Hôm nay,  

Canada Trên Diễn Đàn Thế Giới ở Davos: Bài Diễn Văn Lịch Sử

21/01/202610:23:00(Xem: 3409)
Mark Carney
Thủ tướng Canada Mark Carney và bài diễn văn được thế giới hưởng ứng tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos, Thụy Sĩ, ngày 20 tháng 1 năm 2026.



Tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos, Thụy Sĩ, Thủ tướng Canada Mark Carney đã đọc một bài diễn văn hiếm hoi khiến cả hội trường – gồm các nhà lãnh đạo chính trị và giới kinh tài quốc tế – đồng loạt đứng dậy vỗ tay tán thưởng. Trong bài phát biểu này, ông mô tả sự cáo chung của một trật tự thế giới từng xoay quanh quyền lực áp đảo của Hoa Kỳ và gọi thời điểm hiện nay là một “đứt gãy” trong trật tự ấy.

Carney không nêu đích danh Tổng thống Donald Trump, nhưng hoàn cảnh cho thấy đối tượng chính trong thông điệp của ông khó có thể lầm lẫn. Bài diễn văn được đưa ra đúng lúc nguyên thủ Hoa Kỳ tiếp tục gia tăng áp lực với châu Âu, tái khẳng định ý định giành quyền kiểm soát Greenland từ tay Đan Mạch và dọa áp thuế mới lên những nước công khai ủng hộ chủ quyền của hòn đảo này.

“Ngày nào chúng ta cũng được nhắc rằng mình đang sống trong thời đại cạnh tranh giữa các cường quốc,” Carney nói. “Trật tự dựa trên luật lệ đang phai nhạt. Kẻ mạnh làm điều họ có thể làm, kẻ yếu thì phải chịu điều họ buộc phải chịu.” Ông cảnh báo rằng các quốc gia tầm trung buộc phải hành động chung với nhau, bởi nếu không có mặt trên bàn thương lượng thì sẽ trở thành đối tượng bị quyết định.

Lời cảnh báo ấy xuất phát từ chính kinh nghiệm cay đắng của Canada trong những năm gần đây. Ngay khi bước vào nhiệm kỳ tổng thống thứ hai, Donald Trump đã công khai gợi lại ý tưởng biến Canada thành “tiểu bang thứ 51”, đồng thời đe dọa xé bỏ các thỏa thuận song phương đã tồn tại hơn một thế kỷ giữa hai nước. Washington áp thuế lên nhiều mặt hàng Canada, gây thiệt hại nặng nề cho các ngành chủ chốt như xe hơi, thép, nhôm và gỗ, trong khi một số nhân vật thân cận với Trump không ngần ngại nói tới chuyện sáp nhập Canada để khai thác tài nguyên Bắc Cực và khoáng sản chiến lược.

Carney không chỉ gửi thông điệp về hướng Hoa Kỳ. Ông cũng phê phán xu hướng né tránh của nhiều chính phủ, những nước tin rằng nhượng bộ và tuân thủ sẽ đổi lại được yên ổn, mà theo ông, đó chỉ là một ảo tưởng nguy hiểm trong bối cảnh hiện nay. Bài diễn văn, theo tường thuật, do chính tay ông soạn thảo, một điều hiếm thấy đối với một phát biểu ở tầm Davos.

Theo Carney, Canada đang đứng trước một bài toán sinh tử. Nền kinh tế, quốc phòng và đời sống văn hóa của xứ này gắn chặt với Hoa Kỳ: gần ba phần tư hàng hóa và dịch vụ Canada xuất sang thị trường Mỹ, hai nước chia sẻ đường biên giới dài nhất thế giới và cùng điều hành bộ chỉ huy phòng không Bắc Mỹ. Trong bối cảnh khủng hoảng Greenland, sự lệ thuộc ấy lại càng trở nên nhạy cảm.

Dù vậy, Carney đang tìm cách giảm dần sự lệ thuộc truyền thống. Trong tuần trước Davos, ông công du Trung Quốc và Qatar, đạt thỏa thuận thương mại với Bắc Kinh và tuyên bố thiết lập quan hệ “đối tác chiến lược”. Ông cũng đẩy mạnh các sáng kiến với châu Âu, NATO và G-7, từ thương mại, khoáng sản chiến lược đến trí tuệ nhân tạo.

Nhịp độ ngoại giao dồn dập này tạo nên nhiều kỳ vọng trong công luận Canada, nhưng trong nước Carney vẫn phải đối đầu với phê phán. Phe đối lập cho rằng ông mải mê sân khấu quốc tế, trong khi những vấn đề sát sườn như giá sinh hoạt, nhà ở, vẫn bế tắc và khó gỡ. Về mặt nghị trường, đảng của ông hiện còn thiếu một ghế để đạt đa số tuyệt đối, điều có thể hạn chế khả năng xoay xở của chính phủ tại Quốc hội.

Nhưng trong con mắt của nhiều người, bài diễn văn tại Davos đã xác định rõ vị thế mới của Canada: một quốc gia tầm trung không còn tin vào sự bảo trợ mặc nhiên của một trật tự cũ, và đang tìm cách tự đứng vững trong một thế giới đang thay đổi nhanh chóng.

Nguồn: Tóm lược theo bài của The New York Times, bài viết đăng ngày 20 tháng 1 năm 2026, cập nhật ngày 21 tháng 1 năm 2026.

 

***

*Bài nói chuyện của Thủ tướng Mark Carney tại Davos

Davos, Thụy Sĩ — ngày 20 tháng Giêng, 2026

 

Thưa quý vị,

 

Tôi vui mừng – và coi như bổn phận – được có mặt nơi đây, vào một khúc quanh quan trọng không chỉ cho Canada mà cho cả thế giới.

 

(Phần sau đây dịch từ tiếng Pháp)

 

Thưa ông Larry, đối với tôi, được có mặt cùng quý vị tối nay vừa là niềm vui, vừa là bổn phận, trong một khúc quanh quan trọng mà Canada và thế giới đang đi qua.

 

Hôm nay, tôi muốn nói về một cơn đứt gãy trong trật tự thế giới – sự chấm dứt của một ảo tưởng dễ chịu và sự khởi đầu của một thực tế khắc nghiệt, nơi chính trị giữa các cường quốc không còn chịu bất cứ giới hạn hay kiềm chế nào.

 

Song song đó, tôi cũng muốn nói với quý vị rằng các nước khác – nhất là những quốc gia tầm trung như Canada – không phải hoàn toàn bất lực. Họ có khả năng gây dựng một trật tự mới, chứa đựng những giá trị của chúng ta: tôn trọng nhân quyền, phát triển bền vững, tinh thần tương trợ, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mỗi quốc gia.

 

Sức mạnh của kẻ “không mạnh” mở đầu từ sự thành thật.

 

(Trở lại tiếng Anh)

 

Hình như mỗi ngày chúng ta đều được nhắc rằng mình đang sống trong một thời kỳ kình địch giữa các cường quốc; rằng “trật tự dựa trên luật lệ” đang phai mờ; rằng kẻ mạnh muốn làm gì thì làm, còn kẻ yếu thì phải chịu điều mình phải chịu.

 

Câu nói của Thucydides ấy được trình bày như một điều không tránh khỏi, như cái “lô-gích tự nhiên” của bang giao quốc tế trở lại nắm quyền.

 

Trước lô-gích ấy, các quốc gia rất dễ xuôi theo, cố làm vừa lòng, tránh rắc rối, hy vọng rằng tuân phục sẽ đổi lấy an toàn.

 

Nhưng không phải vậy.

 

Vậy thì, chúng ta có những chọn lựa nào?

 

Năm 1978, nhà đối kháng Tiệp Khắc Václav Havel – sau này là tổng thống – viết một tiểu luận mang tên Quyền lực của kẻ không có quyền lực. Trong đó, ông đặt một câu hỏi giản dị: làm sao một chế độ cộng sản lại có thể kéo dài như thế?

 

Câu trả lời của ông khởi đi từ hình ảnh một người bán rau. Mỗi sáng, ông chủ tiệm treo lên cửa kính tấm bảng “Vô sản toàn thế giới hãy đoàn kết lại”. Ông ta không tin câu đó – chẳng ai tin – nhưng vẫn treo lên để tránh phiền, để tỏ dấu quy thuận, để sống yên ổn. Và bởi vì mọi người bán hàng trên mọi con đường đều làm như thế, nên chế độ vẫn tồn tại – không chỉ nhờ bạo lực, mà còn nhờ sự tham gia của những người bình thường vào những nghi thức mà trong thâm tâm họ biết là giả.

 

Havel gọi đó là “sống trong dối trá”. Sức mạnh của hệ thống không đến từ sự thật, mà từ sự sẵn lòng của mọi người đóng vai như thể nó là thật; và chỗ yếu của nó cũng từ đó mà ra: khi chỉ một người thôi không diễn nữa – khi người bán rau gỡ tấm bảng xuống – bức màn ảo ảnh bắt đầu rạn nứt.

 

Thưa quý vị, đã đến lúc các doanh nghiệp và các quốc gia tháo những tấm bảng ấy xuống.

 

Trong nhiều thập niên, những nước như Canada đã thịnh vượng dưới cái gọi là “trật tự quốc tế dựa trên luật lệ”. Chúng ta gia nhập các định chế, ca ngợi nguyên tắc của chúng, hưởng lợi từ những bài tính dự đoán của chúng. Và nhờ đó, ta có thể theo đuổi một đường lối đối ngoại dựa trên giá trị, dưới chiếc ô che chở ấy.

 

Chúng ta biết câu chuyện về “trật tự dựa trên luật lệ” ấy chỉ đúng một phần: các nước mạnh nhất có thể tự miễn cho mình khi tiện; luật thương mại được thi hành một chiều; luật quốc tế áp dụng lỏng chặt khác nhau tùy người bị cáo buộc hay là nạn nhân.

 

Đó là một câu chuyện giả, nhưng từng hữu dụng; và đặc biệt là quyền lực Mỹ đã góp phần cung cấp những “lợi ích chung”: đường biển thông suốt, hệ thống tài chính ổn định, an ninh tập thể và những khuôn khổ giải quyết tranh chấp.

 

Vì vậy, chúng ta cũng treo tấm bảng lên cửa. Ta cùng tham gia các nghi thức ấy, và phần lớn thời giờ tránh nói thẳng những khoảng cách giữa lời nói và thực tế.

 

Bản thỏa thuận ngầm ấy nay không còn hiệu lực. Hãy cho phép tôi nói thẳng: chúng ta đang ở giữa một cơn đứt gãy, chứ không phải một giai đoạn chuyển tiếp.

 

Trong hai thập niên qua, hàng loạt cuộc khủng hoảng về tài chính, y tế, năng lượng và địa–chính trị đã phơi bày rủi ro của sự hội nhập toàn cầu quá mức. Nhưng gần đây, các cường quốc đã bắt đầu dùng chính sự hội nhập kinh tế như một thứ vũ khí: thuế quan thành đòn bẩy, hạ tầng tài chính thành phương tiện cưỡng bách, chuỗi cung ứng trở nên những chỗ yếu để khai thác.

 

Không thể tiếp tục “sống trong dối trá” của cái gọi là lợi ích hỗ tương qua hội nhập, khi chính sự hội nhập ấy trở thành nguồn gốc cho sự lệ thuộc của bạn.

 

Những định chế đa phương mà các quốc gia tầm trung từng trông cậy – WTO, Liên Hiệp Quốc, các kỳ hội nghị khí hậu – cái kiến trúc dành cho việc giải quyết vấn đề chung ấy đang bị đe dọa.

 

Kết quả là nhiều nước cùng rút ra một điều: phải gây dựng mức tự chủ chiến lược cao hơn – về năng lượng, lương thực, khoáng sản thiết yếu, tài chính và chuỗi cung ứng.

 

Động lực ấy là điều dễ hiểu. Một quốc gia không tự lo nổi cái ăn, cái mặc, hay an ninh của mình thì khó mà có lựa chọn nào khác. Khi luật lệ không còn che chở bạn, bạn buộc phải tự che chở lấy mình.

 

Nhưng cũng cần tỉnh táo để thấy điều đó sẽ dẫn ta đi tới đâu. Một thế giới toàn pháo đài sẽ nghèo hơn, bấp bênh hơn, kém bền vững hơn.

 

Còn một điều nữa: nếu các cường quốc bỏ luôn cả lớp vỏ luật lệ và giá trị, chỉ chăm chăm đeo đuổi quyền lực và lợi ích, thì cái “mua bán sòng phẳng” ấy sẽ ngày càng khó duy trì; không một bá quyền nào có thể mãi mãi biến quan hệ thành món hàng.

 

Đồng minh sẽ đa dạng hóa để đối phó bất trắc; họ sẽ “mua bảo hiểm”, mở thêm chọn lựa nhằm gây dựng lại chủ quyền – thứ chủ quyền vốn từng đặt trên luật lệ, nhưng nay ngày càng dựa trên khả năng chịu đựng áp lực.

 

Những người trong căn phòng này đều hiểu: đó là quản trị rủi ro theo nghĩa cổ điển. Quản trị rủi ro luôn có giá của nó. Nhưng chi phí cho tự chủ chiến lược, cho chủ quyền, hoàn toàn có thể chia sẻ. Đầu tư chung vào sức chịu đựng sẽ rẻ hơn nhiều so với việc ai nấy tự xây pháo đài riêng. Chuẩn mực chung giúp bớt chia cắt; sự bổ sung lẫn nhau tạo thêm phần lợi cho tất cả.

 

Và câu hỏi đặt ra cho những nước tầm trung như Canada không phải là có thích ứng với thực tế mới hay không – điều đó là bắt buộc – mà là sẽ thích ứng bằng cách chỉ xây tường cao hơn, hay dám làm một việc lớn hơn.

 

Canada là một trong những nước nghe tiếng chuông báo động sớm nhất, khiến chúng tôi phải đổi hẳn thế đứng chiến lược. Người Canada hiểu rằng cái giả định êm ái ngày xưa – rằng địa lý và những liên minh của ta tự động mang lại giàu có và an ninh – nay không còn đứng vững.

 

Đường lối mới của chúng tôi đặt trên điều mà Tổng thống Phần Lan Alexander Stubb gọi là “chủ nghĩa hiện thực dựa trên giá trị”: nói cách khác, chúng tôi muốn vừa giữ nguyên tắc, vừa biết thực tế.

 

Nguyên tắc, trong việc gắn bó với những giá trị căn bản: chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, cấm dùng vũ lực nếu không phù hợp Hiến chương Liên Hiệp Quốc, tôn trọng nhân quyền.

 

Thực tế, trong việc nhìn nhận rằng tiến bộ thường là chuyện từng bước, lợi ích nhiều khi xung khắc, không phải đối tác nào cũng chia sẻ trọn vẹn giá trị với ta. Bởi vậy, chúng tôi mở rộng giao thiệp, tính toán cho xa, với đôi mắt mở to. Chúng tôi chủ động đi vào thế giới như nó đang là, chứ không ngồi chờ một thế giới như ta mơ ước.

 

Chúng tôi đang điều chỉnh các mối quan hệ để độ sâu của chúng phản ảnh đúng giá trị của mình. Chúng tôi ưu tiên giao thiệp rộng để mở rộng ảnh hưởng, trước một trật tự đang trôi chảy, với mọi rủi ro và hệ quả kèm theo.

 

Và chúng tôi không còn chỉ dựa vào sức mạnh của giá trị, mà còn dựa vào giá trị của sức mạnh.

 

Chúng tôi đang xây dựng sức mạnh đó ngay trong nước.

 

Từ ngày chính phủ này nhận trách nhiệm, chúng tôi đã giảm thuế lợi tức, thuế lời vốn và thuế trên đầu tư kinh doanh. Chúng tôi đã gỡ bỏ mọi hàng rào liên bang cản trở mậu dịch giữa các tỉnh. Chúng tôi đang xúc tiến nhanh một chương trình đầu tư một ngàn tỷ đô-la vào năng lượng, trí tuệ nhân tạo, khoáng sản chiến lược, những hành lang thương mại mới và nhiều lãnh vực khác nữa.

 

Chúng tôi sẽ tăng gấp đôi chi tiêu quốc phòng từ nay đến cuối thập niên, theo cách vừa củng cố an ninh, vừa xây dựng công nghiệp trong nước.

 

Đồng thời, chúng tôi nhanh chóng mở rộng ra bên ngoài. Canada đã ký một đối tác chiến lược toàn diện với Liên Hiệp Âu Châu, bao gồm cả việc tham gia cơ chế mua sắm quốc phòng SAFE của Âu châu. Trong vòng sáu tháng, chúng tôi ký thêm 12 hiệp định thương mại và an ninh ở bốn châu lục. Vài ngày vừa qua, chúng tôi kết thúc các thỏa thuận đối tác chiến lược mới với Trung Quốc và Qatar. Và chúng tôi đang thương thuyết các hiệp ước mậu dịch tự do với Ấn Độ, ASEAN, Thái Lan, Phi Luật Tân và khối Mercosur.

 

Chúng tôi còn làm thêm một việc khác. Để góp phần giải quyết những vấn đề toàn cầu, Canada theo đuổi một lối “hình học biến đổi”: nghĩa là lập những khối hợp tác khác nhau cho từng vấn đề, tùy theo giá trị và quyền lợi chung.

 

Về Ukraine, chúng tôi là một thành viên nòng cốt của “liên minh sẵn sàng” và là một trong những nước đóng góp lớn nhất tính theo đầu người cho việc bảo vệ và an ninh của nước này.

 

Về chủ quyền Bắc Cực, chúng tôi đứng hẳn về phía Greenland và Đan Mạch, hoàn toàn tôn trọng quyền đặc biệt của họ trong việc quyết định tương lai Greenland.

 

Cam kết của chúng tôi đối với Điều 5 của NATO là không lay chuyển. Canada đang làm việc với các đồng minh NATO – kể cả nhóm tám nước Bắc–Baltic – để củng cố tuyến phía bắc và phía tây của liên minh, qua những đầu tư chưa từng có của chúng tôi vào radar vượt đường chân trời, tàu ngầm, phi cơ và quân đội – cả trên đất liền lẫn trên băng tuyết.

 

Canada kiên quyết chống các thuế quan liên quan đến Greenland và kêu gọi những cuộc thương lượng tập trung để đạt được mục tiêu chung là an ninh và thịnh vượng tại Bắc Cực.

 

Trong thương mại đa phương, chúng tôi đi đầu trong nỗ lực bắc một nhịp cầu giữa Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương và Liên Hiệp Âu Châu, để hình thành một khối thương mại mới gồm 1,5 tỷ dân.

 

Về khoáng sản chiến lược, chúng tôi lập những “câu lạc bộ người mua” đặt nền trên khối G7, để thế giới có thể bớt lệ thuộc vào nguồn cung tập trung.

 

Về trí tuệ nhân tạo, chúng tôi hợp tác với các nền dân chủ cùng chí hướng, để về sau không bị ép phải chọn giữa các cường quốc và các tập đoàn công nghệ khổng lồ.

 

Đây không phải là một thứ đa phương chủ nghĩa ngây thơ, cũng không phải là phó thác cho các định chế cũ. Đó là xây dựng những liên minh hoạt động hữu hiệu – từng vấn đề một – với những đối tác có đủ điểm chung để cùng hành động. Ở nhiều trường hợp, đó sẽ là phần đông các quốc gia trên thế giới.

 

Những gì chúng tôi đang làm là tạo nên một mạng lưới dày đặc những mối liên hệ về thương mại, đầu tư và văn hóa, mà về sau chúng tôi có thể dựa vào để đối phó những thử thách mới và nắm lấy cơ hội mới.

 

Các nước tầm trung phải cùng hành động, vì nếu không có mặt trên bàn, ta sẽ nằm trong thực đơn.

 

Nhưng tôi cũng phải nói rằng các cường quốc, ít nhất là hiện nay, vẫn có thể một mình một ngả; họ có thị trường đủ lớn, quân lực đủ mạnh, đòn bẩy đủ sâu để đặt điều kiện. Những nước tầm trung thì không. Khi chúng ta chỉ thương lượng song phương với một bá quyền, ta thương lượng từ thế yếu; ta nhận những gì người ta đưa; ta lại thi nhau tỏ ra dễ dãi nhất.

 

Đó không phải là chủ quyền; đó chỉ là diễn cái vai chủ quyền trong khi chấp nhận bị lệ thuộc.

 

Trong một thế giới tranh đua giữa các cường quốc, những nước ở khoảng giữa có một chọn lựa: hoặc cạnh tranh với nhau để được ưu ái, hoặc kết hợp lại để mở ra một con đường thứ ba có thực lực.

 

Chúng ta không nên để sự trở lại của quyền lực cứng làm ta quên rằng sức mạnh của chính đáng, của liêm chính và của luật lệ vẫn còn đó – nếu chúng ta cùng nhau nắm lấy. Điều đó đưa tôi trở lại với Havel.

 

Vậy, “sống trong sự thật” đối với các nước tầm trung có nghĩa là gì?

 

Trước hết, là gọi đúng tên thực tế. Hãy thôi lặp lại cụm từ “trật tự quốc tế dựa trên luật lệ” như thể nó vẫn còn vận hành đúng như quảng cáo. Hãy gọi nó đúng như nó đang là: một hệ thống tranh hùng ngày càng gay gắt giữa các cường quốc, nơi kẻ mạnh đeo đuổi quyền lợi riêng, dùng hội nhập kinh tế như công cụ cưỡng bách.

 

Kế đó, là hành động cho nhất quán: áp một tiêu chuẩn như nhau cho cả đồng minh lẫn đối thủ. Khi các nước tầm trung lên tiếng trước sự hăm dọa kinh tế từ một phía, nhưng lại im lặng khi chuyện tương tự đến từ phía khác, tức là chúng ta vẫn giữ tấm bảng trong cửa sổ.

 

Nó cũng có nghĩa là xây dựng điều mà chúng ta vẫn nói mình tin – thay vì cứ ngồi chờ trật tự cũ được phục hồi. Nghĩa là phải tạo ra những định chế và hiệp ước thực sự hoạt động đúng như điều họ công bố.

 

Và nghĩa là phải giảm bớt những đòn bẩy cho phép người khác cưỡng bách ta. Xây dựng một nền kinh tế trong nước vững mạnh phải là ưu tiên trước mắt của mọi chính quyền.

 

Đa dạng hóa quan hệ kinh tế đối ngoại không chỉ là thận trọng về mặt kinh tế; đó là nền tảng vật chất cho một chính sách đối ngoại thành thật. Một quốc gia chỉ giành được quyền đứng trên nguyên tắc khi đã giảm được mức độ dễ bị trả đũa.

 

Canada – Canada có những gì thế giới đang cần. Chúng tôi là một cường quốc năng lượng. Chúng tôi có trữ lượng khoáng sản thiết yếu dồi dào. Chúng tôi có lực lượng lao động học vấn cao bậc nhất thế giới. Các quỹ hưu trí của chúng tôi nằm trong số lớn nhất và tinh luyện nhất. Nói gọn lại, chúng tôi có vốn, có nhân tài, và có một chính quyền với khả năng tài chính lớn để hành động dứt khoát.

 

Chúng tôi cũng có những giá trị mà nhiều nơi khác mơ ước. Canada là một xã hội đa nguyên vận hành được. Không gian công cộng của chúng tôi ồn ào, nhiều tiếng nói, và tự do. Người Canada vẫn gắn bó với con đường phát triển bền vững.

 

Chúng tôi là một đối tác ổn định và đáng tin trong một thế giới không ổn định chút nào – một đối tác biết xây dựng và trân trọng những mối quan hệ lâu dài.

 

Và chúng tôi còn có một điều khác nữa: một sự nhận thức rõ ràng về những gì đang xảy ra, và một quyết tâm hành động tương xứng. Chúng tôi hiểu rằng cơn đứt gãy này đòi hỏi nhiều hơn sự thích ứng đơn thuần; nó đòi hỏi sự thành thật đối với thế giới như nó đang là.

 

Chúng tôi đang tháo tấm bảng khỏi cửa sổ. Chúng tôi biết trật tự cũ sẽ không trở lại. Chúng tôi không nên than tiếc. Hoài cổ không phải là một sách lược.

 

Nhưng chúng tôi tin rằng từ những vết nứt ấy, ta có thể xây dựng nên điều gì đó lớn hơn, tốt hơn, vững hơn và công bằng hơn. Đó là công việc của các nước tầm trung – những quốc gia có nhiều điều sẽ mất trong một thế giới đầy pháo đài, và có nhiều điều sẽ được trong một thế giới cộng tác chân thành.

 

Kẻ mạnh có quyền lực của họ. Nhưng chúng ta cũng có một thứ – khả năng thôi giả vờ, dám gọi đúng tên thực tại, xây dựng sức mạnh ở ngay trong nước và cùng nhau hành động.

 

Đó là con đường của Canada. Chúng tôi chọn nó một cách công khai và vững dạ. Và đó là một con đường rộng mở cho bất cứ quốc gia nào muốn cùng đi với chúng tôi.


 

Tối 5 tháng Hai năm 1930, nhà phê bình văn nghệ Paul Fechter bước lên diễn đàn của Liên Minh Người Do Thái Đức Theo Chủ Nghĩa Quốc Gia tại Berlin. Ông biết đề tài mình sắp nói sẽ khó nghe. Fechter nói rằng người Đức từ lâu đã quá “sợ hãi và dè dặt” khi nói công khai về người Do Thái. Ông đặc biệt công kích Kurt Tucholsky, một nhà văn trào phúng Do Thái nổi tiếng, vì cuốn Deutschland, Deutschland über alles (Nước Đức, Nước Đức Trên Hết), trong đó Tucholsky châm biếm quân đội, cảnh sát, công chức, quốc ca và nhiều biểu tượng chủ nghĩa quốc gia của nước Đức.Nhưng Fechter không dừng ở một nhà văn. Ông nói một phần lớn giới văn chương và nghệ thuật Đức “nằm trong tay người Do Thái”; các nhà hát, nhà xuất bản lớn và giới buôn tranh đều ít nhiều “dưới sự kiểm soát của người Do Thái.” Ông trách các nhà buôn tranh Do Thái chuộng Manet, Monet, Renoir, Gauguin, Picasso và Cézanne — những họa sĩ Pháp và hiện đại — hơn hội họa truyền thống Đức.
Tính đến thời điểm hiện tại của tài khóa 2026 (tháng 10, 2025 – tháng 9, 2026), thiếu hụt ngân sách liên bang Hoa Kỳ đã lên tới khoảng 1.8 nghìn tỷ USD, trong đó mức thiếu hụt của riêng tháng 7 là 432 tỷ USD, cao nhất kể từ tháng 3, 2021. Medicare tăng mạnh đã góp phần đẩy tổng con số lên cao, trong khi chính quyền vay nợ vẫn là một yếu tố đóng góp đáng kể. Tình trạng này đã đẩy tổng nợ quốc gia lần đầu tiên vượt mốc 40 nghìn tỷ USD, chủ yếu do chi phí lãi vay ròng gia tăng, các khoản chi cho chương trình phúc lợi bắt buộc và tác động từ các đạo luật chi tiêu mới được ban hành. Văn Phòng Ngân Sách Quốc Hội (Congressional Budget Office - CBO) dự đoán thâm hụt ngân sách cả tài khóa 2026 sẽ ở mức gần 1.9 nghìn tỷ USD.
Cách tốt nhất để giết một con chim | là thế này: dù nó đang cãi cọ hay cất tiếng kêu, | bạn hãy viết rằng chú chim nhỏ đang hót.
Tư tưởng gia người Mỹ George Santayana (1863-1952) đã từng viết trong tác phẩm “The Life of Reason: Reason in Common Sense” được xuất bản năm 1905 rằng, “Những ai không thể nhớ quá khứ thì bị buộc phải lập lại nó.” Có lẽ ý của ông Santayana là nếu ai không học được những bài học của quá khứ thì sẽ phải tiếp tục dẫm lên vết xe đổ. Một con người đánh mất quá khứ tức là mất đi ký ức thì sẽ không nhận biết mình là ai, do đó cũng sẽ không biết mình phải làm gì để xây dựng tương lai. Tương tự như vậy, một dân tộc đánh mất quá khứ lịch sử thì dân tộc đó sẽ không có tương lai. Quá khứ dù có xấu xa cỡ nào thì cũng là những gì mà chính con người hay một dân tộc đã từng làm. Trên thế gian này không một ai và không một dân tộc nào đã không từng một lần phạm phải sai lầm. Nhưng những sai lầm đó trong một ý nghĩa nào đó chính là những điều quý giá mà một con người hay một dân tộc có thể rút ra được bài học để có thể không tái phạm và làm điều tốt đẹp hơn ở hiện tại và tương lai.
Giữa khoảng không mênh mông của vũ trụ, Trái Đất hiện lên như một phép màu xanh thẳm. Hành tinh ấy có nước trong lành, bầu khí quyển dịu dàng, đất đai màu mỡ, rừng núi, sông hồ, biển cả và muôn loài cùng chung sống. Con người sinh ra, lớn lên trong vòng tay bao dung của thiên nhiên, uống từng giọt nước, hít từng hơi thở, bước đi trên mặt đất và được nuôi dưỡng bằng phù sa, nắng gió. Vậy mà, đáng buồn thay, chính loài người — đứa con được cưu mang nhiều nhất — lại đang từng ngày làm tổn thương người mẹ đã nuôi mình.
Các khoa học gia tại Đại học New York theo dõi hoạt động não của 23 người thông thạo cả Anh ngữ lẫn Tây Ban Nha. Họ nhận thấy những mẫu hoạt động thần kinh gần như giống nhau khi người tham dự biến một danh từ từ số ít sang số nhiều trong cả hai thứ tiếng. Phát hiện này cho thấy não không nhất thiết phải dựng nên một hệ thống ngữ pháp riêng cho từng ngôn ngữ. Thay vào đó, nó có thể dùng chung một cơ chế căn bản, rồi điều chỉnh cơ chế ấy theo quy tắc của mỗi tiếng.
Một cuộc thăm dò mới của CNN do SSRS thực hiện cho thấy tỷ lệ ủng hộ chung đối với Tổng thống Donald Trump đã sụt giảm mạnh xuống còn 34%, ngang bằng mức thấp nhất trong sự nghiệp của ông. Ngoài ra, con số kỷ lục 73% người trưởng thành tại Mỹ cho rằng ông chưa dành đủ sự quan tâm cho những vấn đề quan trọng nhất của đất nước. Cuộc thăm dò, được thực hiện từ ngày 23 đến 27 tháng 7 năm 2026, cho thấy sự bất mãn lan rộng trên nhiều nhóm nhân khẩu học và các vấn đề khác nhau. Cử tri da trắng đóng vai trò then chốt trong thành công chính trị của ông Trump suốt hơn một thập kỷ qua. Theo truyền thống, Trump thường đạt kết quả tốt hơn nhiều trong nhóm cử tri da trắng so với toàn thể cử tri. Mức độ ủng hộ của nhóm này cũng đã giảm đáng kể trước thềm cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026. Tỷ lệ ủng hộ ròng của ông Trump—được tính bằng cách lấy tỷ lệ ủng hộ trừ đi tỷ lệ không ủng hộ—trong nhóm cử tri da trắng đang ở mức âm 20, mức thấp nhất từng được ghi nhận.
Con người từ thuở hồng hoang đã không chỉ sống bằng điều mình biết. Người mẹ sinh con chưa biết đứa trẻ mai này sẽ ra sao. Người gieo hạt chưa lường được kết quả vụ mùa. Kẻ xuống thuyền vượt biển không thấy được bờ bến. Người ta vẫn cắm cúi đi. Không vì cái biết, mà vì lòng tin. Biết thuộc về ánh sáng, tin thường khởi sự nơi tối tăm. Tin một điều có nghĩa là chấp nhận điều ấy có thật. Tin một người là trao vào tay người ấy một phần sinh mệnh của chính mình. Tin một lý tưởng là lấy đó làm lẽ sống, làm phương hướng.
Vào những năm 1520, 1530, có một người tên Esteban de Dorantes, người đời quen gọi là Estevanico, đã một mình băng qua sa mạc mênh mông của vùng đất nay là Texas, New Mexico và Arizona — trước khi người Anh dựng nên Jamestown năm 1607 gần một thế kỷ, và trước khi đoàn di dân Pilgrim đặt chân lên Plymouth năm 1620 tròn một trăm năm. Ông sinh ra ở Azemmour, một thị trấn ven Đại Tây Dương của Ma Rốc, bị bắt làm nô lệ, đưa sang Tây Ban Nha rồi vượt biển sang Tân Thế Giới. Trong một chuyến viễn chinh bi thảm khiến gần như cả đoàn bỏ mạng, Estevanico là một trong số ít người sống sót. Ông học được nhiều thứ tiếng bản địa và trở thành một trong những người đầu tiên của "Old World" đặt chân xuyên suốt miền nam nội địa của nước Mỹ sau này.
Trung Quốc coi thương mại là một trong những thành tựu nổi bật của Cơ chế Hợp tác Lancang – Mekong (LMC), với tổng kim ngạch giữa Trung Quốc và năm quốc gia hạ nguồn đạt khoảng 500 tỷ USD trong năm 2025. Tuy nhiên, đằng sau con số ấn tượng đó là một thực tế đáng lo ngại: Lợi ích từ thương mại không được phân bổ đồng đều. Chỉ trong năm 2025, Việt Nam đã ghi nhận mức thâm hụt thương mại với Trung Quốc lên tới 115,6 tỷ USD, trong khi Campuchia và Thái Lan cũng chịu mức nhập siêu rất lớn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.