Hôm nay,  

Cụ Tượng – Từ Hơi Thở Cá Nhân Đến Chứng Tích Hiện Sinh

20/11/202516:13:00(Xem: 454)
Tranh Bui Chat
Tranh Bùi Chát

Đọc statement Cụ tượng của Bùi Chát, tôi có cảm giác như nghe một tiếng thở ra, khàn khàn nhưng gấp gáp, như thể nếu không được thở, người ta sẽ ngạt thở đến chết. Cái “cụ tượng” mà anh nói tới, không phải một mỹ từ để tô điểm sự nghiệp, cũng chẳng phải một thuật ngữ nghệ thuật học cầu kỳ, mà là nhu cầu sinh tồn: tôi phải vẽ để còn sống tiếp. Ở điểm này, tôi nghĩ, ta nên đọc anh như đọc một lời thú nhận hơn là một tuyên ngôn nghệ thuật.

“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong. Thay vì “abstraction” (trừu tượng hóa hiện thực), anh nói đến chiều ngược lại: concretion – cụ thể hóa cái vốn đã trừu tượng sẵn trong ta.

Ở đây, sự khác biệt trở nên rõ rệt. Tranh trừu tượng hiện đại phương Tây thường bắt đầu từ thế giới có hình và bẻ gãy nó, làm nó méo mó, chưng cất, giản lươc. Bùi Chát đi từ chỗ vô hình, từ khối hỗn mang không tên, không dáng, rồi trao cho nó một tạm hình trên canvas. Nếu nhìn bằng lối hiện tượng học (Husserl), ta có thể gọi đây là một “epoché” ngược: không phải treo lại thế giới để tìm bản chất, mà phóng ra những gì vốn lẩn khuất trong kinh nghiệm sống chưa thành hình. Với Merleau-Ponty, có lẽ đó là thứ ông gọi là “cơ thể sống động” (le corps vécu) – nơi cảm giác, ký ức, xúc động luôn tồn tại như đám mây cuộn, chỉ khi hành động (bằng nét, bằng màu) mới thành hiện thể.

Cái mà Bùi Chát khước từ chính là trung gian: ẩn dụ, ký hiệu, biểu tượng. Anh viết: “Cụ tượng, đối với tôi, là sự cụ thể hóa trực tiếp, không trung gian. Nó không phải ký hiệu, không phải ngôn ngữ, không phải biểu tượng.” Ở đây, sự thành thật không phải khái niệm luân lý mà là điều kiện sáng tạo. Không trung gian tức là không dàn dựng, không thỏa hiệp. Điều này khiến “cụ tượng” của anh đứng ngoài logic thị trường (nơi tác phẩm phải có nghĩa dễ hiểu, dễ bán) và ngoài cả logic học thuật (nơi tác phẩm phải gắn vào một lý thuyết để tồn tại).

Khi đọc đến câu: “Mỗi lần vẽ, tôi chỉ như cắt ra một mảnh từ khối hỗn độn ấy.” Tôi thấy rất gần với ý niệm “tạm dừng” (pause) trong Heidegger: tác phẩm nghệ thuật không phải sự hoàn tất, mà là nơi cái vô tận được dừng lại trong khoảnh khắc để hiển lộ. Chính sự tạm dừng này làm cho tranh có sức sống – vì nó ghi lại một điểm chớp sáng trong dòng chảy hỗn loạn. Sau khoảnh khắc ấy, khối bên trong lại biến đổi, tiếp tục sinh ra những mảnh khác. Không có tác phẩm nào là toàn vẹn, tất cả chỉ là chứng tích ngắn ngủi.

Nếu đặt trong mỹ thuật Việt Nam hiện nay, Cụ tượng thật sự lạc lõng. Một bên, nghệ thuật thị trường vẫn gắn với cái đẹp trang trí. Bên kia, nghệ thuật ý niệm bận tâm với diễn giải, ký hiệu. Bùi Chát chọn một lối khác: không đẹp cũng không minh họa, không dễ hiểu cũng không cần hiểu. Chỉ cần thành thật. Cái sự “thành thật” này, tôi nghĩ, cũng là tiếp nối giọng thơ của anh – người từng giải thiêng, từng kéo ngôn ngữ ra khỏi mọi khuôn phép. Nếu thơ anh là trò tháo rời chữ nghĩa, thì tranh anh là động tác kéo hỗn mang ra ánh sáng.

Nhưng tôi không muốn chỉ dừng ở so sánh. Tôi tin, Cụ tượng mở ra một cách đọc khác cho nghệ thuật Việt. Nó nhắc chúng ta rằng không phải lúc nào sáng tạo cũng cần lý do. Có những lúc, sáng tạo chỉ là hành động sinh tồn, như thở. Và trong hành động sinh tồn ấy, thành thật chính là tiêu chuẩn duy nhất. Không phải cái đẹp. Không phải cái đúng. Càng không phải sự hợp lý.

Vậy, Cụ tượng có thể trở thành trường phái? Tôi nghĩ không. Bùi Chát nói rất rõ: nó không phải thể loại, không phải trường phái. Nó là cách anh gọi hành động của riêng mình. Và có lẽ, đó cũng là điểm khiến nó khả tín. Trong một thời đại mà nghệ sĩ hay tìm cách hợp thức hóa mình bằng những khung khái niệm sang trọng, Cụ tượng giống như một cú lắc đầu. Nó không định danh để dựng thành trào lưu, nó chỉ định danh để anh sống sót.

Tranh của Bùi Chát, nhìn vậy, giống như những trang nhật ký không chữ. Không kể chuyện, cũng không ghi chép sự kiện, chỉ ghi lại sự có mặt của một khối trừu tượng đã thành hình. Nó không cần “hiểu”, chỉ cần chứng thực rằng, ở một khoảnh khắc, đã có cái gì đó bật ra, hiện diện. Và sự hiện diện ấy, đối với anh, là đủ để thở tiếp.

Ở chỗ này, tôi nghĩ đến một nghịch lý: nghệ thuật thường được xem như nơi người ta “đi qua hiện thực để tới cái trừu tượng”. Còn với Cụ tượng, Bùi Chát đi ngược lại: “đi qua trừu tượng để tới hiện thực”. Một hiện thực không phải thế giới bên ngoài, mà là hiện thực của cái vô hình nội tâm. Mỗi bức tranh là một bằng chứng: khối vô hình đã từng hiện hữu, đã từng thành hình.

Nếu phải rút gọn toàn bộ statement của anh thành một câu, tôi chọn câu này: “Tranh, với tôi, không để minh họa cho ý tưởng, cũng không để trang trí. Nó là nhật ký, nhưng thay vì chữ, tôi dùng màu sắc.” Câu nói này, đối với tôi, vừa là tuyên ngôn, vừa là thú nhận. Và cũng là lý do khiến triển lãm này không giống một buổi trưng bày mỹ thuật bình thường, mà giống một căn phòng chứa hơi thở.

Khi bước vào không gian triển lãm, người xem có thể không hiểu. Nhưng có lẽ không cần hiểu. Cái cần chỉ là cảm thấy: cảm thấy sự có mặt của những mảnh hỗn độn đã được cụ thể hóa. Cảm thấy độ nặng nhẹ của từng cái thở ra. Và có lẽ, trong giây phút nào đó, chính người xem cũng được phép thở ra cùng với họa sĩ.

Hoàng Tạ

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Ca khúc “Nguyệt Cầm” của Cung Tiến là một hiệu quả đồng cảm với bài thơ “Nguyệt Cầm” của Xuân Diệu. Cả hai là sự đồng cảm với câu chuyện Bến Tầm Dương của nhà thơ Bạch Cư Dị. Chuyện Bến Tầm Dương nơi Bạch Cư Dị gặp gỡ một kỹ nữ cao niên. Ông nghe bà đàn hát kể lại thân phận trong cuộc sống nổi trôi. Đồng cảm “Cùng một lứa bên trời lận đận / Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau,” (1) qua lời kể với tiếng đàn dưới trăng, Bạch Cư Dị đã viết tác phẩm “Tỳ Bà Hành.” Một tuyệt tác của thi ca cổ điển Trung Quốc.
Năm nay 31 tuổi, Bad Bunny sinh ra tại Puerto Rico, lãnh thổ nói tiếng Tây Ban Nha của Mỹ và cũng là sanh quán của không ít ca sĩ tên tuổi của Mỹ. Gia đình Bunny là những người Công giáo, với cha Bunny là một tài xế xe tải và mẹ anh là một cô giáo tiếng Anh ngoan đạo. Bunny hát trong ca đoàn của nhà thờ từ nhỏ và sáng tác nhạc từ năm 14 tuổi với giấc mơ trở thành một nghệ sĩ, dù anh theo học đại học về truyền thông thu thanh truyền hình để trở thành một người dẫn chương trình radio hay truyền hình.
“Chúng ta sẽ đứng lại trên mảnh đất này, Và không bỏ rơi người xa lạ giữa chúng ta. Chúng ta sẽ nhớ những tên người đã chết Trên đường phố Minneapolis.”
ashington bước vào mùa đông năm nay với âm thanh đứt quãng của một khúc giao hưởng chưa thành. Sau sáu năm thai nghén, bản Giao hưởng số 15 của Philip Glass — nhà soạn nhạc Hoa Kỳ được xem là người có công đưa ngôn ngữ tối giản vào đời sống âm nhạc đương đại — đáng lẽ phải vang lên tại Kennedy Center, như lời chào mừng kỷ niệm bán thế kỷ của trung tâm nghệ thuật danh tiếng này. Nhưng chỉ ít tháng trước buổi công diễn, nhạc sĩ 88 tuổi ấy tuyên bố rút tác phẩm. “Những giá trị mà Kennedy Center hôm nay biểu trưng không còn phù hợp với tinh thần của Abraham Lincoln,” ông viết, như hồi chuông cảnh tỉnh giữa một bầu không khí vốn đã nhiều sấm sét. Sự rút lui của Glass không chỉ là một “biến cố âm nhạc”; nó là một tín hiệu thời đại. Từ khi Tổng thống Trump trở lại quyền lực và đặt tên mình bên cạnh John F. Kennedy trên mặt tiền trung tâm — giới nghệ thuật thủ đô Hoa Thịnh đã không khỏi phân tâm. Một bên là danh dự nghề nghiệp, một bên là cảm thức công dân.
Ni Sư Daehae, cũng là nhà đạo diễn điện ảnh nổi tiếng, đã thắng giải thưởng Phim truyện xuất sắc nhất (Best Fiction Film) tại Đại hội điện ảnh Bangladesh, theo tin của báo Korea Joong Ang Daily ngày 19/1/0226.
Người họa sĩ ấy đã đi xa mười năm. Nhưng qua cuốn sách này với những tranh ảnh cùng phụ chú, cho tôi cảm giác như anh vẫn đâu đây, bên bạn bè và người thân, ấm áp.
Trong thế giới nhiễu động hôm nay, khi nhịp tiện nghi càng tăng thì khoảng cách giữa con người và thiên nhiên dường như càng xa, tranh của Ann Phong như một nốt lặng giữa biến tấu thời đại, đưa người xem tìm lại chính mình giữa cơn quay cuồng của văn minh. Mời tham dự cuộc triển lãm: Ann Phong: Làm Hòa Với Trái Đất - Triển lãm: Making Peace with the Earth, 415 Avenida Granada, San Clemente, CA 92672, Thời gian: 15 tháng Giêng – 8 tháng Ba, 2026, Địa điểm: Casa Romantica Cultural Center and Gardens
Tôi có một số kỷ niệm với Miền Đông Hoa Kỳ. Nhớ những ngày cùng theo nhà thơ Giang Hữu Tuyên ôm báo dưới mưa tuyết lất phất. Nhớ những buổi chiều ngồi tới khuya ở nhà anh Ngô Vương Toại, một nhà báo nổi tiếng từ thơi sinh viên ở Sài Gòn vì bị bắn trên một sân khấu nhạc ngoài trời và cuối đời trở thành một nhà truyền thông nổi tiếng trên đài Á Châu Tự Do RFA. Tôi nhớ giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người cực kỳ uyên bác với vốn học và nghiên cứu, và cũng là người cực kỳ thơ mộng với các phân tích về thơ Việt Nam và quốc tế. Và nhớ tới họa sĩ Đinh Cường, người khi vừa mới tới định cư ở Hoa Kỳ là đã có những cuộc triển lãm sôi nổi.
Biết cụ từ lâu, nhưng chúng tôi không được vào lớp học của cụ, tuy vậy có nhiều lần thầy Nguyễn Đăng Thục, mời cụ thỉnh giảng ở đại học văn khoa Saïgon, chúng tôi đã được nghe những lời giảng giải, , những lời vàng ngọc của cụ, hôm đấy cụ nói về vấn đề “dinh tê”, là chỉ dậy cho thanh niên sinh viên tại sao lại có vấn đề dinh tê, là việc đi kháng chiến, rồi lại đổi ý về thành phố… đã lâu rồi, tôi vẫn nhớ lơ mơ là thầy giảng cặn kẽ từ đầu, từ ngôn từ… dinh là đi, là đi về (như trong câu: anh đưa nàng về dinh, vậy đó, vậy đó, phải đúng không, anh Nguyễn Viết Sơn?) còn tê là nhại theo chữ tây thời Pháp thuộc, ý nghĩa của chữ rentrée! Nếu tôi nhớ lơ mơ thì xin một chữ đại xá! Tại vì lâu quá lâu rồi.
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.