Hôm nay,  

Tưởng Nhớ ‘Ông Xếp Lớn’ Người Úc Và Những Nẻo Đường Việt Nam

07/01/202608:24:00(Xem: 1990)
greg dodd
Greg Dodds (đứng thứ tư từ phải hàng dưới) chụp cùng nhân viên Phòng Thương Vụ Úc Việt Nam vào khoảng cuối thập niên 1990s

Cách đây vài năm, tin ông Gred Dodds qua đời ở tuổi 71 tại Perth (Úc Đại Lợi) được truyền đi nhanh chóng trong giới ngoại giao, thương mại Úc. Nhóm cựu nhân viên Austrade (Phòng Thương Vụ Úc) người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email thông báo cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.

 

Trên trang web của Austrade có nhắc lại về tiểu sử của Greg Dodds. Ông là nhà lãnh đạo có ảnh hưởng lớn đến hoạt động phát triển thương mại của Úc tại Châu Á, đặc biệt là vùng Đông Bắc Á với các thị trường xuất khẩu lớn như Trung Quốc, Nhật Bản, Đại Hàn, Đài Loan. Ông bắt đầu làm việc tại Austrade từ năm 1985 khi được bổ nhiệm làm Tham tán Thương mại Cao cấp tại Tokyo, phụ trách thị trường Nhật. Dưới thời ông, quan hệ thương mại Nhật- Úc phát triển mạnh mẽ. Đến giữa thập niên 1990s, ông trở thành Tổng Giám đốc Điều hành Austrade khu vực Đông Bắc Á, văn phòng cũng đặt tại Tokyo. Trong suốt nhiều năm làm việc tại Austrade, Greg được thủ tướng, doanh nhân, đồng nghiệp Úc đánh giá cao, kính trọng vì tầm nhìn và khả năng lãnh đạo xuất sắc. Ông là người góp công nâng tầm quan trọng của Austrade trong việc hỗ trợ phát triển xuất khẩu của Úc, đặc biệt ở Châu Á. Ông truyền cảm hứng cho những người làm việc chung với mình; giúp nhiều nhân viên phát huy hết tiềm năng cá nhân; khuyến khích mọi người suy nghĩ rộng hơn, sáng tạo hơn trong công tác xúc tiến thương mại. Ông về hưu khoảng giữa những năm 2000s.

 

Việt Nam thuộc khu vực Đông Nam Á cùng với Singapore, Mã Lai, Thái Lan…, là một sự phân chia hợp lý thường thấy về phương diện địa lý, kinh tế. Tuy nhiên, khi lên nắm vai trò lãnh đạo Austrade vùng Đông Bắc Á, Greg quyết định chuyển Việt Nam vào khu vực của mình. Lập luận của ông là Việt Nam có nền văn hóa giống với Trung Quốc, Nhật Bản, Đại Hàn. Dân tộc Việt Nam sử dụng đũa, chịu ảnh hưởng văn hóa Khổng Mạnh, có chữ Nôm cùng nguồn gốc với chữ Hán… Do có uy tín và tầm ảnh hưởng lớn, đề nghị của ông dễ dàng được chấp nhận. Về mặt thương mại, từ thời ông trở đi, người Việt Nam bắt đầu thấy thịt bò Úc, bò giống Úc, rượu Vang Úc xâm nhập mạnh mẽ vào thị trường. Học sinh Việt Nam bắt đầu chọn Úc để đi du học nhiều hơn. Còn trong nội bộ Austrade, do Việt Nam thuộc khu vực thị trường quan trọng nhất, cho nên nhân viên được hưởng nhiều ưu đãi hơn.

 

Đối với Austrade Việt Nam, ngoài vai trò là một ông “xếp lớn của vùng”, Greg còn có nhiều tình thân hơn. Ông từng phục vụ trong quân đội Úc 10 năm trong chiến tranh Việt Nam tại một đơn vị tình báo chiến trường. Vào năm 2019, ông hoàn tất và cho xuất bản cuốn hồi ký Ships in the Night, có nhắc đến giai đoạn này. Có lẽ đó là lý do chính khiến ông có cảm tình đặc biệt với Việt Nam. Đưa Việt Nam vào vùng Đông Bắc Á, Greg có cơ hội trở lại Việt Nam để làm việc, có dịp thăm lại khu vực chiến trường xưa ở Long Tân thuộc Bà Rịa Vũng Tàu, nơi quân đội Úc đóng quân trong thời chiến. Nghe nói ở Nhật, nhân viên Austrade cả Úc lẫn Nhật đều sợ ông như “sợ cọp”! Nhưng đến Việt Nam, ông xuề xòa, dễ dãi, thường hay nói chuyện với nhân viên người Việt.

 

Greg yêu văn hóa Việt Nam. Trong một lần tổ chức “team building” cho nhân viên Autrade Đông Bắc Á ở Nha Trang vào khoảng năm 2004, nhân viên Việt Nam với tư cách chủ nhà có thực hiện một hoạt cảnh Dân Ca Ba Miền trong tiệc khai mạc. Khi hát bài dân ca Miền Bắc Qua Cầu Gió Bay, nhân viên các quốc gia khác cử đại diện lên “cởi áo, cởi nhẫn, cởi nón cho nhau” để hiểu người Việt yêu nhau chia sẻ như thế nào. Dân ca Miền Trung là bài Lý Chiều Chiều để thấy giọng buồn xứ Huế. Dân Ca Miền Nam là bài Đèn Cao Châu Đốc, Gió Độc Gò Công; tất cả người tham dự được tập để cùng hát chung câu “Hò lơ, hó lơ, lắng tai nghe tiếng ai đang hò lờ…” Sau màn trình diễn này, Greg và nhân viên từ các quốc gia khác khen ngợi team Việt Nam giàu tinh thần văn hóa.

 

 Austrade Việt Nam có văn phòng ở Hà Nội và Sài Gòn, nằm trong tòa đại sứ và tổng lãnh sự Úc. Trong những lần sang Việt Nam, Greg thường dành nhiều thời gian trong Sài Gòn hơn. Tôi là nhân viên của Autrade Sài Gòn từ năm 2001 đến 2006, cho nên có dịp gặp “xếp lớn” ở văn phòng. Tôi có một bộ bản đồ đường bộ quân sự bốn vùng chiến thuật rất chi tiết. Biết ông là cựu quân nhân Úc tham chiến ở Việt Nam, có lần tôi đem bản đồ vào cho ông xem. Ông rất thích, nhờ photo một bộ để giữ làm kỷ niệm. Cũng từ đó, ông biết tôi thích đi du lịch bằng đường bộ, đã đi qua rất nhiều tỉnh thành của Việt Nam, thích khám phá những khu vực xa xôi hẻo lánh. Ông nói để khi có dịp đi công tác ở Miền Nam, ông sẽ nhờ cùng tháp tùng bằng xe hơi thay vì đi máy bay như hầu hết các xếp Úc khác. Thế là hành trình trên những nẻo đường Việt Nam với ông “xếp lớn” cựu chiến binh Úc bắt đầu.

 

Khi chọn đường bộ để đi làm việc xúc tiến thương mại, Greg đề nghị nếu được thì chọn những tuyến đường đi qua những khu vực từng là chiến trường xưa. Đa số những đoạn đường này còn hoang sơ, chưa phát triển vào đầu thập niên 2000s. Có lần trong một chuyến đi công tác Miền Trung, các điểm đến làm việc là Đà Lạt, Ban Mê Thuộc, Đà Nẵng. Chúng tôi khởi hành từ Sài Gòn đi Đà Lạt qua quốc lộ 20; sau đó dùng quốc lộ 27 để đi Ban Mê Thuộc; rồi dùng quốc lộ 14 đi qua Pleiku, Kontum; theo quốc lộ 24 đổ từ cao nguyên xuống vùng đồng bằng Ba Tơ thuộc Quảng Ngãi; rồi theo quốc lộ 1 đến Đà Nẵng. Đó là một chuyến đi đáng nhớ, qua những đoạn đường hoang vắng tuyệt đẹp mà chính tôi cũng chưa từng đi qua. Quốc lộ 27 vào thời đó còn rất xấu, chưa được sửa chữa từ sau chiến tranh, nên rất ít xe cộ qua lại. Xe của Phòng Thương Vụ Úc là chiếc Toyota Land Cruiser mới toanh, biển số ngoại giao đỏ. Với chiếc SUV chuyên vượt địa hình này, hai thầy trò cùng bác tài rong ruổi qua những cánh rừng thông hoang sơ, có những đoạn qua những con suối chảy, thác đổ từ trên sườn núi dọc bên đường. Trên 200 km đường đi hầu như chỉ có một mình xe chúng tôi vượt qua những đoạn đường hiểm trở. Có lúc cảnh đẹp quá, Greg nói tài xế dừng lại để hút thuốc lá, ngắm cảnh. Còn khó đi hơn là quốc lộ 24, đoạn đổ đèo Măng Đen từ Kon Tum xuống Ba Tơ Quảng Ngãi. Thời đó đường đèo xấu, hẹp, chỉ đi được mỗi bên một xe, mà xe này đi thì xe bên kia phải ngừng lại để tránh. Có những cây cầu bắc qua vực với thành cầu mục, rỉ sét, xe qua phải thật chậm. Bác tài dày dạn kinh nghiệm mà cũng nói rằng chưa bao giờ đi đoạn quốc lộ nào hiểm trở đến thế! Nhưng cũng tuyệt đẹp, với cảnh núi rừng nguyên sinh Trường Sơn trùng điệp thật ngoạn mục. Nghe nói hiện nay Măng Đen đã được xây dựng, phát triển thành một khu du lịch mới của Kontum. Greg còn sống chắc thế nào cũng trở lại thăm nơi này.

 

Một chuyến đi nữa cũng đáng nhớ là chuyến công tác qua nhiều tỉnh thành thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long như Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, Bạc Liêu, Cà Mau… Từ Tiền Giang đến Vĩnh Long qua cây cầu Mỹ Thuận do Úc xây dựng theo dự án viện trợ phát triển cho Việt Nam. Qua những cánh đồng lúa cò bay thẳng cánh, những sông rạch chằng chịt của Miền Nam. Dọc đường, Greg dừng lại các quán nhỏ bên đường để uống cà phê đen, hút thuốc lá, hỏi thăm về cuộc sống của người nông dân. Sau khi làm việc ở tỉnh Cà Mau, Greg đề nghị mướn một chiếc ca nô để ra tận vùng Đất Mũi, thời đó đi bằng đường bộ còn rất khó. Buổi tối đi ăn ở một quán địa phương có đờn ca tài tử, nghe bài vọng cổ xa xưa Tình Anh Bán Chiếu “ Hò ơi… Chiếc chiếu Cà Mau nhuộm màu tươi thắm…” nhớ giọng ca Út Trà Ôn. Greg nói như vậy là ông đã đi được từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau của Việt Nam rồi, một điều mà không phải người Việt Nam cũng thực hiện được. Chuyến đi thật thanh bình như hương đồng cỏ nội Miền Nam.

 

Trong những chuyến đi như vậy, hai thầy trò nói với nhau rất nhiều chuyện, từ văn hóa, lịch sử, chiến tranh Việt Nam, đến những mối quan hệ quốc tế với Việt Nam thời bấy giờ. Kiến thức về văn hóa, lịch sử của Greg về các quốc gia Châu Á rất rộng. Ông cũng thích tìm hiểu về nền văn hóa nghệ thuật Việt Nam. Khi nói về thân phận của Việt Nam Cộng Hòa trong chiến tranh, tôi tặng cho ông cuốn truyện ngắn Con Cá Mắc Cạn của Doãn Quốc Sỹ, có cả hai thứ tiếng Anh-Việt. Ông hiểu Việt Nam trong cuộc chiến cũng giống như con cá trong truyện, không thể tự mình định đoạt số phận. Khi đi qua khu rừng tràm ở Cà Mau, tôi nói với ông về cuốn tiểu thuyết Hương Rừng Cà Mau của nhà văn Sơn Nam. Khi dừng chân ở Pleiku, tôi hát cho ông nghe ca khúc Còn Chút Gì Để Nhớ của Phạm Duy. Đi ngang qua Tuy Hòa là giai điệu man mác buồn của bài Chiều Qua Tuy Hòa của Nguyễn Đức Quang. Có lần hoàng hôn qua một ngôi làng nghèo dọc theo quốc lộ 1 ở Quảng Ngãi, tôi hát một vài câu trong ca khúc Về Miền Trung:

“…Ôi quê hương xứ dân gầy
Ôi bông lúa, con sông xưa, thành phố cũ
Về miền Trung! Người về đây sống cùng người dân
Lửa chinh chiến cháy bừng thôn làng điêu tàn…”

Lần đó, ông nói không ngờ một kỹ sư cơ khí như tôi mà cũng lãng mạn đến thế!

 

Đến năm 2006, tôi đi Mỹ. Trước khi đi, chưa rõ mình sang Mỹ sẽ làm gì, tôi viết email xin ông một lá thư giới thiệu, để phòng trường hợp xin vào làm cho Phòng Thương Vụ Mỹ. Lúc đó ông đã nghỉ hưu, nhưng vẫn viết một lá thư giới thiệu thật trân trọng, với tư cách là cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á kể về một nhân viên xúc tiến thương mại cấp thấp, không thuộc hàng trực tiếp làm việc với ông. Lá thư đó tôi không sử dụng đến, rồi bận bịu với nhiều loại công việc mưu sinh ở Mỹ. Vào năm 2017, tôi trở lại Úc, có ghé văn phòng Austrade ở Sydney, hỏi thăm tin tức về Greg, biết là ông vẫn sống đời hưu trí ở Perth. Tôi có email hỏi thăm. Chỉ sau một ngày, ông trả lời, và còn nói rằng vẫn còn giữ cuốn sách về “fish elf” mà tôi tặng. Ba năm sau thì nhận được tin ông qua đời.

 

Nhìn lại hơn 40 năm đi làm ở hai xứ Mỹ-Việt, tôi nghiệm lại thời làm việc ở Austrade là một trong những giai đoạn thích thú nhất. Một phần vì công việc thích hợp, làm có kết quả tốt. Một phần là vì được dịp kết thân với ông “xếp lớn” người Úc dễ thương, yêu mến đất nước và con người Việt Nam. Nhớ về Greg Dodds, tôi nhớ đến ca khúc Những Nẻo Đường Việt Nam (Thanh Bình):

Những nẻo đường Việt Nam.
Suốt từ Cà Mau thẳng tới Nam Quan.
Ôi! Những nẻo đường Việt Nam…
Những nẻo đường về đâu?
Ánh chiều chìm rơi bờ lúa nương dâu.
Ôi! Những nẻo đường về đâu?...

 

Doãn Hưng

Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
Hôm ấy đất trời quang đãng, bầu trời Colorado trong xanh như thể chưa từng xanh như thế, mây trắng lững lờ trôi trùng trùng vô tận, thảo nguyên mênh mông bát ngát.
Tôi rất thích bút danh "Hoàng Thị Cỏ May" mà chị Phi Loan dùng cho những bài thơ của chị, nhưng chưa có dịp hỏi chị tại sao chị lại chọn tên này. Hình ảnh "Cỏ May" gợi lên sự mộc mạc, bền bỉ, mang nét đẹp bình dị và phảng phất nỗi buồn quê hương và có lẽ đó là lý do chị thích cái tên này.
Thưa, chuyện là sư cô Chân Hiếu xuất gia đã hơn 10 năm với sư bà Huệ Chơn, một ngày kia cô thấy xa gia đình đã lâu, cô có ý muốn xin phép sư thầy về thăm mẹ già đã cả năm cô chưa gặp lại. Rồi được phép, cô về gặp mẹ, mẹ con mừng mừng tủi tủi hội ngộ, rồi cũng trong một buổi đó, hàn huyên vui vầy, nhân lúc vui vui câu chuyện mẹ mẹ con con. Bà mẹ già đã ngoài 80 tuổi, có lúc nhớ nhớ, có lúc đã quên quên ít nhiều.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.