Hôm nay,  

Vì Sao Tháng Ba Được Chọn Là Tháng Lịch Sử Phụ Nữ Tại Hoa Kỳ

06/03/202600:00:00(Xem: 668)
 
woman

Nhóm sáng lập Tuần Lễ Lịch Sử Phụ Nữ đầu tiên, về sau vận động Quốc hội Hoa Kỳ công nhận tháng Ba là Tháng Lịch Sử Phụ Nữ. Từ phải sang trái: Molly Murphy MacGregor, Paula Hammett, Mary Ruthsdotter, Maria Cuevas và Bette Morgan. Ảnh: National Women’s History Alliance.

 
Tháng Lịch Sử Phụ Nữ tại Hoa Kỳ phát sinh từ phong trào đòi phục hồi vai trò phụ nữ trong lịch sử quốc gia, hình thành vào thập niên 1970 dưới ảnh hưởng của làn sóng phản kháng xã hội. Trong nhiều thế kỷ, phụ nữ hiện diện trong mọi sinh hoạt của cộng đồng, nhưng lại vắng bóng trong các bộ sử chính thống; những tập sử đầu tiên chỉ ghi chép tên tuổi vài nữ hoàng hoặc phụ nữ quyền quý, còn đại đa số bị loại khỏi dòng niên biểu của quốc gia.

Quan niệm lịch sử do nam giới biên soạn thường dựa trên học thuyết “vĩ nhân”, cho rằng lịch sử nhân loại do các anh hùng nam giới tạo dựng, những cuộc chiến tranh và các nhân vật cầm quyền làm nên. Từ đầu thế kỷ XX, quan điểm ấy dần bị giới khảo cứu chất vấn, mở đường cho sự ra đời của ngành “lịch sử phụ nữ” như một lĩnh vực nghiên cứu độc lập. Tại Hoa Kỳ, nỗ lực ấy kết tinh thành Tháng Lịch Sử Phụ Nữ Toàn Quốc – một sinh hoạt hằng năm nhằm khẳng định giá trị và cống hiến của phái nữ trong tiến trình lịch sử dân tộc; từ thập niên 1980, mỗi tháng Ba được ấn định là thời gian cử hành sự kiện này.

Giữa thế kỷ XX, cùng với phong trào đòi bình đẳng giới, giới học giả bắt đầu bác bỏ quan điểm chỉ nhìn lịch sử qua lăng kính nam giới. Các nhà nghiên cứu như Mary Beard và Eleanor Flexner mở lối cho việc khảo cứu công trình, thư từ, nhật ký của phụ nữ Mỹ trong các thời kỳ; tác phẩm Century of Struggle (1959) của Flexner trở thành một trong những công trình nền tảng về phong trào phụ nữ đòi quyền bầu cử. Một nhân vật tiêu biểu trong trào lưu ấy là sử gia Gerda Lerner (Sarah Lawrence College, New York); từ cuối thập niên 1960, bà khởi giảng các khóa chuyên về lịch sử phụ nữ, lập nên chương trình cao học đầu tiên đào tạo chuyên ngành này tại Hoa Kỳ.

Các nghiên cứu do Lerner và đồng nghiệp khai triển không chỉ tập trung vào những nhân vật nữ nổi tiếng, mà còn chú trọng đến phụ nữ trong đời sống thường nhật, xem xét tương quan giữa giới tính, chủng tộc và cơ cấu xã hội gia trưởng. Những công trình ấy, được thúc đẩy bởi phong trào giải phóng phụ nữ đương thời, đã mở rộng phạm vi nghiên cứu lịch sử ra ngoài khuôn khổ truyền thống. Trong bối cảnh ấy, tại California, bà Molly Murphy MacGregor – tốt nghiệp chương trình nghiên cứu phụ nữ tại Đại học Sonoma State – khởi xướng một hoạt động nhằm phổ biến lịch sử phụ nữ trong học đường.

Trước đó, do thiếu tài liệu, một lớp học sáu tuần về lịch sử phụ nữ ở trung học từng bị hủy bỏ; các sách giáo khoa đương thời hầu như chỉ ghi nhận rằng phụ nữ được trao quyền bầu cử năm 1920, mà không nói đến quá trình tranh đấu kéo dài hàng thập niên. Từ cuối thập niên 1970, bà MacGregor tổ chức nhiều buổi trình chiếu về phụ nữ trong chính trị, môi sinh và phong trào bãi nô, gây hứng khởi mạnh mẽ trong giới học sinh. Nhận thấy tư liệu về lịch sử phụ nữ tại các thư viện học đường còn bị lãng quên, bà tham gia Ủy ban về Địa Vị Phụ Nữ Quận Sonoma (thành lập năm 1975), một cơ quan chủ trương thực thi các quy định của đạo luật Title IX (1972), cấm phân biệt giới tính trong giáo dục.


Theo quan điểm của MacGregor và các đồng sự, việc phụ nữ bị loại khỏi sách sử cũng là một hình thức bất bình đẳng. Từ đó, ý tưởng về Tuần Lễ Lịch Sử Phụ Nữ được đề xuất và tổ chức trùng với Ngày Quốc Tế Phụ Nữ (8 tháng 3). Chuỗi hoạt động gồm diễn hành, thuyết trình và phát hành tài liệu giảng dạy cho trường học địa phương; ban đầu sự kiện gặp nhiều hoài nghi, nhưng dư luận thuận lợi lan rộng nhanh chóng. Từ một sinh hoạt địa phương, phong trào biến thành chiến dịch toàn quốc, dẫn đến sự thành lập của National Women’s History Project, về sau đổi tên thành National Women’s History Alliance.

Tổ chức này không những biên soạn và phổ biến tài liệu học tập, mà còn vận động chính phủ liên bang công nhận “tuần lễ lịch sử phụ nữ” trên toàn quốc. Năm 1980, Tổng thống Jimmy Carter ban tuyên cáo lấy tuần lễ đầu tháng Ba làm National Women’s History Week, nêu rõ tầm quan trọng của việc hiểu đúng lịch sử đất nước để thực hiện bình đẳng pháp lý cho mọi công dân. Năm 1981, dân biểu Barbara Mikulski (Maryland) cùng thượng nghị sĩ Orrin Hatch (Utah) bảo trợ nghị quyết của Quốc hội về tuần lễ này, đánh dấu sự ủng hộ lưỡng đảng đối với việc tôn vinh lịch sử phụ nữ.

Đến năm 1987, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua nghị quyết mở rộng phạm vi, tuyên bố toàn bộ tháng Ba là National Women’s History Month, sau đó được các tổng thống kế tiếp ấn định hằng năm bằng tuyên cáo. Trước đó, đã có một số tiểu bang tự mình chọn tháng Ba làm Tháng Lịch Sử Phụ Nữ, tạo cơ sở để vận động Quốc hội công nhận trên toàn quốc. Kể từ đó, tháng Ba hằng năm trở thành dịp để trường học, viện bảo tàng, thư viện và các tổ chức xã hội tổ chức những sinh hoạt nhằm giới thiệu lịch sử phụ nữ, khai triển các đề tài từ quyền bầu cử, lao động, khoa học, đến nghệ thuật và hoạt động xã hội.

Trong chiều hướng ấy, phong trào nghiên cứu và phổ biến lịch sử phụ nữ tiếp tục phát triển. Nhiều ủy ban và cơ quan liên bang được thành lập để khuyến nghị các viện bảo tàng và văn khố truy tìm, trưng bày và bổ sung vào giáo trình những nhân vật phụ nữ từng bị lãng quên – không chỉ giới hạn ở phụ nữ da trắng. Tuy vậy, một số khảo sát giáo dục nhiều năm sau vẫn cho thấy trong nhiều chương trình giảng dạy, vai trò phụ nữ còn thường được mô tả giới hạn trong phạm vi nội trợ, chưa phản ánh đầy đủ chiều sâu lịch sử của họ.

Sự ra đời của Tháng Lịch Sử Phụ Nữ tại Hoa Kỳ cho thấy lịch sử không tự mở rộng để bao dung mọi đối tượng. Sự hiện diện của phụ nữ trong sử học là kết quả của công trình vận động và ý chí kiên trì từ nhiều thế hệ. Câu chuyện ấy, xét về mặt xã hội, phản ánh nhu cầu tái lập cân bằng trong ký ức tập thể – nơi phụ nữ không còn là bóng dáng mờ nhạt của quá khứ, mà là chủ thể đồng hành trong diễn tiến của lịch sử Mỹ, và tháng Ba trở thành biểu tượng thời gian cho nỗ lực ấy.

Nguyên Hòa biên dịch

Nguồn: bài viết sử dụng, tham chiếu và tóm lược tư liệu của một số nguồn như National Women’s History AllianceNational Women’s History Museum, các văn bản kỷ niệm Tháng Lịch Sử Phụ Nữ của chính phủ Hoa Kỳ và một số bài khảo cứu phổ biến trên các tạp chí và cơ quan truyền thông quốc tế.
 

Theo Scott Kurashige, viết trên University of California Press ngày 16 tháng 3, 2026, bạo lực chống người Á châu tại Mỹ không phải những cơn bùng phát rời rạc, mà là hậu quả của một lịch sử kỳ thị lâu dài bị phủ nhận, bị làm nhẹ, và nhiều lần bị xoá khỏi ký ức cộng đồng. Trong bối cảnh chính trị hôm nay, bài viết nhắc rằng muốn hiểu đúng làn sóng thù ghét hiện nay, trước hết phải nhìn thẳng vào phần lịch sử mà nước Mỹ lâu nay tránh đề cập tới.
Giá dầu thế giới tiếp tục leo thang trong khi hỏa tiễn và máy bay không người lái của Iran liên tiếp đánh vào các cơ sở hạ tầng trọng yếu ở các nước Ả Rập vùng Vịnh. Cùng lúc, nhiều trận tập kích nhắm thẳng vào những trạm radar trị giá hàng tỉ đô la của Mỹ tại Trung Đông, khiến không ít trạm bị đánh hư hoặc phá hủy và làm dấy lên câu hỏi: lá chắn phòng thủ của Washington trong khu vực đã suy yếu đến mức nào. Mỹ hiện duy trì một vành đai căn cứ quanh Iran, với hàng chục điểm đồn trú và hàng chục nghìn binh sĩ nằm trong tầm bắn. Từ đó nảy sinh một thắc mắc rất cụ thể: nếu một quả hỏa tiễn được phóng từ lãnh thổ Iran nhằm vào một căn cứ Mỹ, làm sao sĩ quan và binh lính tại chỗ có đủ thời gian để chui vào hầm, tản quân và chuẩn bị đánh chặn?
Sau phỏng vấn cựu đại tá Hoàng Cơ Lân nguyên giám đốc trường Quân y VNCH của báo Pháp “Guerres & Histoire” số tháng 2-2024, giới thiệu đến bạn đọc một chương hồi ký của vị đại tá đã làm y sĩ trưởng lâu năm nhất của sư đoàn Dù (1965-1970). Cho đến khi mất đại tá Hoàng Cơ Lân vẫn minh mẫn và giữ nguyên ký ức lồng lộng của những ngày còn là tân khóa sinh thực tập các saut nhảy dù. Vị đại tá cũng cho biết Nhảy dù đã từng có một lời nguyện… [Trần Vũ]
LTS: Y Sĩ Đại Tá Nhảy Dù Hoàng Cơ Lân vừa tạ thế tại Paris ngày 15 tháng 3 năm 2026. Việt Báo xin đăng lại bài phỏng vấn do Olivier Vece và Benjamin Fayet thực hiện cho nhị nguyệt san quân sử Guerres & Histoire của Pháp, bản Việt ngữ do Trần Vũ chuyển dịch, như một lời tiễn biệt Ông.
Theo bản tin của PolitiFact, đăng lại trong mục Thế giới ngày 7 tháng 3 năm 2026 trên PBS, chỉ ít ngày sau khi phát động chiến tranh với Iran, Tổng thống Donald Trump đã đem nỗ lực của ông nhằm triệt hạ khả năng phát triển vũ khí hạt nhân của Iran ra so sánh một cách thuận lợi với thỏa ước hạt nhân năm 2015 do một vị tiền nhiệm của ông thương thuyết. Thỏa ước hạt nhân dưới thời Tổng thống Barack Obama còn hiệu lực cho tới năm 2018, khi Trump rút Hoa Kỳ ra khỏi đó trong nhiệm kỳ đầu của mình.
Trong giới báo chí Việt ngữ hải ngoại, có hai khuynh hướng rõ rệt khi viết về quốc gia Trung Đông nằm giữa Ai Cập và Jordan. Một số, có vẻ là đa số, gọi quốc gia đó là Do Thái, trong khi số khác, trong đó có tôi, gọi là Israel. Có nhiều lý do để gọi quốc gia đó là Do Thái, trong đó lịch sử là một. Quốc gia này được lập ra như một quốc gia của người theo đạo Do Thái. Bản tuyên bố Balfour của Anh năm 1947 chấp nhận việc thành lập một quốc gia của người Do Thái trên đất Palestine khi đó đang do Anh nắm giữ. Nghị quyết Liên Hiệp Quốc năm 1947 thông qua một kế hoạch phân chia vùng đất làm hai, một cho người Do Thái và một cho người Ả Rập.
Ở phương diện đạo đức và văn hóa, Philip Taubman và William Taubman đã phân tích những mâu thuẫn nội tâm của McNamara: tiếng nói của lương tâm và quyền lợi quốc gia. Theo họ, trong thâm tâm, ông từng nhận định rằng Hoa Kỳ đã phạm sai lầm nghiêm trọng và không thể giành chiến thắng trong cuộc chiến. Tuy nhiên, trước công chúng và trong các tuyên bố chính thức, ông vẫn duy trì lập trường cứng rắn, tiếp tục biện minh cho chính sách leo thang quân sự. Sự đối lập giữa nhận thức riêng tư và lập trường công khai ấy tạo nên một nghịch lý phản ánh bi kịch cá nhân của McNamara, đồng thời cũng là bi kịch của cả một thời kỳ lịch sử...
Hiệp định Mekong năm 1995 là nền tảng của sự hợp tác cho Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam – qua đó các quốc gia thành viên long trọng hứa hẹn sẽ tôn trọng công bằng, không gây tổn hại cho nhau và cùng chung quản lý sông Mekong. Ủy hội sông Mekong, MRC là cơ quan được lập ra với nhiệm vụ quản lý, quan trắc kiểm soát dòng nước, chia sẻ dữ liệu, điều hợp tham vấn các dự án trên sông và bảo vệ sự lành mạnh cho lưu vực. Nhân dịp Lễ Kỷ Niệm 30 Năm ngày thành lập, tháng 11 năm 2025, MRC mô tả cho lưu vực một thành tích vẻ vang là đạt được: "Thịnh vượng chung“. Các quan chức MRC nhấn mạnh khả năng cảnh báo lũ lụt, nghiên cứu môi trường, lập quy hoạch phát triển, và cả những nhượng bộ (bất đắc dĩ) của Đối Tác Trung Quốc về việc chia sẻ dữ liệu dòng chảy của Lạn Thương giang, thượng nguồn sông Mekong trên Vân Nam.
Năm Bính Ngọ 2026 – năm Con Ngựa Lửa – đang phi nước đại tới với bao hứa hẹn đổi thay, may mắn và khám phá mới quanh một loài vật từng cùng nhân loại viết lại bản đồ thế giới. Các nhà cổ sinh học cho biết tổ tiên xa xưa của ngựa là một sinh vật cỡ… con cáo, sống trên đất Bắc Mỹ khoảng 55 triệu năm trước; nhiều triệu năm sau, dòng họ ấy mới tiến hóa thành giống Equus – họ hàng trực tiếp của những chú ngựa ngày nay. Đàn Equus lần theo dải đất Bering băng qua sang Á, Âu, Phi, để rồi gặp tổ tiên chúng ta – lúc ấy vẫn xem ngựa là mồi săn, để lại xương và dấu mũi giáo trong những dấu tích khảo cổ có niên đại hàng trăm ngàn năm.
Theo cuộc thăm dò mới của NBC News Decision Desk Poll do SurveyMonkey thực hiện, sự ủng hộ dành cho chương trình nhập cư của Tổng thống Donald Trump đang giảm mạnh vào đầu năm 2026 sau khi các nhân viên nhập cư liên bang bắn chết hai người Mỹ vào tháng trước. Cuộc thăm dò cho thấy rằng các chiến thuật hung hăng và chỉ tiêu trục xuất của chính quyền đã thay đổi quan điểm của người Mỹ về Trump đối với chính những vấn đề đã giúp ông đắc cử. Vấn đề nhập cư và an ninh biên giới từ lâu đã nổi bật như một điểm mạnh của Trump trong các cuộc thăm dò, cả khi ông tranh cử nhiệm kỳ thứ hai vào năm 2024 và trong năm đầu tiên của chính quyền mới. Giờ đây, tỷ lệ ủng hộ Trump về vấn đề này đã giảm xuống ngang bằng với tỷ lệ ủng hộ công việc tổng thể của ông.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.