Hôm nay,  

Tino Cao: Người không khoan nhượng với Lịch sử truyền thống

02/03/202617:30:00(Xem: 1687)

Screenshot 2026-03-02 170727 

1.
 
Giải Văn Việt lần thứ Mười Một, năm 2025, thể loại Nghiên cứu Phê bình đã được công bố hôm 3/3/2026: Nhà phê bình Tino Cao.
 
Trong tư cách là một trong năm thành viên Ban Xét giải, tôi xin có đôi điểu nhận xét đơn sơ về nhà phê bình Tino Cao.
 
Một nhà phê bình văn học không chỉ đơn thuần là người “yêu sách vở” hay có vốn từ vựng phong phú, biết khéo léo sử dụng những thuật ngữ văn học lạ tai để tô điểm cho bài nghiên cứu phê bình của mình mang vẻ hàn lâm trí tuệ, mà là người biết kết hợp chặt chẽ giữa trí tuệ với một loại cảm thông giàu trí tưởng tượng. Họ có thể phân tích một văn bản một cách chính xác đồng thời cảm nhận được những cộng hưởng về mặt cảm xúc, lịch sử và văn hóa của nó.
 
Tôi rất tâm đắc với quan niệm “đọc” của nhà phê bình văn học Bùi Vĩnh Phúc. Theo anh, một tác phẩm văn học là một thế giới “mở”, nó cho phép người đọc đi vào bằng những cánh cửa khác nhau, một thế giới chấp định, bởi nó có thể chứa đựng trong đó muôn trùng lớp nghĩa; ý nghĩa của nó không bao giờ là một ý nghĩa chung cuộc, dứt khoát, nó có thể thay đổi tùy theo cái nhìn, góc nhìn của người đọc, tùy theo thái độ quan sát, trải nghiệm sống, tri thức, tâm lý của người đọc ấy.
 
Tino Cao là một người đọc, một nhà phê bình như vậy. Anh mở một cánh cửa đi vào cõi văn chương mà không chấp nhận, hoàn toàn không khoan nhượng, một chủ thuyết hay chủ nghĩa nào. Cái đọc của anh là một khả thể cá thể, nó chấp nhận những khả thể khác, không nhất thiết phải giống anh, bằng một cánh cửa khác, cùng đi vào ngôi nhà văn chương. Cái anh tìm kiếm không phải chân lý, mà là một trong nhiểu khả lý khác nhau.
 
Anh đọc kỹ, chăm chú, nhận thấy những mô-típ, chủ đề, sự thay đổi giọng điệu và những lựa chọn cấu trúc mà người đọc thông thường bỏ sót. Anh giải thích cách một văn bản tạo ra hiệu ứng của nó như thế nào, không chỉ là những gì xảy ra, mà những gì không xảy ra. Đó chính là những câu chữ không được viết xuống, những dấu lặng trong tấu khúc giao hưởng, những ý nghĩa giữa những hàng chữ, mà nếu ta không nhận thức được thì tác phẩm văn học đối với ta trở thành xơ cứng, nhạt nhẽo, thậm chí vô nghĩa.
 
Phê bình truyện ngắn Lòng trần của nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ, Tino Cao viết: “Nguyễn Thị Thụy Vũ triển khai toàn bộ cấu trúc truyện như một phép thử về giới hạn của đạo đức và về sự bất khả của việc tách linh hồn ra khỏi thân thể. Tác phẩm không đặt câu hỏi ‘Con người có thể thoát tục hay không’ mà truy xét một vấn đề sâu hơn: bản thể của con người được cấu thành bởi điều gì, tinh thần hay thân xác, hay chính là sự căng kéo giữa hai miền ấy.”
 
Chính những suy ngẫm như thế đã làm nên nhà phê bình. Tino Cao không chỉ lặp lại những ý kiến ​​thời thượng hay những quan điểm chính thống trong giới học thuật, anh tự sắm cho mình một thứ triết lý, không hẳn phải nằm trong một triết hệ tiên nghiệm, mà rất đời thường.
 
Cũng trong bài viết về Nguyễn Thị Thụy Vũ, anh viết: “Cái tên Lòng trần vì thế không phải là một tiếng thốt cảm thán mà là một cách định nghĩa. Con người, dù ở đâu, dù khoác áo gì, vẫn mang trong mình một lòng trần không thể xóa. Và chính lòng trần ấy là nơi bắt đầu của mọi nhận thức, mọi đạo lý, mọi ý tưởng sáng tạo cho nghệ thuật được xuất hiện và đồng hành với con người trong cõi nhân sinh.”
 
Tôi nghĩ đây chính là điểm mạnh của Tino Cao trong lĩnh vực phê bình. Anh không dựa nhiều vào các triết luận Tây phương (nhiều khi rất xa lạ với người đọc Việt Nam), mà là những nhận thức đời thường, vốn từng ăn sâu vào tâm thức người đọc, nhờ đó, dễ tiếp cận và tiếp nhận hơn.
 
Trong thiên tiểu luận về truyện ngắn Tặng phẩm của dòng sông của nhà văn quá cố Nhật Tiến, anh viết: “… vì thế không chỉ là truyện ngắn hiện thực về chiến tranh. Nó là một văn bản suy tưởng về sự phân rã của đạo đức và của ký ức, về nhân dạng con người khi bị hoàn cảnh ép đến khô kiệt. […] Tặng phẩm của dòng sông không chỉ là một lát cắt hiện thực mà còn khắc vào ký ức người đọc hình ảnh một vùng tối của lịch sử, nơi nhân tính phải cầm cự trước một hiện thực phi lý đến nghẹt thở.”
 
Nhận thức về lịch sử và văn hóa, nhà phê bình hiểu thế giới mà một văn bản xuất phát từ đó: chính trị, ngôn ngữ, những căng thẳng xã hội, thực tại phi lý. Đặt một tác phẩm trong bối cảnh lịch sử văn học để cho thấy nó phản ánh hoặc thách thức các truyền thống trước đó như thế nào. Lịch sử, trong mắt Tino Cao, không hẳn chỉ là nghịch cảnh tàn bạo, mà còn va chạm đến bản thể con người bị phân rã toàn diện khi đứng trước vực thẳm. Bi kịch của Lịch sử không hẳn chỉ ở cảnh máu lửa khổ đau mà ở chỗ nhân tính bị triệt tiêu.
 
2.
 
Nói Tino Cao không xem triết học là yếu tố quan trọng trong phê bình văn học là không hoàn toàn đúng đắn. Sự thật là anh đã đem tư tưởng Triết học Hiện sinh của Jean-Paul Sartre và Albert Camus làm nền tảng cho luận điểm của mình về dục tính trong các tác phẩm tiểu thuyết của nhà văn Nhật Bản Haruki Murakami. Trong mắt nhìn của anh, khoảnh khắc hai thân thể nhập vào nhau trong tiểu thuyết Murakami là khoảnh khắc vong thân, khi “con người đối diện rõ ràng nhất với sự cô đơn tuyệt đối của bản ngã, mà tự nó, đã là cốt lõi sâu thẳm của tồn tại.” Nó mang sắc thái của “địa ngục là tha nhân” trong Triết học Hiện sinh của Jean-Paul Sartre, hay, xa lạ và khó liên tưởng hơn, là cái phi lý của hiện tồn trong Triết học Hiện sinh Phi lý của Albert Camus. Sự cô đơn của con người đến từ lòng khát khao muốn nhận thức một ý nghĩa bên trong một vũ trụ hoàn toàn dửng dưng, im lặng. Con người là một “kẻ lạ” sống trong một thế giới phi lý, vô ý nghĩa, nhưng theo Camus, thì phản ứng thích hợp để đối đầu với sự phi lý là hãy sống cho có mục đích và mãnh liệt, hầu tạo ra ý nghĩa của riêng ta trong một vũ trụ không có ý nghĩa nào.
 
Triết học và Phê bình Văn học luôn gắn bó mật thiết với nhau, cả hai đều là những ngành học cùng chia sẻ mối quan tâm sâu sắc đến ý nghĩa, sự diễn giải và bản chất của trải nghiệm con người. Triết học cung cấp cơ sở luận giải cho những câu hỏi mà Phê bình đặt ra, bởi Phê bình không bao giờ chỉ là câu hỏi “Cuốn sách này có hay không?” mà là “Văn bản này tiết lộ điều gì.” Hầu như tất cả những phạm trù Triết học như Chân lý, Bản sắc, Đạo đức, Tự do, Quyền lực, Cái Đẹp, vv., đều ít nhiều giao thoa với văn học. Một nhà phê bình khi đặt câu hỏi “Cuốn tiểu thuyết này nói gì về thân phận con người?” thì mặc nhiên người đó đã đang mặc áo triết gia rồi.
 
Tino Cao là một nhà phê bình như thế.
 
Tuy vậy, mặc dù có nêu tư tưởng Hiện sinh làm cơ sở lý luận cho văn chương của Murakami, của Nguyễn Tuân trong tác phẩm Chùa đàn, vv., nhưng Tino Cao có vẻ “mặn mà” hơn với Triết học Đông phương được thể hiện trong hệ tư tưởng Phật giáo Đại thừa. Có lẽ bởi thế anh đã dành khá nhiều câu chữ viết về hai vị cao tăng danh tiếng trong lịch sử Phật giáo Việt Nam thời hiện đại: Thích Tuệ Sỹ và Thích Trí Quang. Anh đặc biệt kính ngưỡng Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ. Trong bài viết nhan đề Nhớ Thầy trong Piano Sonata 14, anh viết: “Trước mặt tôi không phải một nhân vật được bao phủ bởi nhiều huyền thoại mà là một người gầy gò, tĩnh lặng và an nhiên đến lạ. Ánh mắt Thầy sáng trong và chất chứa sự sâu lắng của một người đã đi qua nhiều biến cố mà không để chúng xô lệch phần cốt lõi bên trong.” Và, ở một đoạn khác, “… Ở đó có cái gì gần với huyền ảo, nhưng không phải huyền bí tôn giáo. Nó gần với cảm thức rằng có những người đã đi qua đến tận bên lề của cái-gọi-là thực tại, nhìn rõ bộ mặt bấp bênh của nó, rồi quay về với một cái nhìn trong sáng hơn.”
 
Nói cho cùng, “bên lề của cái-gọi-là thực tại” của Tuệ  Sỹ phải chăng chính là “vũ trụ dửng dưng, im lặng” của Camus, và hành động “quay về với một cái nhìn trong sáng hơn” của Đông phương thì đồng nghĩa với hành trạng “phản ứng thích hợp để đối đầu với sự phi lý là hãy sống cho có mục đích và mãnh liệt, hầu tạo ra ý nghĩa của riêng ta trong một vũ trụ không có ý nghĩa nào” của Tây phương?
 
Tino Cao dấn thêm một bước nữa đi sâu hơn vào biện biệt đạo-đời trong bài tiểu luận Huyền thoại Duy-ma-cật: Triết học của trí tuệ bất nhị và đời sống nhập thế.
 
Huyền thoại Duy-ma-cật là một chuyên luận của Tuệ Sỹ, mà theo Tino Cao, tác phẩm không chỉ là một thiên khảo cứu về kinh điển Đại thừa mà còn là một cuộc đối thoại mở giữa triết học, văn chương và tâm linh. Anh lý luận, “vì đạo không nằm ngoài cuộc sống mà chính là cách con người hiện diện trong từng hoàn cảnh với sự tỉnh thức và trí tuệ” nên “người giác ngộ không cần trốn khỏi thế giới mà cần thấy rõ bản chất của nó bằng con mắt không phân biệt. Tự do, theo tinh thần ấy, không đến từ sự cắt đứt với đời mà từ khả năng sống giữa đời mà không bị đời chi phối.”
 
Kỳ thực, ý niệm này không mới, nó chính là tư tưởng chủ đạo trong khái niệm “Cư trần lạc đạo”, vốn là một trong những ý niệm đẹp đẽ và độc sáng nhất trong tư tưởng Phật giáo Việt Nam, thể hiện triết lý tâm linh của Tôn giả Trần Nhân Tông một cách rõ ràng đáng kinh ngạc. Thoạt nhìn có vẻ đơn giản, nhưng hàm ý của nó lại vô cùng sâu sắc.
 
“Cư trần lạc đạo” xuất phát từ bài Cư trần lạc đạo phú của vua Trần Nhân Tông, và ta có thể hiểu theo nghĩa đen là: “Sống trong thế gian, nhưng hãy vui hưởng trong Đạo.” Nó thể hiện một nhận thức cốt lõi của truyền thống Thiền học Trúc Lâm: Bạn không cần phải trốn tránh thế gian để đạt được giác ngộ. Bạn có thể sống trọn vẹn trong xã hội – làm việc, cai quản, nuôi dạy gia đình, yêu đương, đối mặt với xung đột – mà vẫn có thể tu tập hoàn thiện để giác ngộ. Đây là khác biệt lớn lao so với định kiến ​​về sự từ bỏ thế tục trong Phật giáo.
 
Triết lý đằng sau khái niệm của Trần Nhân Tông dựa trên ý tưởng: Giác ngộ không ở nơi khác. Ngài bác bỏ ý tưởng cho rằng giải thoát tâm linh đòi hỏi phải rời bỏ xã hội, phải từ bỏ trách nhiệm, phải lui về non cao rừng thẳm hay vào chùa sinh sống, vv. Thay vào đó, cái “thế giới bụi bặm” (trần) này tự nó là lĩnh vực, môi trường tu tập, tự nó là nơi chốn cho ta hành đạo. Điều này phù hợp với sự nhấn mạnh của Thiền tông về tính bất nhị: Không có sự phân biệt nghiêm ngặt giữa thiêng liêng và trần tục.
 
Đó cũng là ý nghĩa mà Tino Cao rút tỉa từ cuốn sách của Tuệ Sỹ khi anh viết, “… Kinh nghiệm bất nhị mà Duy-ma-cật nêu ra không khiến con người rút lui khỏi thế giới mà giúp họ hiện diện trong thế giới với sự tỉnh táo. Đó là khả năng tham dự mà không bị cuốn trôi, biết phân biệt đúng sai nhưng không dựng lên bức tường hận thù, biết dấn thân mà không để mình bị đốt cháy trong cơn giận dữ hay ảo tưởng cứu rỗi.”
 
Lý thuyết là vậy, nhưng thực hành là chuyện khác. Đem ánh sáng trí tuệ của Phật học vào đời sống hằng ngày – sống giữa đời trần tục mà không đánh mất cái tâm, hành đạo giữa đời hầu tìm kiếm con đường giác ngộ – không phải là chuyện ai cũng làm được một cách dễ dàng.
 
3.
 
Tino Cao không dừng ngòi bút của mình tại đường biên thông thường của văn chương chữ nghĩa, anh là người quan tâm đến xã hội với tất cả  những xô lệch của Lịch sử, những điều tàn bạo phi lý của chiến tranh. Với tấm lòng nhân hậu và cái nhìn nhân bản, anh đã kết nối văn chương của nhà văn Han Kang (giải Nobel Văn học, 2024) với cuộc thảm sát người dân Palestine tại Dải Gaza trong thời điểm hiện tại. Anh viết, “… Đọc Han Kang lúc này không còn là một thao tác đánh giá Nobel đã lựa chọn “đúng” hay “sai” mà là một nỗ lực đặt lại câu hỏi căn bản hơn về khả năng và giới hạn của văn chương khi đối diện với thảm sát. Văn chương làm chứng vận hành ra sao khi bạo lực không phải là sự kiện đã khép lại mà là một tiến trình được tổ chức, hợp thức hóa và tái diễn dưới những hình thức khác nhau của quyền lực đế quốc và các thiết chế phụ thuộc vào nó.”
 
Đối với Tino Cao, văn chương không thuần túy chỉ là một nghệ thuật làm đẹp nhằm thỏa mãn các nhu cầu trí thức, mà phải “gắn chặt với hiện tại khi mà bạo lực chiến tranh vẫn tiếp diễn và không ngừng tìm kiếm sự hợp thức hóa.”
 
Tôi chẳng thể nào không đồng ý với anh, bởi văn học luôn là một trong những phương thức mạnh mẽ nhất của nhân loại để chống lại nỗi kinh hoàng của chiến tranh, không phải bằng cách lên án sự tàn bạo của nó (sự tàn bạo, chính nó đáng bị phỉ nhổ rồi), mà bằng cách làm cho nó trở nên hữu hình, dễ liên tưởng suy ngẫm và biến thành lời kêu gọi cấp bách về mặt đạo đức. Khi nhìn vào các nền văn hóa và các thế kỷ khác nhau, bạn sẽ thấy cùng một mô hình: văn học trở thành một lực lượng đối trọng với bạo lực, bởi vì nó có thể làm được những điều mà các bài phát biểu chính trị, số liệu thống kê và báo cáo chiến trường không thể làm được.
 
Văn học khôi phục lại bộ mặt con người mà chiến tranh đã xóa bỏ.
Chiến tranh biến con người thành những con số, mục tiêu, hoặc đưa ra những khái niệm trừu tượng như “kẻ thù”, “chiến thắng” hoặc “sự hy sinh”, “đấu tranh”, vv., trong lúc văn học đảo ngược quá trình đó. Một cuốn tiểu thuyết, một bài thơ, một cuốn hồi ký mang lại tên tuổi, ký ức, đời sống nội tâm, sự mâu thuẫn, nỗi sợ hãi và hy vọng của con người trở lại với thực tại. Đây là lý do vì sao những tác phẩm như Tất cả yên tĩnh tại mặt trận miền Tây của Erich Maria Remarque; Lò sát sinh số Năm của Kurt Vonnegut; Những thứ họ mang theo của Tim O’Brien; Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, hay cuốn hồi ký tù Đêm giữa ban ngày của Vũ Thư Hiên, cùng rất nhiều tác phẩm chiến tranh khác, mang tính phản kháng mạnh mẽ. Những tác phẩm văn học này khẳng định rằng mỗi con người, mỗi nạn nhân, là một ý thức nội tại có ý nghĩa, chứ không phải một biểu tượng, một con số vô cảm trong Lịch sử.
 
Cùng một biểu cảm như vậy, và với giọng điệu đầy thách thức, Tino Cao viết, “… Giá trị của văn chương nằm ở việc phá vỡ trạng thái chấp nhận đã trở nên quen thuộc đối với thế giới đang tồn tại.”
 
Tino Cao cũng quan tâm đến khí hậu và môi trường của các sinh hoạt tri thức trong quốc gia Việt Nam. Trong bài viết, nửa tường thuật nửa phê bình, Việt Nam học và câu hỏi về cơ chế tri thức, anh đưa ra nhận xét về một mâu thuẫn mà người trong giới xưa nay đều thấy rõ: “… Tri thức được khuyến khích nhưng vẫn phải được kiểm soát; học thuật được tôn vinh nhưng không được phép vượt khỏi khung giới hạn của hệ tư tưởng.”
 
Điều này là hiển nhiên, bởi đè nặng lên đất nước Việt Nam cho đến ngày nay, hơn năm mươi năm sau khi chiến tranh chấm dứt, vẫn là một cơ cấu thể chế độc tài đảng trị, toàn trị, công an trị. Mọi phản biện đều bị quy chụp là phản động, và có thể bị tù đày, thậm chí chết chóc. Bởi thế, theo anh, “… tri thức ở Việt Nam chưa bao giờ được xem như một lực lượng độc lập. Nó được gắn vào những mục tiêu chính trị, phát triển hoặc tuyên truyền, và vì thế, vai trò của học giả bị thu hẹp vào việc hợp thức hóa những định hướng đã được xác lập.” […] Khoảng cách giữa nghiên cứu và hành động, đó là vấn đề cốt lõi nhất của học thuật Việt Nam hiện nay. Các viện nghiên cứu không được vận hành như trung tâm tri thức độc lập mà như cánh tay nối dài của bộ máy hành chính. Nhà nghiên cứu không phải là người đặt câu hỏi mà là người viết báo cáo. Họ bị cuốn vào vòng xoáy của “nghiệm thu, đánh giá, tổng kết”, thay vì được khuyến khích phản biện, thảo luận, hoặc đặt vấn đề mới.”
 
Những nhận xét và yêu cầu của Tino Cao trong bài viết nêu trên là chính xác và đúng đắn, không ai có thể phản bác lại được, nhưng thử hỏi, với một cơ chế lãnh đạo đất nước xem văn học, nói riêng, học thuật, nói chung, là công cụ tuyên truyền cho chính trị, thì biết đến bao giờ và làm thế nào tri thức Việt Nam mới có tự do trong tư tưởng, độc lập trong việc làm?
 
4.
 
Phải nói thêm về một ưu điểm khác nữa của Tino Cao, đó là, văn phong của anh mạch lạc, hấp dẫn và thường rất trau chuốt; ngoài phạm vi lý luận, Phê bình ở đây trở thành một hình thức văn học. Anh rất xứng đáng được giải Văn Việt, thể loại Nghiên cứu Phê bình năm 2025 này.
 
Ngoài ra, cũng xin thú thực với anh cùng các độc giả rằng tôi đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc xét giải, bởi giữa ba nhà phê bình được vào chung kết – Tino Cao, Nguyễn Hồng Anh và Đinh Thanh Huyền – tôi đã cảm thấy vô cùng lúng túng, không biết chọn ai, vì ai cũng có ưu điểm, vượt trội hơn bình thường. Nhưng rồi, tiếng chuông báo hiệu hết giờ của anh Hoàng Dũng réo gọi hối thúc bên tai khiến tôi phải lật đật đặt bút xuống…
 
Khó khăn. Lúng túng. Nhưng vui mừng. Vui mừng vì nhìn thấy sự trưởng thành, lớn mạnh của ngành Phê bình Văn học Việt Nam; dần dà nó thoát ra khỏi cái bóng ma ý thức hệ chính trị khiếp hãi, mà trong suốt bao nhiêu năm đè nặng lên tâm thức người viết và người đọc. Xin cảm ơn tất cả. Vì tất cả đã giúp người đọc nhìn nhận văn học như một phần của cuộc đối thoại rộng lớn hơn về ý nghĩa của việc làm người.
 

– Trịnh Y Thư

(Tháng Hai, 2026)

Trước tiên là chuyện cá độ văn học. Bởi vì người dám đưa tiền ra cá độ, hẳn là có lý do họ tin rất mực. Nếu nhìn vào các thị trường dự đoán và nhà cái về giải văn học trong những ngày trước mùa Nobel 2026, chưa có ứng viên nào vượt trội tuyệt đối. Nobel Văn học vẫn là giải khó đoán nhất vì Viện Hàn lâm Thụy Điển thường gây bất ngờ. Tuy nhiên, một số tên tuổi được nhắc đến nhiều nhất hiện nay.
Cầm bút để viết lên những ước mơ sẽ không còn tiếng súng trên đời này. Đó là những gì đẹp nhất một nhà văn có thể nói lên. Ngưng chiến tranh. Chúng ta tránh nói chữ “phản chiến,” một chữ quá quen thuộc có khi được dùng cho những nghĩa đen tối. Chúng ta muốn nói tới ước mơ không còn tiếng súng. Nơi đó, không ai còn phải giết nhau. Bao giờ thì biên giới sắc tộc, quốc gia và kỳ thị tôn giáo ngưng thúc đẩy nhân loại giết nhau? Bao giờ các chàng trai sẽ không còn phải chết cho tham vọng của các lãnh tụ? Bao giờ thế giới sẽ không còn các quả phụ trẻ, và bao giờ các em vị thành niên sẽ không còn phải học cách giết nhau? Trong dòng chảy văn học thế giới, những tác phẩm có giá trị bền vững nhất luôn luôn phải là văn học kêu gọi ngưng tiếng súng. Đó là những tiếng nói đứng về phía con người, không phục vụ bạo lực hay quyền lực.
Không phải tác phẩm ở một bên và cuộc đời ở một bên, rồi ta cố tìm vài chiếc cầu cho chúng gặp nhau. Có thể đơn giản hơn: người viết đem vào câu chữ chính cái con người đã sống, đã chịu đựng, đã nhìn, đã sai, đã mất, đã tìm đường trở lại với mình. Văn chương nếu có sức nặng lâu dài, đôi khi không phải vì nhà văn đứng cao hơn cuộc đời, mà vì họ đã đi đủ sâu vào nó mà vẫn còn mang được một cái gì đó trở ra.
Phát biểu của Trịnh Y Thư nhân buổi lễ Tưởng niệm 50 năm ngày qua đời của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, ngày 20 tháng 9 năm 2026 tại Quận Cam, California.
Trên thế gian này, không người nào không muốn có được cuộc sống hạnh phúc. Điều này cho thấy một sự thật khó chối cãi rằng là ai cũng đã từng trải nghiệm sự đau khổ trong đời mình! Hay nói cách khác, khổ đau là sự thật phổ quát ở trên đời. Chính vì vậy, tất cả mọi người đều mưu cầu hạnh phúc. Các nhà lập quốc Hoa Kỳ đã nhìn thấu rõ được sự thật ấy cho nên đã viết trong Tuyên Ngôn Độc Lập của nước Mỹ (The United States Declaration of Independence) rằng: “Chúng tôi giữ gìn những sự thật hiển nhiên này, rằng tất cả con người đều được tạo ra bình đẳng, rằng họ được Tạo Hóa ban cho một số quyền bất khả chuyển nhượng, rằng trong số những quyền này là quyền Sống, Tự Do và mưu cầu Hạnh Phúc.”
Đàn ông đòi hỏi gì ở phụ nữ? Những nét đặc trưng của Ham Muốn được Thỏa Mãn.Phụ nữ đòi hỏi gì ở đàn ông? Những nét đặc trưng của Ham Muốn được Thỏa Mãn. William Blake không đặt câu hỏi rộng, ông giới hạn lại trong cụm từ “đặc trưng,” Trong câu thơ của Blake, "the lineaments of Gratified Desire" được dịch là "những nét đặc trưng của ham muốn được thỏa mãn". Từ "lineaments" trong tiếng Anh vốn nghĩa gốc là những đường nét trên khuôn mặt, những đặc điểm hình thể có thể nhìn thấy được, giống như khi ta nói "gương mặt có những đường nét thanh tú". Blake không nói ham muốn được thỏa mãn một cách trừu tượng, mà nói đến những dấu vết cụ thể, có thể nhìn thấy được trên gương mặt hay dáng vẻ của một người, khi ham muốn của họ đã được đáp ứng. Và từ neo là “đòi hỏi.” Đòi hỏi là nhu cầu, không phải ước mơ, không phải là cầu xin. Điều này cho rõ là đàn ông và phụ nữ cần nhau vì có nhu cầu đòi hỏi Blake đặt câu hỏi rồi tự trả lời. Hai câu trả lời giống hệt nhau, không phân biệt nam hay nữ. Bài thơ
Buổi sáng ngày cuối cùng của tháng 8, một thanh niên 20 tuổi tên Pierre Damas Bel đậu chiếc Toyota bên xa lộ Interstate 70, ngoại ô Springfield, Ohio. Cậu bước ra khỏi xe, điềm nhiên bước thẳng vào làn xe đang lao tới. Vài phút sau, câu chuyện của cậu xuất hiện trên khắp báo đài nước Mỹ, đất nước cậu đặt chân đến năm 2024, sum họp với cha mẹ của mình – những di dân chạy trốn nạn bạo lực băng đảng ở Haiti. Pierre vừa tốt nghiệp trung học được vài tuần. Cậu từng là cầu thủ đội bóng đá của trường, từng được vinh danh trong chương trình JROTC, và mùa Thu này lẽ ra đã bước chân vào đại học Wright State, ấp ủ giấc mơ trở thành bác sĩ. Đầu mùa Hè này, sau khi Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ (TCPV) mở đường cho chính quyền Donald Trump chấm dứt quy chế Bảo Vệ Tạm Thời (TPS) dành cho người Haiti, cơ quan di trú gắn lên chân cậu một chiếc vòng theo dõi GPS. Cậu nói với người thân rằng nó khiến cậu cảm thấy mình như một con vật.
Buổi tối hôm đó, gió thổi nhẹ qua những hàng quán nhỏ, và trong một góc phố không mấy nổi bật, tôi thấy Jean-François Lyotard ngồi một mình trước một quán mì gói bình dân. Không phải quán fancy kiểu “mì ramen concept Japan fusion” gì cả. Chỉ là một quán lề đường với cái mái tôn lủng vài lỗ, mấy cái ghế nhựa xanh đỏ, và mùi hành phi thơm theo cách… giới hạn ngân sách.
Chiều Chủ Nhật, 23 tháng Tám, độc giả Việt Báo lâu nay quen gặp nhà văn Ngu Yên qua những bài bình luận trên trang nhất đã có dịp gặp ông “bằng xương bằng thịt” — để chuyện trò, nghe thơ, nghe nhạc, và quan trọng hơn hết, để “rước” sách ông về nhà. Từ Houston sang Nam California, Ngu Yên có một buổi ra mắt sách đông vui ngoài dự liệu. Bước lên sân khấu, nhìn hơn một trăm khách từ nhiều nơi về ngồi kín Coffee Factory, ông cảm động theo kiểu rất ‘Ngu Yên’: “Có lẽ quý vị yêu sách. Có lẽ quý vị yêu tôi, hay yêu Việt Báo. Cũng có lẽ quý vị hơi… không bình thường, khi bỏ một buổi chiều Chủ Nhật đẹp như hôm nay để đến đây ngồi nghe chúng tôi nói chuyện chữ nghĩa.” Khán phòng cười ồ. Và từ phút đó, buổi ra mắt sách không còn giống một buổi ra mắt sách ‘bình thường’ nữa. Nhà báo Đinh Quang Anh Thái dí dỏm ví đây là một “lễ rước sách.”
Bài viết này là câu chuyện về một cuộc tranh đấu khác trong chiến tranh: giữ lại bằng chứng rằng một con người đã từng sống, từng yêu, từng nhớ, trước khi họ bị xóa khỏi thế gian.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.