợ, là những bản đề án dang dở, hay những gì người xưa còn thiếu sót, và người nay phải góp sức bổ khuyết, hoàn thành.”
 
[TD2025/11] 
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong giới báo chí Việt ngữ hải ngoại, có hai khuynh hướng rõ rệt khi viết về quốc gia Trung Đông nằm giữa Ai Cập và Jordan. Một số, có vẻ là đa số, gọi quốc gia đó là Do Thái, trong khi số khác, trong đó có tôi, gọi là Israel. Có nhiều lý do để gọi quốc gia đó là Do Thái, trong đó lịch sử là một. Quốc gia này được lập ra như một quốc gia của người theo đạo Do Thái. Bản tuyên bố Balfour của Anh năm 1947 chấp nhận việc thành lập một quốc gia của người Do Thái trên đất Palestine khi đó đang do Anh nắm giữ. Nghị quyết Liên Hiệp Quốc năm 1947 thông qua một kế hoạch phân chia vùng đất làm hai, một cho người Do Thái và một cho người Ả Rập.
Tháng Lịch Sử Phụ Nữ tại Hoa Kỳ phát sinh từ phong trào đòi phục hồi vai trò phụ nữ trong lịch sử quốc gia, hình thành vào thập niên 1970 dưới ảnh hưởng của làn sóng phản kháng xã hội. Trong nhiều thế kỷ, phụ nữ hiện diện trong mọi sinh hoạt của cộng đồng, nhưng lại vắng bóng trong các bộ sử chính thống; những tập sử đầu tiên chỉ ghi chép tên tuổi vài nữ hoàng hoặc phụ nữ quyền quý, còn đại đa số bị loại khỏi dòng niên biểu của quốc gia.
Ở phương diện đạo đức và văn hóa, Philip Taubman và William Taubman đã phân tích những mâu thuẫn nội tâm của McNamara: tiếng nói của lương tâm và quyền lợi quốc gia. Theo họ, trong thâm tâm, ông từng nhận định rằng Hoa Kỳ đã phạm sai lầm nghiêm trọng và không thể giành chiến thắng trong cuộc chiến. Tuy nhiên, trước công chúng và trong các tuyên bố chính thức, ông vẫn duy trì lập trường cứng rắn, tiếp tục biện minh cho chính sách leo thang quân sự. Sự đối lập giữa nhận thức riêng tư và lập trường công khai ấy tạo nên một nghịch lý phản ánh bi kịch cá nhân của McNamara, đồng thời cũng là bi kịch của cả một thời kỳ lịch sử...
Hiệp định Mekong năm 1995 là nền tảng của sự hợp tác cho Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam – qua đó các quốc gia thành viên long trọng hứa hẹn sẽ tôn trọng công bằng, không gây tổn hại cho nhau và cùng chung quản lý sông Mekong. Ủy hội sông Mekong, MRC là cơ quan được lập ra với nhiệm vụ quản lý, quan trắc kiểm soát dòng nước, chia sẻ dữ liệu, điều hợp tham vấn các dự án trên sông và bảo vệ sự lành mạnh cho lưu vực. Nhân dịp Lễ Kỷ Niệm 30 Năm ngày thành lập, tháng 11 năm 2025, MRC mô tả cho lưu vực một thành tích vẻ vang là đạt được: "Thịnh vượng chung“. Các quan chức MRC nhấn mạnh khả năng cảnh báo lũ lụt, nghiên cứu môi trường, lập quy hoạch phát triển, và cả những nhượng bộ (bất đắc dĩ) của Đối Tác Trung Quốc về việc chia sẻ dữ liệu dòng chảy của Lạn Thương giang, thượng nguồn sông Mekong trên Vân Nam.
Năm Bính Ngọ 2026 – năm Con Ngựa Lửa – đang phi nước đại tới với bao hứa hẹn đổi thay, may mắn và khám phá mới quanh một loài vật từng cùng nhân loại viết lại bản đồ thế giới. Các nhà cổ sinh học cho biết tổ tiên xa xưa của ngựa là một sinh vật cỡ… con cáo, sống trên đất Bắc Mỹ khoảng 55 triệu năm trước; nhiều triệu năm sau, dòng họ ấy mới tiến hóa thành giống Equus – họ hàng trực tiếp của những chú ngựa ngày nay. Đàn Equus lần theo dải đất Bering băng qua sang Á, Âu, Phi, để rồi gặp tổ tiên chúng ta – lúc ấy vẫn xem ngựa là mồi săn, để lại xương và dấu mũi giáo trong những dấu tích khảo cổ có niên đại hàng trăm ngàn năm.
Theo cuộc thăm dò mới của NBC News Decision Desk Poll do SurveyMonkey thực hiện, sự ủng hộ dành cho chương trình nhập cư của Tổng thống Donald Trump đang giảm mạnh vào đầu năm 2026 sau khi các nhân viên nhập cư liên bang bắn chết hai người Mỹ vào tháng trước. Cuộc thăm dò cho thấy rằng các chiến thuật hung hăng và chỉ tiêu trục xuất của chính quyền đã thay đổi quan điểm của người Mỹ về Trump đối với chính những vấn đề đã giúp ông đắc cử. Vấn đề nhập cư và an ninh biên giới từ lâu đã nổi bật như một điểm mạnh của Trump trong các cuộc thăm dò, cả khi ông tranh cử nhiệm kỳ thứ hai vào năm 2024 và trong năm đầu tiên của chính quyền mới. Giờ đây, tỷ lệ ủng hộ Trump về vấn đề này đã giảm xuống ngang bằng với tỷ lệ ủng hộ công việc tổng thể của ông.
Trong các cuộc xuống đường phản đối biện pháp siết chặt di trú và tăng ngân sách cho cơ quan ICE trên khắp nước Mỹ những tuần qua, hình ảnh dễ thấy là hàng hàng giáo sĩ đeo cổ áo thánh, giơ bảng, đứng giữa hàng rào cảnh sát và đoàn người di dân. Một trong những tiếng nói gây tranh luận mạnh là Giám mục Rob Hirschfeld, Giáo phận Episcopal New Hampshire. Ngày 18.1.2026, ông kêu gọi các giáo sĩ trong giáo phận “chuẩn bị cho một kỷ nguyên tử đạo mới”, thậm chí lo sẵn di chúc và giấy tờ hậu sự. Theo ông, đây không còn là thời của những tuyên bố trên giấy, mà là lúc “dùng chính thân thể mình để đứng giữa các thế lực của thế gian và những người dễ bị tổn thương nhất”.
Câu chuyện Samuel Green nhắc lại một bài học cũ mà vẫn mới - pháp luật có thể sai, nhưng dư luận đạo đức của xã hội – lương tri chung của nhà giáo, nhà báo, trí thức, giáo dân, độc giả – nếu đủ bền, vẫn có thể bẻ cong những bản án bất công. Khi một mục sư da đen bị tống ngục chỉ vì giữ Uncle Tom’s Cabin, chính các tiếng nói ấy, chứ không phải thiện chí của giới cầm quyền, đã dần mở cửa nhà tù cho ông. Giữa thời nay, khi ngôn ngữ và ý kiến dễ bị dán nhãn, bị siết trong tên gọi “chống woke” hay “đúng đắn chính trị”, bài học đó rất đáng nhớ: nếu xã hội không giữ cho mình một dư luận đạo đức độc lập – bảo vệ quyền đọc, quyền nói, quyền bất đồng – thì khoảng cách từ “quản lý ngôn luận” đến “vào tù vì một cuốn sách” không bao giờ xa như ta tưởng.
Belzoni, một thị trấn chừng hai ngàn dân ở Mississippi, lâu nay được quảng cáo là “Kinh đô Catfish của thế giới”. Nhưng với người da đen, cái tên ấy còn gợi lại một chuyện khác: một trong những vụ treo cổ thời dân quyền đầu tiên trên đất Mỹ ở thế kỷ này. Ngày 7 tháng 5 năm 1955, hai người thuộc tổ chức White Citizens’ Council ở địa phương nhắm thẳng vào ca-bin xe của Mục sư George Lee mà bắn; mấy viên đạn xé nát nửa phần dưới gương mặt ông. Lee là một trong những người đồng lập hội NAACP tại Belzoni, là người da đen đầu tiên ghi tên đi bầu được ở hạt Humphreys kể từ thời Tái thiết. Không những thế, ông còn vận động cho hơn trăm người da đen cùng thị trấn ghi tên vào danh sách cử tri, một con số đáng kể nếu nhớ tới kích thước nhỏ bé của Belzoni và bầu không khí bạo lực luôn treo lơ lửng trên đầu người da đen dám dùng lá phiếu của mình giữa thời Jim Crow
Khi Tổng thống Donald Trump bày tỏ mong muốn “mua” Greenland vào năm 2019, thế giới ban đầu tưởng rằng đó chỉ là một câu nói đùa. Nhưng khi Nhà Trắng xác nhận đây là đề nghị nghiêm túc, sự kiện lập tức trở thành tâm điểm của truyền thông quốc tế. Đến nhiệm kỳ sau, theo tường thuật của USA Today, ông Trump thậm chí đã tuyên bố trước Quốc hội rằng ông sẽ giành Greenland “bằng cách này hay cách khác” (“one way or the other”). Tuyên bố ấy không chỉ gây sốc vì tính bất ngờ, mà còn vì nó chạm vào một trong những vùng nhạy cảm nhất của địa–chính trị thế kỷ 21: Bắc Cực – nơi băng tan đang mở ra các tuyến hàng hải mới, tài nguyên mới và cạnh tranh chiến lược mới giữa Hoa Kỳ, Nga và Trung Quốc. Trong bối cảnh đó, câu chuyện Greenland không chỉ là một giai thoại chính trị. Nó là biểu tượng của sự va chạm giữa tham vọng cường quốc, quyền tự quyết của cộng đồng bản địa, và sự mong manh của các liên minh quốc tế.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.