Hôm nay,  

Tại Sao “Kịch Văn Học” Gần Như Biến Mất Trong Văn Chương Hiện Thời?

30/01/202600:00:00(Xem: 1028)
 
VB--(12)
Ảnh minh họa: một trang sách và bộ sách Kịch Bản Văn Học của Trần Đình Ngôn.
 
Những suy nghĩ dưới đây như một cách tự đối thoại với câu hỏi của chính mình: tại sao “kịch văn học” gần như biến mất trong văn chương hải ngoại?
 
Trước hết cần phân biệt kịch văn học và kịch giải trí. Kịch giải trí hướng đến tiếng cười và cảm xúc tức thời của khán giả. Nó có thể linh hoạt, ứng biến, thậm chí chấp nhận đơn giản hóa xung đột để phục vụ nhu cầu thưởng thức (ví dụ: kịch trình diễn trên Paris By Night). Kịch văn học thì khác. Nó không tìm cách làm vừa lòng người xem, mà đặt con người vào những tình huống va chạm gay gắt, buộc nhân vật phải lựa chọn, đối diện và trả giá. Ở đó, đối thoại không chỉ để kể chuyện, mà để phơi bày mâu thuẫn tinh thần, xã hội và đạo lý.
 
Kịch trong văn học Miền Nam trước 75 từng có chỗ đứng đáng kể. Những vở kịch của Vũ Khắc Khoan, Nghiệm Xuân Hồng, Lữ Kiều… không phải lúc nào cũng được dàn dựng, nhưng vẫn được đọc, được bàn luận, được xem như một phần của đời sống tư tưởng. Kịch như vậy  không chỉ nói về sân khấu mà còn  được xem  như một cách thế suy nghĩ.
 
Chính vì mang bản chất ấy, kịch văn học luôn là một thể loại “khó sống”. Nó đòi hỏi người viết không chỉ có kỹ thuật, mà còn phải chấp nhận rủi ro: rủi ro bị hiểu lầm, bị phản ứng, thậm chí bị từ chối. Trong môi trường văn chương hiện thời - nơi văn học thường được kỳ vọng như một không gian gìn giữ ký ức, hàn gắn đổ vỡ và tránh né xung đột - kịch văn học dường như trở nên lạc lõng.
 
Phải chăng sự vắng bóng của kịch văn học không chỉ là vấn đề thể loại, mà là dấu hiệu của một thái độ sáng tác? Phải chăng chúng ta đang quen với những cách viết cho phép xung đột được giữ ở khoảng cách an toàn, trong khi e ngại những hình thức buộc xung đột phải bước ra ánh sáng, đối diện cộng đồng?
 
Từ câu hỏi đó, bài viết này thử nhìn lại vì sao kịch văn học - một thời từng hiện diện như tiếng nói trực diện của tư duy và trách nhiệm - nay gần như biến mất trong đời sống văn chương hiện thời.
 
Trong sinh hoạt văn học nhiều thập niên qua, thơ và văn xuôi vẫn chiếm ưu thế rõ rệt. Các tạp chí, tuyển tập, diễn đàn và sinh hoạt cộng đồng phần lớn xoay quanh thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, hồi ký. Đó là các thể loại thuận tiện để ghi lại ký ức chiến tranh, thân phận lưu vong, đời sống lao động, hay những va chạm âm thầm của kinh nghiệm di dân.
 
Những bài thơ về quê hương, những truyện ngắn về trại tị nạn, gia đình tan vỡ hay đoàn tụ xuất hiện đều đặn, tạo thành dòng chảy quen thuộc của thế hệ thứ nhất.
 
Trong vài thập niên gần đây, một lớp người viết thuộc thế hệ thứ hai và có thể cả thế hệ thứ ba xuất hiện, trưởng thành trong môi trường giáo dục và đại học Mỹ. Họ ít viết về chiến tranh hay vượt biên, mà quan tâm nhiều hơn đến bản sắc lai ghép, ngôn ngữ, giới tính, thân thể, những đứt gãy văn hóa và xung đột âm thầm giữa cá nhân với xã hội đa chủng. Nhưng dù đề tài và giọng điệu khác nhau, họ vẫn chủ yếu chọn thơ và văn xuôi là những thể loại cho phép suy tư cá nhân, thử nghiệm ngôn ngữ, và giữ một khoảng cách an toàn với xung đột trực diện.
 
Hiện thời, còn có thể thấy rõ một khuynh hướng đáng chú ý. Đó là nỗi ám ảnh ngôn ngữ được xem như mục đích của các nhà thơ. Trên Facebook và một số trang tạp chí, xuất hiện đều đặn với những bài thơ chủ yếu nhấn mạnh vào cảm giác “lạ” của chữ nghĩa - câu chữ được bẻ gãy, xếp đặt bất thường, tạo ấn tượng mới mẻ về mặt thị giác và âm thanh, nhưng thường không mấy bận tâm đến ý nghĩa được dẫn dắt hay xung đột được hình thành (ví dụ Thơ của Hoàng Xuân Sơn) Hiện tượng này không nhằm phê phán cá nhân, mà phản ánh một tâm thế sáng tác phổ biến: ngôn ngữ được đẩy lên phía trước, trong khi đời sống, hành động và va chạm bị lùi lại phía sau. Khi thơ trở thành nơi trú ẩn của trò chơi chữ và cảm giác, thì kịch - vốn đòi hỏi ngôn ngữ phải gắn chặt với hành động và hậu quả - lại càng khó có chỗ đứng.
 
Trong bức tranh đa tầng ấy, kịch gần như vắng bóng. Sự vắng bóng này không thuộc riêng một thế hệ hay khuynh hướng nào, mà trải dài qua nhiều lớp người viết. Không chỉ hiếm kịch bản được in trong các tạp chí hay đăng trên các trang mạng, mà ngay cả trong các cuộc trao đổi về văn chương, kịch cũng hiếm khi được nhắc đến như một thể loại sáng tác. Các khái niệm quen thuộc của thơ và văn xuôi như hình ảnh, giọng điệu, điểm nhìn, kết cấu được sử dụng thường xuyên, trong khi những khái niệm cốt lõi của kịch như hành động kịch, xung đột sân khấu, đối thoại trực diện hầu như không xuất hiện trong các nghiên cứu phê bình.
 
Một phần hiện tượng này có thể giải thích từ đặc tính thể loại. Thơ cho phép xung đột tồn tại như một rung động tinh thần. Mâu thuẫn không nhất thiết phải được gọi tên, càng không cần được giải quyết. Một cảm giác bứt rứt, một nỗi hoài nghi, một vết thương ký ức có thể được cô đặc trong vài dòng thơ mà không cần bối cảnh xã hội cụ thể. Người đọc không cần biết “chuyện gì đã xảy ra”, chỉ cần cảm nhận “có điều gì đó đã xảy ra”.
 
Văn xuôi, nhất là truyện ngắn, đưa xung đột tiến thêm một bước, nhưng vẫn cho phép nó được trì hoãn và che giấu. Người viết có thể kể chuyện qua ký ức, qua dòng ý thức, qua một người kể đứng giữa để làm dịu va chạm. Nhiều truyện ngắn gây ấn tượng không phải vì những gì xảy ra, mà vì những gì đã không xảy ra, đó là những đối thoại bị bỏ lỡ, những quyết định không được thực hiện.
 
Kịch thì không cho phép điều đó. Trên sân khấu - dù là sân khấu thực hay sân khấu tưởng tượng - xung đột không thể chỉ được nằm trong ý nghĩ, nó phải được nói ra và hành động. Không có người kể chuyện để giải thích, không có độc thoại nội tâm dài để làm chậm nhịp va chạm. Mọi mâu thuẫn phải hiện ra trong hành động và đối thoại trước mắt người khác. Viết kịch đồng nghĩa với việc buộc con người phải đối diện nhau trong cùng không gian và thời gian.
 
Chính từ đây, trong suy nghĩ của không ít người cầm bút, kịch văn học thường bị xem là “khó viết”, thuộc loại “cao xa”, một đích đến sau thơ và văn xuôi. Quan niệm ấy không nhằm xếp hạng giá trị, mà phản ánh cảm nhận rằng kịch đòi hỏi khả năng tổng hợp cao hơn và một thái độ khác hẳn: dám rời khỏi vùng an toàn của cảm xúc và ký ức để đối diện trực tiếp với đời sống chung. Chính thái độ e ngại đụng chạm đã đẫy kịch ra ngoài thói quen sáng tác. Khi kịch vừa bị xem khó viết, vừa thiếu độc giả có thói quen thích đọc kịch, thì khả năng xuất hiện những tác phẩm mới càng trở nên mong manh…
 
Cần nói thêm. Nếu chỉ viện dẫn lý do thiếu sân khấu, thiếu diễn viên, thiếu công chúng thì chưa đủ. Kịch, trước hết, vẫn tồn tại như một văn bản, một cách tư duy về con người và xã hội, có thể được đọc ngay cả khi không trình diễn. Việc kịch hầu như không được viết, không được đọc, và ít khi được bàn đến cho thấy vấn đề sâu hơn nằm ở điều kiện tinh thần.
 
Đời sống di dân, tự bản chất, là đời sống phân mảnh. Mỗi cá nhân mang theo một lịch sử riêng và phải học cách tự điều chỉnh để tồn tại trong xã hội mới. Trong bối cảnh ấy, văn chương dễ nghiêng về những hình thức cho phép quay vào bên trong: hồi tưởng, chiêm nghiệm, đối thoại với ký ức. Thơ và văn xuôi đáp ứng tốt nhu cầu đó. Kịch thì không. Nó đòi hỏi một không gian chung, nơi những va chạm cá nhân trở thành mâu thuẫn xã hội.
 
Trong môi trường mà sự hòa hợp bề ngoài thường được xem như điều kiện sinh hoạt chung, kịch dễ bị cảm nhận như hành vi gây xáo trộn. Thêm vào đó, văn chương hải ngoại thường được kỳ vọng mang tính nâng đỡ, an ủi, hàn gắn. Kịch, với bản chất đặt câu hỏi và phơi bày mâu thuẫn, hiếm khi làm được điều ấy một cách trực tiếp.
 
Viết kịch còn là thử thách về thái độ. Người viết phải chấp nhận buông bỏ quyền kiểm soát tuyệt đối, để tác phẩm được diễn giải, đối thoại, thậm chí phản biện bởi người khác. Với nhiều người cầm bút, đây không chỉ là khó khăn kỹ thuật, mà là rào cản tâm lý.
 
Từ đó, có thể nói: sự vắng bóng của kịch trong văn chương hải ngoại không phải vì nó không cần thiết, mà vì nó đặt ra những câu hỏi mà môi trường này chưa chắc đã sẵn sàng trả lời. Kịch sống bằng xung đột, trong khi cộng đồng lưu vong, sau chiến tranh và mất mát, thường hướng về sự ổn định và an toàn.
 
Vì thế, nghĩ về kịch không nên được hiểu như lời kêu gọi đổi thể loại hay tìm một “đỉnh cao” mới. Nó là một phép thử thái độ. Nó buộc ta tự hỏi: văn chương chỉ để gìn giữ và an ủi, hay còn để đối diện và đối thoại? Kịch, dù không được viết, vẫn tồn tại như một tấm gương phản chiếu cách người cầm bút đứng trước xung đột của đời sống chung.
 
Và có lẽ, câu hỏi cuối cùng không phải là: bao giờ chúng ta sẽ có kịch, mà là: khi xung đột xảy ra, ta đang đứng ở đâu? Đứng bên ngoài ánh đèn, hay ở trong vùng sáng của đối thoại?
 
Phan Tấn Uẩn 
 

Trong một tác phẩm cùng tựa đề, Nhà Văn Cung Tích Biền đã có lần từng ước muốn "Không nên có mặt". Tuy nhiên, như một định mệnh, ông vẫn sống, có mặt và phải chứng kiến đầy đủ mặn ngọt cuộc đời suốt hơn 90 năm như một chứng nhân của thời cuộc, của những thăng trầm, ly loạn của đất nước. Cuộc chiến Việt Nam từ giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp cho tới khi đất nước thống nhất mất 30 năm, thế mà ông văn nghiệp của ông đã kéo dài tới 65 năm. Có thể nói, ông là một nhà văn viết lâu, viết khoẻ và cũng là một chứng nhân giữa cuộc phong ba, khắc nghiệt của nước nhà. Bất kể bạn đồng ý hay không với những gì ông viết, bạn cứ đọc ông bạn sẽ hiểu rõ thân phận lạc loài của con người đứng giữa lằn ranh cuộc chiến. Bao nhiêu người bị chi phối trực hay gián tiếp trong cuộc tranh chấp máu lửa tương tàn, bị cắt đứt gốc rễ với quá khứ, không tìm thấy mục đích ở hiện tại và mơ hồ trước tương lai.
Đa số người Việt thích viết và đọc thơ tình vì khi đối diện với nghệ thuật, chúng ta thích thú bằng cảm tính. Chúng ta không mấy quan tâm về việc sử dụng học thuật để sáng tạo hoặc thưởng thức bài thơ, mà dùng học thuật sẵn có trong truyền thống như mượn thuyền sang sông. Ưu điểm là chúng ta có nhiều bài thơ tình, thơ cảm tính đặc sắc. Khuyết điểm là thơ chúng ta không theo kịp khả năng phát triển của thơ thế giới nói chung và thơ Tây phương nói riêng.
Đúng 1 giờ trưa thứ Năm, giờ Stockholm, Viện Hàn Lâm Thụy Điển công bố quyết định trao giải Nobel Văn Chương năm nay cho Anne Carson, người phụ nữ thứ 19 nhận được vinh dự này. Trong lời tuyên dương, Viện Hàn Lâm Thụy Điển vinh danh bà: “Vì sự nghiệp sáng tác táo bạo, độc đáo, qua cuộc đối thoại tài tình và dí dỏm với truyền thống văn chương cổ điển, đã khai mở những hình thức biểu đạt mới cho văn học đương đại.”
Trước tiên là chuyện cá độ văn học. Bởi vì người dám đưa tiền ra cá độ, hẳn là có lý do họ tin rất mực. Nếu nhìn vào các thị trường dự đoán và nhà cái về giải văn học trong những ngày trước mùa Nobel 2026, chưa có ứng viên nào vượt trội tuyệt đối. Nobel Văn học vẫn là giải khó đoán nhất vì Viện Hàn lâm Thụy Điển thường gây bất ngờ. Tuy nhiên, một số tên tuổi được nhắc đến nhiều nhất hiện nay.
Cầm bút để viết lên những ước mơ sẽ không còn tiếng súng trên đời này. Đó là những gì đẹp nhất một nhà văn có thể nói lên. Ngưng chiến tranh. Chúng ta tránh nói chữ “phản chiến,” một chữ quá quen thuộc có khi được dùng cho những nghĩa đen tối. Chúng ta muốn nói tới ước mơ không còn tiếng súng. Nơi đó, không ai còn phải giết nhau. Bao giờ thì biên giới sắc tộc, quốc gia và kỳ thị tôn giáo ngưng thúc đẩy nhân loại giết nhau? Bao giờ các chàng trai sẽ không còn phải chết cho tham vọng của các lãnh tụ? Bao giờ thế giới sẽ không còn các quả phụ trẻ, và bao giờ các em vị thành niên sẽ không còn phải học cách giết nhau? Trong dòng chảy văn học thế giới, những tác phẩm có giá trị bền vững nhất luôn luôn phải là văn học kêu gọi ngưng tiếng súng. Đó là những tiếng nói đứng về phía con người, không phục vụ bạo lực hay quyền lực.
Không phải tác phẩm ở một bên và cuộc đời ở một bên, rồi ta cố tìm vài chiếc cầu cho chúng gặp nhau. Có thể đơn giản hơn: người viết đem vào câu chữ chính cái con người đã sống, đã chịu đựng, đã nhìn, đã sai, đã mất, đã tìm đường trở lại với mình. Văn chương nếu có sức nặng lâu dài, đôi khi không phải vì nhà văn đứng cao hơn cuộc đời, mà vì họ đã đi đủ sâu vào nó mà vẫn còn mang được một cái gì đó trở ra.
Phát biểu của Trịnh Y Thư nhân buổi lễ Tưởng niệm 50 năm ngày qua đời của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, ngày 20 tháng 9 năm 2026 tại Quận Cam, California.
Trên thế gian này, không người nào không muốn có được cuộc sống hạnh phúc. Điều này cho thấy một sự thật khó chối cãi rằng là ai cũng đã từng trải nghiệm sự đau khổ trong đời mình! Hay nói cách khác, khổ đau là sự thật phổ quát ở trên đời. Chính vì vậy, tất cả mọi người đều mưu cầu hạnh phúc. Các nhà lập quốc Hoa Kỳ đã nhìn thấu rõ được sự thật ấy cho nên đã viết trong Tuyên Ngôn Độc Lập của nước Mỹ (The United States Declaration of Independence) rằng: “Chúng tôi giữ gìn những sự thật hiển nhiên này, rằng tất cả con người đều được tạo ra bình đẳng, rằng họ được Tạo Hóa ban cho một số quyền bất khả chuyển nhượng, rằng trong số những quyền này là quyền Sống, Tự Do và mưu cầu Hạnh Phúc.”
Đàn ông đòi hỏi gì ở phụ nữ? Những nét đặc trưng của Ham Muốn được Thỏa Mãn.Phụ nữ đòi hỏi gì ở đàn ông? Những nét đặc trưng của Ham Muốn được Thỏa Mãn. William Blake không đặt câu hỏi rộng, ông giới hạn lại trong cụm từ “đặc trưng,” Trong câu thơ của Blake, "the lineaments of Gratified Desire" được dịch là "những nét đặc trưng của ham muốn được thỏa mãn". Từ "lineaments" trong tiếng Anh vốn nghĩa gốc là những đường nét trên khuôn mặt, những đặc điểm hình thể có thể nhìn thấy được, giống như khi ta nói "gương mặt có những đường nét thanh tú". Blake không nói ham muốn được thỏa mãn một cách trừu tượng, mà nói đến những dấu vết cụ thể, có thể nhìn thấy được trên gương mặt hay dáng vẻ của một người, khi ham muốn của họ đã được đáp ứng. Và từ neo là “đòi hỏi.” Đòi hỏi là nhu cầu, không phải ước mơ, không phải là cầu xin. Điều này cho rõ là đàn ông và phụ nữ cần nhau vì có nhu cầu đòi hỏi Blake đặt câu hỏi rồi tự trả lời. Hai câu trả lời giống hệt nhau, không phân biệt nam hay nữ. Bài thơ
Buổi sáng ngày cuối cùng của tháng 8, một thanh niên 20 tuổi tên Pierre Damas Bel đậu chiếc Toyota bên xa lộ Interstate 70, ngoại ô Springfield, Ohio. Cậu bước ra khỏi xe, điềm nhiên bước thẳng vào làn xe đang lao tới. Vài phút sau, câu chuyện của cậu xuất hiện trên khắp báo đài nước Mỹ, đất nước cậu đặt chân đến năm 2024, sum họp với cha mẹ của mình – những di dân chạy trốn nạn bạo lực băng đảng ở Haiti. Pierre vừa tốt nghiệp trung học được vài tuần. Cậu từng là cầu thủ đội bóng đá của trường, từng được vinh danh trong chương trình JROTC, và mùa Thu này lẽ ra đã bước chân vào đại học Wright State, ấp ủ giấc mơ trở thành bác sĩ. Đầu mùa Hè này, sau khi Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ (TCPV) mở đường cho chính quyền Donald Trump chấm dứt quy chế Bảo Vệ Tạm Thời (TPS) dành cho người Haiti, cơ quan di trú gắn lên chân cậu một chiếc vòng theo dõi GPS. Cậu nói với người thân rằng nó khiến cậu cảm thấy mình như một con vật.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.