Đã qua một năm kể từ ngày Tổng thống Donald Trump bước vào nhiệm kỳ thứ hai, nhiều người theo dõi thời cuộc bắt đầu nhận ra một điều rùng rợn: chính quyền không cần phải công khai xóa bỏ các luật dân quyền, mà chỉ cần làm cho những luật ấy khó thi hành, yếu dần đi, rồi từ từ mất tác dụng. Cách làm này không ồn ào, không gây sốc, nhưng diễn ra đều đặn, qua nhiều sắc lệnh, chỉ thị nội bộ, quyết định ngân sách và cách các cơ quan liên bang áp dụng luật.
Trước hết, cần nhắc lại một chuyện căn bản: ngay từ thuở ban đầu, Hoa Kỳ không phải là một xã hội bình đẳng cho mọi người. Hiến Pháp từng dung túng chế độ nô lệ; phần lớn tiểu bang chỉ cho đàn ông da trắng đi bầu; Quốc Hội một thời chỉ cho những người được xem là “da trắng tự do” nhập tịch. Đây không phải chuyện vô tình, mà là những lựa chọn có chủ ý, quyết định ai được xem là “người trong cuộc” và ai nắm quyền lực chính trị. Cách sắp xếp đó tạo ra một thế đa số dựa trên sắc tộc, kéo dài suốt nhiều thế hệ.
Phải đến thập niên 1960, sau nhiều năm biểu tình và đấu tranh, Quốc Hội mới thông qua các đạo luật cấm kỳ thị trong việc làm, giáo dục, bầu cử, di trú và nhà ở. Các cơ quan liên bang được giao trách nhiệm theo dõi, thu thập số liệu và dùng ngân sách công để buộc các nơi phải tuân luật. Nhờ vậy, xã hội Hoa Kỳ dần thay đổi; bất công không biến mất, nhưng ít ra trở nên dễ thấy hơn và khó chối cãi hơn.
Thế nhưng, năm đầu của nhiệm kỳ Trump thứ hai lại cho thấy một hướng đi khác.
Chính quyền không thẳng thừng hủy bỏ các luật dân quyền, mà làm yếu dần những cơ chế giúp luật được áp dụng ngoài đời. Luật vẫn còn trên giấy, nhưng các công cụ để thi hành thì bị thu hẹp hoặc tháo gỡ từng phần. Đây không phải vài hành động rời rạc, mà là cả một quá trình rút lui của chính quyền liên bang khỏi vai trò bảo vệ dân quyền.
Ngay ngày đầu tiên trong nhiệm kỳ thứ hai của Trump, Tòa Bạch Ốc loan báo chấm dứt toàn bộ các chương trình liên bang về đa dạng, công bằng và hòa nhập. Những chức vụ phụ trách đa dạng, các kế hoạch liên quan, cùng các khoản tài trợ và hợp đồng gắn với những chương trình này đều bị dẹp bỏ. Sau đó, nhiều chương trình nhằm giảm bất bình đẳng bị đóng cửa hoặc cắt ngân sách mạnh, từ chăm sóc sức khỏe cộng đồng, hỗ trợ người thiểu số làm ăn, cho đến các nỗ lực bảo đảm công bằng trong việc ký hợp đồng với chính phủ.
Trong lĩnh vực giáo dục, chính quyền cảnh báo các trường rằng nếu tiếp tục duy trì những chương trình đa dạng, họ có thể bị cắt ngân sách. Một số đại học bị điều tra tới lui vì cấp học bổng cho sinh viên thuộc diện DACA, tức là những người đến Hoa Kỳ khi còn nhỏ và được bảo vệ khỏi bị trục xuất theo chính sách thời Obama. Chính quyền cũng cho biết, nếu các cơ quan thẩm định của trường nào còn xét đến yếu tố đa dạng, thì trường đó có cơ nguy bị cắt tiền trợ giúp sinh viên.
Không chỉ trường học, các công ty tư nhân cũng bị ảnh hưởng. Những hãng luật có chính sách đa dạng bị thu hồi giấy phép an ninh và bị cấm vào các tòa nhà liên bang. Ủy Ban Viễn Thông Liên Bang FCC điều tra các công ty truyền thông khuyến khích đa dạng, thậm chí đe dọa chặn các vụ sáp nhập, khiến nhiều công ty, xí nghiệp phải vội vã bỏ những chương trình này để tránh rắc rối.
Một chỉ thị áp dụng cho toàn bộ chính phủ còn đi xa hơn, khi cho rằng những cách làm vốn rất quen thuộc – như cố gắng có danh sách ứng viên đa dạng, coi trọng khả năng hiểu biết văn hóa, xét đến hoàn cảnh sinh viên nghèo hay là người đầu tiên trong gia đình học đại học – có thể vi phạm pháp luật. Các trường học, cơ sở kinh doanh, hay chính quyền tiểu bang và địa phương bị “dằn mặt” là nếu dám tiếp tục làm như vậy sẽ bị cắt ngân sách liên bang. Thậm chí, một số nhà thầu còn bị điều tra vì những chương trình liên quan đến đa dạng bị xem là gian lận.
Một thay đổi rất quan trọng là chính quyền cho ngưng cách so sánh kết quả thực tế để phát hiện kỳ thị gián tiếp. Nói cho dễ hiểu, trước đây người ta nhìn vào kết quả để xem chính sách nào làm ai thiệt thòi; nay cách đó bị bỏ, khiến nhiều hình thức kỳ thị tinh vi trở nên khó thấy, khó chứng minh (nhất là trong thời buổi nhiều quyết định được giao cho máy móc và hệ thống tự động).
Chính quyền cũng hủy bỏ một sắc lệnh có từ năm 1965, vốn cấm các công ty làm việc cho chính phủ kỳ thị trong tuyển dụng và cho phép chính phủ kiểm tra, theo dõi việc tuân thủ. Đây từng là một công cụ quan trọng để phát hiện và giải quyết nạn kỳ thị nơi làm việc; khi công cụ này bị tháo bỏ, sự bảo vệ dành cho công nhân cũng suy giảm theo.
Cùng lúc đó, các dữ liệu dùng để theo dõi sự phân biệt đối xử trong trường học hay những nguy hại về môi trường đối với người nghèo bị xóa bỏ; các văn phòng dân quyền tại một số cơ quan liên bang bị thu hẹp; nhiều luật sư chuyên về dân quyền tại Bộ Tư Pháp đã rời đi.
Trong lĩnh vực văn hóa và lịch sử, chính quyền gây áp lực buộc gỡ bỏ các trưng bày về bất công sắc tộc, phục hồi tên gọi và tượng đài của phe miền Nam cũ, đồng thời cấm giảng dạy những nội dung bị cho là “chia rẽ.” Họ cũng tuyên bố tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức duy nhất, rồi hủy bỏ các quy định buộc cơ quan liên bang phải hỗ trợ người không rành tiếng Anh, dẫn đến việc cắt giảm thông dịch viên và giấy tờ song ngữ.
Khi gom tất cả những việc này lại, hậu quả không còn là chuyện trên giấy tờ. Khi chính phủ liên bang không còn thu thập số liệu, sự kỳ thị rất khó bị phát hiện. Khi không còn so sánh kết quả thực tế để xem ai bị thiệt thòi, những cách làm bất công cũng khó bị chất vấn. Khi các chương trình đa dạng bị điều tra và đe dọa cắt tiền, nhiều nơi sẽ chọn cách an toàn là thu hẹp cơ hội, không dám mở rộng cửa cho những cộng đồng khác nhau. Và khi lịch sử hay ngôn ngữ bị xem như mối đe dọa, người ta sẽ ngại nói sự thật vì sợ rước họa vào thân.
Phía chính quyền giải thích rằng họ làm vậy để tránh kỳ thị người da trắng, để tạo đoàn kết, và để làm đúng theo phán quyết của Tối Cao Pháp Viện về việc bãi bỏ chính sách tuyển sinh nâng đỡ người thiểu số. Nhưng phán quyết đó không cấm việc nhìn nhận bất công sắc tộc, cũng không cấm những chính sách trung lập nhằm giảm bớt bất công. Nhiều hành động của chính quyền chỉ dựa trên những lời khẳng định chung chung là “trái luật,” mà không chỉ rõ là luật nào.
Điều khiến người ta khó hiểu hơn hết, là chính quyền Trump không áp dụng luật lệ một cách đồng đều cho mọi trường hợp. Có những thứ bị cấm, bị gỡ bỏ rất nhanh; trong khi những thứ khác, dù gây tranh cãi nặng nề hơn, lại được du di cho qua.
Thí dụ, trong các thư viện của quân đội, những cuốn sách nói về nạn kỳ thị sắc tộc hay lịch sử đấu tranh dân quyền bị loại ra khỏi kệ sách. Nhưng cùng lúc đó, những cuốn sách ca ngợi tư tưởng Đức Quốc Xã, hoặc cho rằng các sắc tộc có trí thông minh khác nhau, thì vẫn được giữ lại. Chuyện người tị nạn cũng vậy: họ tạm ngưng nhận người tị nạn từ Á Châu và Phi Châu nhưng lại mở cửa cho những người da trắng từ Nam Phi.
Sau một năm nhìn lại, khó có thể nói đây chỉ là những thay đổi nhỏ nhặt. Khi cộng dồn tất cả lại, người ta thấy rõ một điều: những hệ thống từng giúp Hoa Kỳ tiến gần hơn tới một xã hội cởi mở và công bằng đang bị tháo gỡ từng lớp. Nói cách khác, hướng đi của nền dân chủ đang bị bẻ lái sang một quỹ đạo khác, với những hậu quả vô cùng nghiêm trọng.
Cung Mi lược dịch
Nguồn: “12 ways the Trump administration dismantled civil rights law and the foundations of inclusive democracy in its first year” được đăng trên trang TheConversation.com.
Gửi ý kiến của bạn



