Hôm nay,  

Đọc Kim Dung cùng bạn (#1) Hồng Nhan Họa Thủy

23/01/202600:00:00(Xem: 1791)
 
kim dung
So với các tác giả cùng thời, Kim Dung được ưa chuộng hơn do văn phong duyên dáng, cốt truyện đầy tính nhân bản.
 
Vào những năm của thập niên 1960s và 70s, truyện võ hiệp kỳ tình là một phong trào ăn khách nhất của các tờ nhật báo thời bấy giờ. Có khá nhiều tác giả viết võ hiệp lúc đó, nhưng cái tên Kim Dung là sáng chói nhất. Ông là một hiện tượng nổi bật làm say mê hàng triệu độc giả và khán giả từ những trang tiểu thuyết của thế kỷ 20 kéo tiếp đến thế giới phim bộ Hồng Kông thế kỷ 21, không phải chỉ tạiViệt Nam, mà còn nhiếu nước khác ở Á châu.
 
So với các tác giả cùng thời, Kim Dung được ưa chuộng hơn do văn phong duyên dáng, cốt truyện đầy tính nhân bản, đặc biệt chỉ có Kim Dung mới đủ khả năng khiến các nhân vật có thật trong lịch sử Trung Hoa bỗng sống lại thành những nhân vật rất sống động và đóng một phần quan trọng trong các tiểu thuyết của ông  như: các danh tướng đời Minh: Thường Ngộ Xuân, Từ Đạt đều xuất thân từ Minh Giáo, thậm chí người sau này làm vua nước Tàu là Chu Nguyên Chương cũng đều một thời dưới trướng giáo chủ Trương Vô Kỵ. Càn Long trong "Thư Kiếm Ân Cừu Lục", Phúc Khang An trong Lãnh Nguyệt Bảo Đao, Thành Cát Tư Hãn Thiết Mộc Chân trong “Anh Hùng Xạ Điêu”, hay ngay vả một số tên tuổi gắn liền với lịch sử cổ đại Trung Hoa như Tây Thi, Phạm Lãi cũng được tái sinh trong Việt Nữ Kiếm. Nhưng có lẽ sinh động nhất trong tất cả là vua Khang Hy cùng một số nhân vật khác trong tác phẩm Lộc Đỉnh Ký.
 
HỒNG NHAN HỌA THỦY
 
Tự ngàn xưa bên Tầu, mỗi khi một vương triều sụp đổ đều có một điểm giống nhau: bóng dáng của một giai nhân.
Trụ Vương say đắm Đắc Kỷ mà hoàng triều bị mất về tay nhà Chu.
Rồi U Vương nhà Chu phải vong quốc chỉ vì tiếng cười của Bao Tự.
Ngô Phù Sai vì Tây Thi mà đành thất cơ dưới tay Câu Tiễn.

…

Hình như mấy ông sử gia bên Tầu chỉ chuyên bao che cho nhau đổ hết tội đồ mất nước cho những mỹ nhân. Và nạn nhân gần đây nhất của lịch sử Tàu là Trần Viên Viên, đời nhà Thanh.

Trong tác phẩm cuối cùng Lộc Đỉnh Ký của Kim Dung, nhân vật lịch sử Trần Viên Viên, người được gieo cho bốn chữ “Hồng nhan họa thủy” không những được nhắc đến, mà tác giả đã đi xa hơn, cho nàng sống lại thành một nhân vật sống  trong tác phẩm của mình.

Theo sử Tầu, thời vua Sùng Trinh nhà Minh thiên hạ loạn lạc. Bên ngoài giặc Mãn Châu dòm ngó. Bên trong nhà vua tin cẩn đám gian thần, sưu cao thuế nặng khiến cho thiên hạ bốn phương nổi loạn. Lý Tự Thành được gọi là Sấm Vương khởi nghĩa thành công đánh chiếm được Bắc Kinh khiến cho vua Sùng Trinh phải tự vận chết. Trước khi kết liễu đời mình, vua Sùng Trinh muốn dùng kiếm giết con gái là Trưởng Bình Công Chúa để khỏi bị giặc làm nhục, nhưng công chúa thoát được lưỡi kiếm oan nghiệt của vua cha, chỉ bị chặt đứt một cánh tay. Do đó sau này công chúa trở lại trong Lộc Đỉnh Ký của Kim Dung là Cửu Nạn Sư Thái chỉ một tay.

Ngô Tam Quế là tướng tài của nhà Minh đang trấn thủ biên cương chống cự cùng quân Mãn Châu, nghe tin Lý Tự Thành đã thu phục Băc Kinh tự xưng làm vua, và nhất là y đã chiếm mất ái thiếp của mình là Trần Viên Viên, nên tức giận mở cửa thành liên thủ cùng quân Mãn Châu đánh bại Lý Tự Thành lấy lại được mỹ nhân Trần Viên Viên, nhưng đã để cho quân Mãn Châu nhân cơ hội chiếm luôn nước Tàu lập nên triều đại nhà Thanh. Ngô Tam Quế bị nguyền rủa tiếng xấu muôn đời “Hán gian”, và mỹ nhân Trần Viên Viên bị khoác cho cái họa “Hồng nhan họa thủy”, là nguyên nhân khiến Ngô Tam Quế phải hàng giặc.


Đó là lịch sử.

Trong bộ truyện Lộc Đỉnh Ký, ông Kim Dung đã lấy bối cảnh ngay sau khi nhà Minh bên Tàu bị tộc Mãn Châu chiếm đóng lập nên triều đại nhà Thanh kéo dài đến 13 triều, và vua Khang Hy trong truyện là vị vua thứ ba của nhà Thanh để viết trường thiên “Lộc Đỉnh Ký”.

Trong một chương vô cùng độc đáo, tác giả cho ba nhân vật đã làm nghiêng ngữa triều đại nhà Minh đến phải mất nước vào tay người Mãn là: Lý Tự Thành, Ngô Tam Quế, và Trần Viên Viên về một chỗ, và điều kỳ diệu hơn cả là có cả Trưởng Bình Công Chúa, con vua Sùng Trinh nhà Minh, tức nhân vật võ công kiệt xuất Cửu Nạn Sư Thái.

Trưởng Bình Công Chúa của nhà Minh bị phụ hoàng Sùng Trinh chém, nhưng  không chết, may mắn gặp một cao nhân thu nhận làm đệ tử truyền dạy võ công. Bà xuất gia hiệu là Cửu Nạn Sư Thái, thành một đại cao thủ bậc nhất trong truyện. Trưởng Bình công chúa tuy đã xuất gia, nhưng không thể quên mối hờn vong quốc với cả Lý Tự Thành và Ngô Tam Quế. Vì Lý tự Thành đã mất tích trong chiến trận năm xưa nên tất cả hờn căm đổ lên Ngô Tam Quế.
Biết Trần Viên Viên và Ngô Tam Quế có đứa con gái còn nhỏ, bà bèn lén bắt đem về nuôi dưỡng, truyền dạy võ công mục đích sau này để đệ tử, tức là A Kha, phải đi giết cha Ngô Tam Quế, cho y phải chết trong đau khổ bởi chính dưới tay con gái mình. Công chúa không biết A Kha thực ra là con của Lý Tự Thành, không phải Ngô Tam Quế.

A Kha đi hành thích Ngô Tam Quế thất bại bị bắt.

Giữa lúc đó nhân vật Lý tự Thành bỗng nhiên xuất hiện. Té ra y chưa chết trong đám loạn quân năm xưa, vẫn còn sống dưới lớp áo một nhà sư phiêu bạt giang hồ. Y hay tin con gái A Kha bị nguy hiểm nên phải xuất đầu lộ diện để cứu con.

Vậy là trong một chương tiểu thuyết kỳ tình của trường thiên Lộc Đỉnh Ký, bốn nhân vật lừng danh có thật trong lịch sử Tầu cùng sống lại và đối diện nhau: Ngô Tam Quế, Lý Tự Thành, Trần Viên Viên, và Trưởng Bình Công Chúa với đầy những tơ tình và oán hờn sâu tợ biển. Hai tay gian hùng đã làm điêu đứng nhà Minh: Lý Tự Thành và Ngô Tam Quế lại được dịp quyết chiến một lần nữa. Lần này không phải giữa chốn trận tiền như xưa, mà bằng võ công bản lãnh của họ như hai nhân vật giang hồ.

Trưởng Bình Công Chúa lúc này võ công tuyệt đỉnh có thể giết chết cả hai dễ dàng, nhưng bà không thể, vì quân sĩ của Ngô Tam Quế đã bao vây chung quanh. Giết Ngô Tam Quế thì chính bà cũng như A Kha, Vi Tiểu Bảo, và rất nhiều người khác cũng bị hàng ngàn cung tiễn hạ sát ngay, cho nên phải tha cho Ngô Tam Quế. Dù sao Kim Dung cũng không thể sửa đổi lịch sử, vì theo sử sách, Ngô Tam Quế phải còn sống sót để sau này lại gây can qua, phản lại nhà Thanh. Cả Lý Tự Thành cũng vậy, hắn ta thực ra đã chết trước đây trong chiến trận với quân Mãn Châu, chứ đâu phải còn sống đến mười mấy năm sau… mới chết dưới tay công chúa triều Minh?

Trần Viên Viên, Lý Tự Thành, Ngô Tam Quế là những nhân vật có thật lừng danh trong lịch sử cận đại của Tầu.

Vi Tiểu Bảo, A Kha dĩ nhiên chỉ là tiểu thuyết

Trưởng Bình công chúa và Cửu Nạn sư thái là một người, nhưng Trưởng Bình là thật, Cửu Nạn là ảo.

Lịch sử và tiểu thuyết, quá khứ và hiện tại, nhân vật thực và ảo… cùng sống và quyện vào nhau trong một bối cảnh vô cùng éo le và sinh động trong tác phẩm Lộc Đỉnh Ký của Kim Dung.
./.
ThaiNC
 

Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
Hôm ấy đất trời quang đãng, bầu trời Colorado trong xanh như thể chưa từng xanh như thế, mây trắng lững lờ trôi trùng trùng vô tận, thảo nguyên mênh mông bát ngát.
Tôi rất thích bút danh "Hoàng Thị Cỏ May" mà chị Phi Loan dùng cho những bài thơ của chị, nhưng chưa có dịp hỏi chị tại sao chị lại chọn tên này. Hình ảnh "Cỏ May" gợi lên sự mộc mạc, bền bỉ, mang nét đẹp bình dị và phảng phất nỗi buồn quê hương và có lẽ đó là lý do chị thích cái tên này.
Thưa, chuyện là sư cô Chân Hiếu xuất gia đã hơn 10 năm với sư bà Huệ Chơn, một ngày kia cô thấy xa gia đình đã lâu, cô có ý muốn xin phép sư thầy về thăm mẹ già đã cả năm cô chưa gặp lại. Rồi được phép, cô về gặp mẹ, mẹ con mừng mừng tủi tủi hội ngộ, rồi cũng trong một buổi đó, hàn huyên vui vầy, nhân lúc vui vui câu chuyện mẹ mẹ con con. Bà mẹ già đã ngoài 80 tuổi, có lúc nhớ nhớ, có lúc đã quên quên ít nhiều.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.