Hôm nay,  

Thuốc trị ADHD có hiệu quả nhưng không theo cách các chuyên gia vẫn tưởng

09/01/202600:00:00(Xem: 1078)
ADHD
Nghiên cứu mới cho thấy hai loại thuốc Ritalin và Adderall không đánh vào hệ thống chú ý của não bộ như người ta lâu nay vẫn tưởng.  Ảnh: Wiki.
 
Các thuốc kích thích thần kinh như Ritalin và Adderall đã được dùng rộng rãi nhiều thập niên để chữa rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD), song một công trình nghiên cứu mới công bố trên tạp chí Cell cho thấy chúng không thật sự tác động lên hệ thống điều khiển sự chú ý của não bộ như giới chuyên môn từng tin tưởng.
 
Trái lại, các loại thuốc ấy chủ yếu ảnh hưởng lên vùng phần thưởng và vùng tỉnh thức, hai trung khu chi phối hứng thú và sự tỉnh táo. Nghiên cứu được tiến hành trên gần 5.800 trẻ em từ 8 đến 11 tuổi, đồng thời nêu bật vai trò quan trọng của thiếu ngủ trong căn bệnh này.
 
“Khi lần đầu thấy kết quả, tôi tưởng mình đã đo sai, vì chẳng thấy hệ thống chú ý nào thay đổi cả,” giáo sư Benjamin Kay, Trường Y khoa Đại học Washington tại St. Louis, một trong các tác giả, cho biết.
 
Thuốc vẫn hữu hiệu – song theo cách khác

“Thoạt đầu tôi tưởng mình đo lầm, vì chẳng thấy có biến đổi nào trong hệ thống chú ý,” giáo sư Benjamin Kay, nhà thần kinh học tại Đại học Washington (St. Louis), một trong các tác giả, cho hay.
 
Tuy nhiên, theo đồng sự Nico Dosenbach, cũng thuộc viện này, thuốc không vì thế mà mất hiệu năng: “Chúng giúp trẻ được chẩn đoán ADHD học hành, làm bài tốt hơn, và cả những trẻ thiếu ngủ — mà tình trạng mất ngủ phần nào đã trở thành nếp sinh hoạt phổ biến trong xã hội Mỹ.”
 
Căn bệnh ngày càng phổ biến

Tuy ADHD thường được coi là chứng rối loạn của tuổi nhỏ, song hiện có đến 15,5 triệu người lớn Mỹ mang chẩn đoán này, gần một nửa trong số đó chỉ được xác định khi đã trưởng thành. Bệnh cũng ảnh hưởng đến 7 triệu trẻ em từ 3 đến 17 tuổi. Tỷ lệ trẻ mắc ADHD tại Hoa Kỳ tăng từ 6,1% (1997–1998) lên 10,2% (2015–2016), theo một nghiên cứu của JAMA Network Open.
 
Nguyên nhân chính xác của ADHD vẫn chưa rõ; y giới hiện chưa có xét nghiệm chuyên biệt nào cho biết chắc người bệnh có mắc chứng ấy hay không.
 
“Dẫu mang tên ‘thiếu chú ý’, nhưng ADHD là một rối loạn nhiều mặt, trong đó mất tập trung chỉ là một thành phần,” giáo sư Maggie Sweitzer (Đại học Duke) nhận xét. “Đây không phải chứng lành tính: người mắc ADHD không chỉ gặp khó khăn ở trường mà còn dễ tổn hại đến công việc, quan hệ xã hội, thể chất và tinh thần. Với nhiều người, thuốc đem lại thay đổi rất lớn.”
 
Những gì hình ảnh não bộ cho thấy

Dữ liệu hình ảnh từ chương trình Phát triển Nhận thức Não bộ Thanh thiếu niên (ADCD), khởi sự từ năm 2015. Các nhà khoa học so sánh hình ảnh não của trẻ uống thuốc kích thích trong ngày chụp với những trẻ không dùng thuốc.
 
Kết quả cho thấy thuốc khiến vùng tỉnh thức và vùng phần thưởng hoạt động mạnh hơn, nhưng không làm thay đổi vùng chú ý. Theo giáo sư Dosenbach, thuốc “tạo cảm giác được thưởng từ trước, khiến ta kiên trì với công việc mà bình thường dễ chán nản,” như trong lớp học khô khan chẳng hạn.
 
“Tuy nhiên, đây không phải là thuốc tăng trí thông minh,” ông nói. “Nó không làm người ta thông minh hơn, cũng không trực tiếp cải thiện khả năng chú ý.”
 
Ngoài ra, thuốc còn giúp những trẻ ngủ ít hơn 9 giờ mỗi đêm đạt kết quả học tập khá hơn, nhưng không đem lại lợi ích rõ rệt cho các em ngủ đủ và không mắc ADHD.
 
Các bác sĩ cho biết bên cạnh thuốc kích thích, hiện còn một số dược phẩm không kích thích, như Atomoxetine, cũng được dùng trong điều trị.
 
Vai Trò của Giấc Ngủ

Thuốc tỏ ra hữu ích không chỉ đối với trẻ mắc ADHD mà còn với những em ngủ ít hơn chín giờ mỗi đêm. Ngược lại, với các em khỏe mạnh và ngủ đủ, thuốc không tạo khác biệt đáng kể về học lực.
 
Các bác sĩ ghi nhận, ngoài nhóm thuốc kích thích, hiện nay còn có các dược phẩm không kích thích, như Atomoxetine, cũng được sử dụng trong điều trị ADHD.
 
“Thiếu ngủ là một yếu tố trọng yếu, nhưng thường bị xem nhẹ,” giáo sư Jessica Lunsford-Avery (Đại học Duke) nhận xét. “Chúng ta nên nhìn ADHD như một chứng rối loạn kéo dài suốt 24 giờ, chứ không chỉ trong giờ học hay lúc thức.”
 
Bác sĩ Sinan Omer Turnacioglu (Bệnh viện Nhi đồng Quốc gia) khuyến cáo các bậc cha mẹ cùng bác sĩ nên chú trọng rèn thói quen sinh hoạt trước giờ ngủ, giảm ánh sáng, hạn chế màn ảnh và tạo bầu không khí thư giãn. Theo ông, “thói quen này làm dịu hệ thần kinh, giúp trẻ dễ an giấc hơn và cải thiện hành vi ban ngày.”
 
Các chuyên gia cũng lưu ý, thuốc kích thích dòng Ritalin hay Adderall hoàn toàn khác với các loại nước tăng lực bán ngoài hiệu. “Chúng hoạt động theo cơ chế riêng biệt của thần kinh trung ương,” bác sĩ Turnacioglu nói.

Một cuộc nghiên cứu mới cho thấy những con số tưởng như rất quen thuộc trong xét nghiệm máu định kỳ có thể chứa manh mối về ung thư đại-trực tràng ở người trẻ tuổi. Các nhà nghiên cứu thuộc Epic Research đã xem xét hồ sơ y tế của hơn 11,000 người Mỹ từ 18 đến 44 tuổi, tất cả đều từng được xét nghiệm AST hoặc ALT — hai loại men thường dùng để theo dõi tình trạng của gan — trong vòng ba năm trước khi được khám tìm ung thư đại-trực tràng. Kết quả cho thấy những người có AST dưới 14 đơn vị/lít có xác suất được chẩn đoán ung thư đại-trực tràng sớm cao hơn 65% so với những người có mức AST từ 14 đến 29. Với ALT dưới 14, mức chênh lệch là 68%. Ngược lại, AST hoặc ALT từ 30 trở lên lại đi cùng với xác suất được chẩn đoán bệnh thấp hơn.
Một cuộc nghiên cứu trên khoảng 1.4 triệu người trưởng thành tại Anh cho thấy hơn một phần ba bị cao huyết áp, nhưng hơn phân nửa trong số đó không hề biết mình mắc bệnh. Nghiên cứu, công bố trên BMJ Public Health, dùng tiêu chuẩn của Tổ Chức Y Tế Thế Giới (World Health Organization, WHO), theo đó cao huyết áp được xác định từ 140/90 mmHg trở lên. Hiệp Hội Tim Hoa Kỳ (American Heart Association, AHA) dùng mức thấp hơn, từ 130/80 mmHg.
Một cơn ngộ độc thực phẩm thường chỉ kéo dài vài ngày. Nhưng với một số người, đau bụng, tiêu chảy hoặc táo bón có thể dai dẳng hàng tháng, thậm chí nhiều năm sau khi vi trùng gây bệnh đã biến mất. Giới y khoa gọi tình trạng này là hội chứng ruột kích thích sau nhiễm trùng (post-infection irritable bowel syndrome, PI-IBS). Theo những ước tính dè dặt, ít nhất một trong 10 người từng bị nhiễm trùng đường ruột có thể mắc tình trạng này. PI-IBS có thể xuất hiện sau nhiều loại nhiễm trùng tiêu hóa, nhưng thường gặp hơn sau bệnh do ký sinh trùng hoặc vi khuẩn gây ra. Những tác nhân được ghi nhận nhiều gồm Giardia, Campylobacter, Salmonella, E. coli và Shigella.
Các nhà khoa học đang thử nghiệm một thế hệ vaccine mới nhằm ngăn ung thư từ trước khi khối u thành hình, đặc biệt ở những người mang đột biến di truyền khiến nguy cơ mắc bệnh cao hơn bình thường. Khác với vaccine ngừa HPV hay viêm gan B — vốn phòng các siêu vi trùng có thể dẫn tới ung thư — các vaccine mới nhắm trực tiếp vào những dấu hiệu đặc biệt của tế bào ung thư. Mục tiêu là “dạy” hệ miễn nhiễm nhận ra và tiêu diệt những tế bào bất thường ngay từ lúc chúng mới xuất hiện.
Trước tuổi dậy thì, con trai mắc bệnh suyễn nhiều hơn con gái và thường có triệu chứng nặng hơn. Nhưng sau tuổi dậy thì, tình thế đổi ngược: phụ nữ mắc suyễn nhiều hơn đàn ông, dễ lên cơn nặng hơn và cũng phải vào phòng cấp cứu hay nằm bệnh viện thường xuyên hơn. Tại Hoa Kỳ, khoảng một trong mười phụ nữ trưởng thành bị suyễn, gần gấp đôi tỷ lệ ở nam giới. Các nhà nghiên cứu ngày càng chú ý tới một nguyên nhân lâu nay chưa được hiểu rõ: kích thích tố nữ. Suyễn không phải chỉ là một bệnh duy nhất mà gồm nhiều dạng bệnh làm đường thở bị viêm và thu hẹp, gây ho, khò khè, nặng ngực và khó thở. Di truyền, môi trường, cân nặng và kích thích tố đều có thể ảnh hưởng tới mức độ nặng nhẹ.
Nhật báo Tampa Bay Times vừa qua có loan tin về một cụ bà qua đời vào ngày 8 Tháng Chín, 2026. Y giới địa phương cho rằng nạn nhân tử vong do chứng sốt xuất huyết (Dengue), tuy nhiên Cơ quan Y tế Tiểu bang Florida hiện vẫn chưa đưa ra xác nhận chính thức. Trường hợp tử vong này có thể nằm trong đợt phát dịch sốt xuất huyết đang gia tăng tại quận Hillsborough, nơi ghi nhận 95 trường hợp mắc bệnh kể từ Tháng Bảy năm 2026. Vào Tháng Tám, Ty Y tế Quận Hillsborough đã phát lời cảnh báo về các căn bệnh do muỗi truyền nhiễm sau khi ghi nhận nhiều ca lây nhiễm nội địa.
Trước tuổi dậy thì, con trai mắc bệnh suyễn nhiều hơn con gái và thường có triệu chứng nặng hơn. Nhưng sau tuổi dậy thì, tình thế đổi ngược: phụ nữ mắc suyễn nhiều hơn đàn ông, dễ lên cơn nặng hơn và cũng phải vào phòng cấp cứu hay nằm bệnh viện thường xuyên hơn. Tại Hoa Kỳ, khoảng một trong mười phụ nữ trưởng thành bị suyễn, gần gấp đôi tỷ lệ ở nam giới. Các nhà nghiên cứu ngày càng chú ý tới một nguyên nhân lâu nay chưa được hiểu rõ: kích thích tố nữ. Suyễn không phải chỉ là một bệnh duy nhất mà gồm nhiều dạng bệnh làm đường thở bị viêm và thu hẹp, gây ho, khò khè, nặng ngực và khó thở. Di truyền, môi trường, cân nặng và kích thích tố đều có thể ảnh hưởng tới mức độ nặng nhẹ.
Một cuộc nghiên cứu mới với hơn 3,000 bà mẹ không tìm thấy bằng chứng cho thấy việc phụ nữ mang thai tiếp xúc với lượng nhỏ thuốc trừ sâu thường gặp trong thực phẩm có liên hệ với những dấu hiệu tự kỷ nơi con cái sau này. Kết quả, đăng ngày 24 tháng 8 trên JAMA Pediatrics, đi ngược lại một trong những hướng giải thích mà Bộ Trưởng Y Tế và Dịch Vụ Nhân Sinh Robert F. Kennedy Jr. cho rằng cần được điều tra trong việc tìm nguyên nhân khiến số trẻ được chẩn đoán tự kỷ tại Hoa Kỳ tăng lên. Các nhà nghiên cứu thuộc Đại Học New York phân tích mẫu nước tiểu lấy từ phụ nữ trong thời kỳ mang thai để đo những chất còn lại sau khi cơ thể tiếp xúc với thuốc trừ sâu organophosphate, một nhóm hóa chất được dùng rộng rãi trong nông nghiệp và có thể để lại lượng rất nhỏ trên rau quả.
Một loại thuốc cùng nhóm với Ozempic và Wegovy đã giúp chuột cái già sống lâu hơn khoảng 12%, đồng thời giảm một số dấu hiệu của tuổi già trong cơ thể, theo một cuộc nghiên cứu mới công bố trên tạp chí Nature. Các nhà khoa học tại Đại Học California, Berkeley, dùng semaglutide — hoạt chất trong Ozempic và Wegovy — chích mỗi ngày cho những con chuột cái 20 tháng tuổi, tương đương khoảng 60 tuổi ở người. Việc điều trị tiếp tục cho đến cuối đời của chúng. Nhóm chuột không dùng thuốc sống trung bình 742 ngày. Nhóm dùng semaglutide sống 834 ngày, lâu hơn khoảng 12%.
Hôm Michael Horrocks đến đón ba đứa con cho kỳ nghỉ xuân, ông biết ngay có chuyện không ổn. Keith, tám tuổi, một mắt sưng húp. Donnie, năm tuổi, cũng bắt đầu chảy nước mắt. Chỉ có Star, bốn tuổi, còn chạy nhảy bình thường. Vài ngày sau, cả ba nằm bẹp. Chúng sốt, bỏ ăn, mệt lả. Trên mặt và mình Donnie xuất hiện những mảng đỏ. Michael đưa hai con trai đến trung tâm cấp cứu. Một nữ y tá nhìn các vết ban rồi nhắc đến một căn bệnh mà nhiều cha mẹ Mỹ ngày nay chỉ còn biết qua sách vở: Sởi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.