Hôm nay,  

Một mạng lưới cảm biến: Mỹ phát hiện hỏa tiễn và máy bay không người lái từ Iran như thế nào

27/03/202600:00:00(Xem: 647)

mang luoi
Dù mạng lưới cảm biến của Mỹ được thiết kế chủ yếu để đối phó hỏa tiễn, kinh nghiệm chiến trường cho thấy máy bay không người lái giá rẻ, dùng một lần mới là thử thách khó chịu hơn.  Istock photo.

Để theo dõi hỏa tiễn và máy bay không người lái xuất phát từ Iran, Mỹ và các đồng minh đã dệt nên một “mạng nhện” cảm biến nhiều tầng, từ vệ tinh trên quỹ đạo, radar dưới mặt đất, tàu chiến trên biển cho đến máy bay cảnh giới và drone trinh sát trên không, nhằm phát hiện sớm và kịp thời báo động cho lực lượng đang trong tầm hỏa lực.

*
 
Giá dầu thế giới tiếp tục leo thang trong khi hỏa tiễn và máy bay không người lái của Iran liên tiếp đánh vào các cơ sở hạ tầng trọng yếu ở các nước Ả Rập vùng Vịnh. Cùng lúc, nhiều trận tập kích nhắm thẳng vào những trạm radar trị giá hàng tỉ đô la của Mỹ tại Trung Đông, khiến không ít trạm bị đánh hư hoặc phá hủy và làm dấy lên câu hỏi: lá chắn phòng thủ của Washington trong khu vực đã suy yếu đến mức nào.

Mỹ hiện duy trì một vành đai căn cứ quanh Iran, với hàng chục điểm đồn trú và hàng chục nghìn binh sĩ nằm trong tầm bắn. Từ đó nảy sinh một thắc mắc rất cụ thể: nếu một quả hỏa tiễn được phóng từ lãnh thổ Iran nhằm vào một căn cứ Mỹ, làm sao sĩ quan và binh lính tại chỗ có đủ thời gian để chui vào hầm, tản quân và chuẩn bị đánh chặn?

Theo Aaron Brynildson, cựu sĩ quan Không quân Hoa Kỳ, nay là giảng viên luật hàng không – không gian và an ninh quốc gia tại Đại học Mississippi, câu trả lời nằm ở một “mạng nhện” cảm biến nhiều tầng hoạt động suốt ngày đêm. Mạng lưới này nối liền vệ tinh trên quỹ đạo, radar dưới đất, hệ thống trên tàu chiến và máy bay cảnh giới trên không, được vận hành bởi các ê-kíp của Bộ Tư lệnh Không gian Hoa Kỳ, những người chuyên xử lý dữ liệu trong vài giây.

Vệ tinh: lớp báo động đầu tiên

Lớp báo động nhanh nhất là các vệ tinh cảnh báo sớm trên quỹ đạo. Hệ thống Space-Based Infrared System (SBIRS) của Lực lượng Không gian Hoa Kỳ gồm những vệ tinh trị giá hàng tỉ đô la, được xem là “báu vật” trong kiến trúc phòng thủ hỏa tiễn.

Các vệ tinh này bay rất cao, dùng cảm biến hồng ngoại cực nhạy để nhìn luồng nhiệt khổng lồ khi hỏa tiễn được phóng lên. Trong các đợt thử hỏa tiễn của Iran năm 2021, SBIRS đã phát hiện được vụ phóng gần như tức thì.

Một khi hỏa tiễn rời bệ phóng, luồng nhiệt của động cơ mạnh đến mức có thể thấy rõ từ không gian. Vệ tinh thu nhận dấu hiệu này rồi gửi tín hiệu cảnh báo chỉ trong vài giây. Khoảng thời gian đó đủ để các đơn vị trên mặt đất hoặc trên biển bật hệ thống phòng không, cho quân vào nơi trú ẩn, chuẩn bị đánh chặn.

Tín hiệu từ vệ tinh được truyền qua các tuyến liên lạc vệ tinh bảo mật xuống những trạm mặt đất gọi là Joint Tactical Ground Stations (JTAGS). Từ đây, dữ liệu được phân phối rất nhanh cho toàn bộ mạng lưới phòng thủ hỏa tiễn.

Radar dưới đất, trên biển, trên không

Vệ tinh chỉ đảm nhận phần báo động ban đầu. Việc theo dõi hỏa tiễn từ lúc đang bay cho đến khi bị đánh trúng chủ yếu do radar đảm trách.

Về nguyên lý, radar phát sóng vô tuyến, sóng đi ra gặp vật thể – như một quả hỏa tiễn – sẽ dội trở lại, cho phép hệ thống tính được vị trí, độ cao, hướng bay và tốc độ. Mỹ dùng kết hợp radar tầm xa và tầm trung. Một trong những trạm tầm xa chủ lực là AN/FPS‑132 Upgraded Early Warning Radar, có thể phát hiện hỏa tiễn từ cự ly trên 3.000 dặm (khoảng 4.828 km) và theo dõi suốt hành trình.

Lục quân Mỹ còn có radar AN/TPY‑2 Surveillance Transportable Radar. Hệ thống này có tầm gần 2.000 dặm (3.219 km), nhưng ưu điểm là nhìn chi tiết đường bay và đặc tính mục tiêu, cung cấp dữ liệu chính xác cho các giàn hỏa tiễn phòng thủ như THAAD hoặc Patriot. Thông thường, AN/TPY‑2 được đặt ngay bên cạnh đơn vị hỏa tiễn đánh chặn để truyền dữ liệu gần như tức thời.

Nói ngắn gọn, vệ tinh giữ vai trò thấy vụ phóng, còn radar bám theo quả hỏa tiễn cho tới khi nó bị bắn hạ.

Trong vòng leo thang vừa qua, Iran đã đánh thẳng vào hai mắt xích chủ chốt: một radar TPY‑2 của Mỹ ở Jordan và một trạm FPS‑132 tại Qatar được ghi nhận là đã trúng đạn. Đây là những hệ thống đắt, sản xuất và triển khai mất thời gian dài, không thể thay ngay. Washington buộc phải điều một radar TPY‑2 từ Hàn Quốc sang Trung Đông để vá khoảng trống.

Dù vậy, mạng lưới cảnh giới không “tắt đèn” hoàn toàn sau hai cú đánh này. Lực lượng Không gian Hoa Kỳ còn một trạm FPS‑132 đặt tại Anh, có thể hỗ trợ cảnh giới khu vực Trung Đông từ xa.

Trên biển, các chiến hạm của Hải quân Mỹ trang bị Aegis Combat System với radar AN/SPY‑1, có thể bao phủ vùng trời đến khoảng 200 dặm (322 km) quanh tàu. Tàu chiến cơ động được, có thể áp sát những hướng được cho là nguy hiểm để lấp phần “lệch sóng” của radar trên bộ.

Trên không, Không quân Mỹ dùng máy bay cảnh báo sớm E‑3 Sentry (AWACS), với radar có thể quét vùng bán kính trên 200 dặm. Cùng với đó là các drone MQ‑9 Reaper, có thể bay lâu, dùng radar và cảm biến điện‑quang để quan sát khu vực phía dưới. Những “mắt thần di động” này cho phép tăng cường cảnh giới ở nơi nào bị đe dọa hay bị thiếu hụt cảm biến.

Drone: bài toán khó cho hệ thống cũ

Dù mạng lưới cảm biến của Mỹ được thiết kế chủ yếu để đối phó hỏa tiễn, kinh nghiệm chiến trường cho thấy máy bay không người lái giá rẻ, dùng một lần mới là thử thách khó chịu hơn. Các hệ thống “đời cũ” vốn quen với mục tiêu nóng, bay nhanh, đang chật vật với những chiếc drone nhỏ, mát, bay thấp và chậm.

Để phát hiện drone, Mỹ phải dùng nhiều cách cùng lúc: radar, các hệ thống nghe bắt tín hiệu vô tuyến để dò luồng điều khiển từ xa, và những cảm biến quang học như camera, thiết bị ảnh nhiệt, lidar… để trực tiếp nhìn thấy vật thể.

Hỏa tiễn, với tốc độ cao và thân nóng, tạo dấu hiệu hồng ngoại rất rõ. Vệ tinh SBIRS nhìn thấy ngay từ lúc phóng, radar dễ bám theo quỹ đạo tương đối ổn định. Ngược lại, các drone tấn công một chiều của Iran, điển hình là dòng Shahed, dùng động cơ xăng tạo dấu nhiệt yếu, ít nổi bật trên cảm biến hồng ngoại. Không có cú báo động sớm từ vệ tinh, radar phải “lọc” trong một rừng tín hiệu nhiễu để tìm vật thể đáng chú ý, việc đó tốn thời gian.

Drone lại nhỏ, bay sát mặt đất, dễ bị nhà cửa, địa hình che khuất, diện tích phản xạ radar nhỏ; một số dùng vật liệu như nhựa, fiberglass càng làm tín hiệu mờ hơn. Chúng bay chậm, dễ bị phần mềm radar vốn thiết kế để loại bỏ mục tiêu di chuyển chậm “bỏ qua” như nhiễu hoặc chim chóc.

Thêm vào đó, nhiều drone Iran không cần người điều khiển từ xa. Chúng được nạp sẵn tọa độ GPS, tự bay đến mục tiêu, hầu như không phát ra tín hiệu vô tuyến mà hệ thống trinh sát điện tử có thể nắm bắt. Khi đó, những phương thức dò tìm dựa vào “nghe” sóng điều khiển trở nên kém hiệu quả.

Nhiều “giác quan” cùng hoạt động

Không một công nghệ đơn lẻ nào đủ sức đối phó mọi đợt tấn công bằng drone. Bởi vậy, hệ thống phòng thủ của Mỹ được xây để hoạt động như một bộ dây thần kinh với nhiều “giác quan”: vệ tinh hồng ngoại, radar, cảm biến quang học, trinh sát điện tử – mỗi loại nhìn được một góc, bổ túc cho nhau.

Trong nỗ lực lấp những “điểm mù”, Washington và đồng minh tìm đến thêm các công cụ mới. Một ví dụ là việc Mỹ đàm phán với Ukraine để mua các hệ thống cảm biến âm thanh do Kiev phát triển, có khả năng nghe tiếng động cơ drone trong trường hợp mắt thường, radar hay camera chưa nhận dạng được.

Theo Brynildson, hướng đi tiếp theo là gắn thêm cảm biến mới, phần mềm xử lý nhanh và thông minh hơn, đường truyền liên lạc gọn hơn vào mạng lưới hiện có. Mục tiêu chung vẫn không thay đổi: phát hiện mối đe dọa sớm hơn, ra quyết định nhanh hơn và đánh trúng trước khi hỏa tiễn hay drone kịp gây thiệt hại.

Việt Báo tóm lược
Nguồn: luận điểm và dữ liệu từ bài phân tích ‘A web of sensors: how the US spots missiles and drones from Iran’ trên tạp chí The Conversation.

Theo Scott Kurashige, viết trên University of California Press ngày 16 tháng 3, 2026, bạo lực chống người Á châu tại Mỹ không phải những cơn bùng phát rời rạc, mà là hậu quả của một lịch sử kỳ thị lâu dài bị phủ nhận, bị làm nhẹ, và nhiều lần bị xoá khỏi ký ức cộng đồng. Trong bối cảnh chính trị hôm nay, bài viết nhắc rằng muốn hiểu đúng làn sóng thù ghét hiện nay, trước hết phải nhìn thẳng vào phần lịch sử mà nước Mỹ lâu nay tránh đề cập tới.
Sau phỏng vấn cựu đại tá Hoàng Cơ Lân nguyên giám đốc trường Quân y VNCH của báo Pháp “Guerres & Histoire” số tháng 2-2024, giới thiệu đến bạn đọc một chương hồi ký của vị đại tá đã làm y sĩ trưởng lâu năm nhất của sư đoàn Dù (1965-1970). Cho đến khi mất đại tá Hoàng Cơ Lân vẫn minh mẫn và giữ nguyên ký ức lồng lộng của những ngày còn là tân khóa sinh thực tập các saut nhảy dù. Vị đại tá cũng cho biết Nhảy dù đã từng có một lời nguyện… [Trần Vũ]
LTS: Y Sĩ Đại Tá Nhảy Dù Hoàng Cơ Lân vừa tạ thế tại Paris ngày 15 tháng 3 năm 2026. Việt Báo xin đăng lại bài phỏng vấn do Olivier Vece và Benjamin Fayet thực hiện cho nhị nguyệt san quân sử Guerres & Histoire của Pháp, bản Việt ngữ do Trần Vũ chuyển dịch, như một lời tiễn biệt Ông.
Theo bản tin của PolitiFact, đăng lại trong mục Thế giới ngày 7 tháng 3 năm 2026 trên PBS, chỉ ít ngày sau khi phát động chiến tranh với Iran, Tổng thống Donald Trump đã đem nỗ lực của ông nhằm triệt hạ khả năng phát triển vũ khí hạt nhân của Iran ra so sánh một cách thuận lợi với thỏa ước hạt nhân năm 2015 do một vị tiền nhiệm của ông thương thuyết. Thỏa ước hạt nhân dưới thời Tổng thống Barack Obama còn hiệu lực cho tới năm 2018, khi Trump rút Hoa Kỳ ra khỏi đó trong nhiệm kỳ đầu của mình.
Trong giới báo chí Việt ngữ hải ngoại, có hai khuynh hướng rõ rệt khi viết về quốc gia Trung Đông nằm giữa Ai Cập và Jordan. Một số, có vẻ là đa số, gọi quốc gia đó là Do Thái, trong khi số khác, trong đó có tôi, gọi là Israel. Có nhiều lý do để gọi quốc gia đó là Do Thái, trong đó lịch sử là một. Quốc gia này được lập ra như một quốc gia của người theo đạo Do Thái. Bản tuyên bố Balfour của Anh năm 1947 chấp nhận việc thành lập một quốc gia của người Do Thái trên đất Palestine khi đó đang do Anh nắm giữ. Nghị quyết Liên Hiệp Quốc năm 1947 thông qua một kế hoạch phân chia vùng đất làm hai, một cho người Do Thái và một cho người Ả Rập.
Tháng Lịch Sử Phụ Nữ tại Hoa Kỳ phát sinh từ phong trào đòi phục hồi vai trò phụ nữ trong lịch sử quốc gia, hình thành vào thập niên 1970 dưới ảnh hưởng của làn sóng phản kháng xã hội. Trong nhiều thế kỷ, phụ nữ hiện diện trong mọi sinh hoạt của cộng đồng, nhưng lại vắng bóng trong các bộ sử chính thống; những tập sử đầu tiên chỉ ghi chép tên tuổi vài nữ hoàng hoặc phụ nữ quyền quý, còn đại đa số bị loại khỏi dòng niên biểu của quốc gia.
Ở phương diện đạo đức và văn hóa, Philip Taubman và William Taubman đã phân tích những mâu thuẫn nội tâm của McNamara: tiếng nói của lương tâm và quyền lợi quốc gia. Theo họ, trong thâm tâm, ông từng nhận định rằng Hoa Kỳ đã phạm sai lầm nghiêm trọng và không thể giành chiến thắng trong cuộc chiến. Tuy nhiên, trước công chúng và trong các tuyên bố chính thức, ông vẫn duy trì lập trường cứng rắn, tiếp tục biện minh cho chính sách leo thang quân sự. Sự đối lập giữa nhận thức riêng tư và lập trường công khai ấy tạo nên một nghịch lý phản ánh bi kịch cá nhân của McNamara, đồng thời cũng là bi kịch của cả một thời kỳ lịch sử...
Hiệp định Mekong năm 1995 là nền tảng của sự hợp tác cho Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam – qua đó các quốc gia thành viên long trọng hứa hẹn sẽ tôn trọng công bằng, không gây tổn hại cho nhau và cùng chung quản lý sông Mekong. Ủy hội sông Mekong, MRC là cơ quan được lập ra với nhiệm vụ quản lý, quan trắc kiểm soát dòng nước, chia sẻ dữ liệu, điều hợp tham vấn các dự án trên sông và bảo vệ sự lành mạnh cho lưu vực. Nhân dịp Lễ Kỷ Niệm 30 Năm ngày thành lập, tháng 11 năm 2025, MRC mô tả cho lưu vực một thành tích vẻ vang là đạt được: "Thịnh vượng chung“. Các quan chức MRC nhấn mạnh khả năng cảnh báo lũ lụt, nghiên cứu môi trường, lập quy hoạch phát triển, và cả những nhượng bộ (bất đắc dĩ) của Đối Tác Trung Quốc về việc chia sẻ dữ liệu dòng chảy của Lạn Thương giang, thượng nguồn sông Mekong trên Vân Nam.
Năm Bính Ngọ 2026 – năm Con Ngựa Lửa – đang phi nước đại tới với bao hứa hẹn đổi thay, may mắn và khám phá mới quanh một loài vật từng cùng nhân loại viết lại bản đồ thế giới. Các nhà cổ sinh học cho biết tổ tiên xa xưa của ngựa là một sinh vật cỡ… con cáo, sống trên đất Bắc Mỹ khoảng 55 triệu năm trước; nhiều triệu năm sau, dòng họ ấy mới tiến hóa thành giống Equus – họ hàng trực tiếp của những chú ngựa ngày nay. Đàn Equus lần theo dải đất Bering băng qua sang Á, Âu, Phi, để rồi gặp tổ tiên chúng ta – lúc ấy vẫn xem ngựa là mồi săn, để lại xương và dấu mũi giáo trong những dấu tích khảo cổ có niên đại hàng trăm ngàn năm.
Theo cuộc thăm dò mới của NBC News Decision Desk Poll do SurveyMonkey thực hiện, sự ủng hộ dành cho chương trình nhập cư của Tổng thống Donald Trump đang giảm mạnh vào đầu năm 2026 sau khi các nhân viên nhập cư liên bang bắn chết hai người Mỹ vào tháng trước. Cuộc thăm dò cho thấy rằng các chiến thuật hung hăng và chỉ tiêu trục xuất của chính quyền đã thay đổi quan điểm của người Mỹ về Trump đối với chính những vấn đề đã giúp ông đắc cử. Vấn đề nhập cư và an ninh biên giới từ lâu đã nổi bật như một điểm mạnh của Trump trong các cuộc thăm dò, cả khi ông tranh cử nhiệm kỳ thứ hai vào năm 2024 và trong năm đầu tiên của chính quyền mới. Giờ đây, tỷ lệ ủng hộ Trump về vấn đề này đã giảm xuống ngang bằng với tỷ lệ ủng hộ công việc tổng thể của ông.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.