Hôm nay,  

Y Sĩ Đại Tá Nhảy Dù Hoàng Cơ Lân

21/03/202609:35:00(Xem: 1864)

HCL

 

 

Tháng Giêng 1974, tôi trình diện nhập ngũ vào khóa 16 Trưng Tập Y Nha Dược tại trường Quân Y.

Trong lịch sử hành chánh Quân Y nói chung và lịch sử hành chánh quân y Nhảy Dù nói riêng do Y Sĩ Đại Úy Lê Đình Thuấn, Trưởng Phòng 3 của TĐQY/SĐND giảng dạy cho chúng tôi, đơn vị Quân Y Nhảy Dù tăng trưởng theo với cuộc chiến. Chúng tôi được cho biết trong những năm đầu tiên, toán quân y cấp nhỏ nằm trong Tiểu Đoàn Trợ Chiến của đơn vị Nhảy Dù. Sau năm 1957, các tiểu đoàn Nhảy Dù được tăng cường thêm một số bác sĩ quân y mà về sau trở thành những cấp chỉ huy quan trọng của TĐQYND. Để yểm trợ cho các cuộc hành quân, các bác sĩ Nhảy Dù trở thành y sĩ trưởng của các Tiểu Đoàn tác chiến Nhảy Dù, dưới sự điều động hàng dọc của các đại đội quân y thuộc các Lữ Đoàn Nhảy Dù, với nhiệm vụ cấp cứu, ổn định, chữa trị, và chuyển thương binh về bệnh viện tiền phương Nhảy Dù. Vào đầu năm 1975, Tiểu Đoàn QY Nhảy Dù có gần 40 Quân Y Nha Dược Sĩ phục vụ cho các tiểu đoàn tác chiến Nhảy Dù, các Đại Đội QY, BV Đỗ Vinh, và các cơ sở trực thuộc…

 

Nhớ lại khi còn là sinh viên YK, tập truyện “Y Sĩ Tiền Tuyến” của BS. Quân Y Nhảy Dù Trang Châu đã cho tôi một ấn tượng sâu đậm và tốt đẹp về binh chủng ND, gây cho tôi nhiều say mê về hình ảnh chinh chiến của các Thiên Thần Mũ Đỏ, hiên ngang, kiêu hùng, đánh đẹp chơi đẹp, cùng với nhiệm vụ cao quý của những y sĩ Dù tại mặt trận. Tôi đã mơ một ngày nào mình sẽ là một y sĩ Nhảy Dù, nhất là sau đọc được những lời thơ tâm huyết khí khái của tác giả biểu hiện cho tinh thần nhân bản của Miền Nam VN trong nhiệm vụ bảo vệ đất nước chống xâm lăng: “Trong cuộc chiến hôm nay - Cho tôi xin chiến đấu không hận thù - Xin những vết thương bình đẳng - Cho tôi đổi một trăm chiến thắng - Lấy một giọt nước mắt kẻ thù”.  

Một khi mình đã thích Nhảy Dù, mình hay nhìn vào những mẫu người mà mình ngưỡng mộ. Đó là hình ảnh của Y Sĩ Đại Tá Nhảy Dù Hoàng Cơ Lân mà tôi nhìn thấy trong 6 tháng theo học hành chánh Quân Y tại Trường Quân Y. Dưới cái nhìn của tôi, Ông là một con người có dáng oai dũng và hiên ngang, với tác phong hoàn toàn của một quân nhân, trang phục hoa dù mũ đỏ chỉnh tề, với nếp gấp sắc nét làm nổi bật phong cách kỷ luật. Dáng Ông cao lớn, chắc nịch, vai mở rộng, mạnh bạo như một tảng đá, như sẵn sàng đối mặt với mọi thử thách; lưng Ông thẳng tắp, thể hiện một sự tự tin và tinh thần quyết chí. Ánh mắt Ông luôn nhìn thẳng phía trước – là ánh mắt của con người biết rõ mục tiêu mình hướng đến. Da ông ngăm đen, màu da của bao quân nhân từng ra vào gió sương; khuôn mặt Ông nghiêm nghị nhưng không áp đảo, thể hiện sự bình tĩnh của con người đã quen trực diện với khó khăn và trách nhiệm. Nhìn ông bước với những bước chân dứt khoát, đều đặn, cho tôi có cảm tưởng Ông từng dẫm chân lên nhiều vùng đất xa lạ đầy nguy hiểm.

Với những lý do trên, khi tốt nghiệp khóa 16 Trưng Tập, tôi đã chọn về Quân Y Nhảy Dù không một do dự. Ngoài ra, còn một lý do thầm kín là tôi muốn có một thay đổi quan trọng vì chuyện tình cảm riêng tư của mình - tôi mãi nhớ câu bi hùng tráng của người lính nhảy dù “Parachutiste, tu dois apprendre à souffrir car tu es fait pour mourir”- đúng với diễn nghĩa của “Tìm sinh lộ trong tử lộ”, như tìm thấy chính mình qua thử thách để chiến thắng mối tình trắc trở. À vaincre sans péril, on triomphe sans gloire.

Tên của Y Sĩ Đại Tá Nhảy Dù Hoàng Cơ Lân được nhắc đến khá nhiều lần trong khóa học Hành Chánh Quân Y, khi tôi chính thức phục vụ QY Nhảy Dù, hay về sau khi ở hải ngoại. Ông biểu hiện cho hình ảnh của một quân nhân chuẩn mực, bước từng  bước một, vững chắc đi từ dưới lên trên, từ một y sĩ Nhảy Dù vào năm 1957 ngay sau khi tốt nghiệp YK Saigon, rồi Đại Đội Trưởng Quân Y Nhảy Dù của Liên Đoàn Nhảy Dù. Năm 1966, song song với sự thành lập của Sư Đoàn Nhảy Dù, Ông được vinh thăng Y Sĩ Thiếu Tá, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn Quân Y Nhảy Dù, kiêm Y Sĩ Trưởng đầu tiên của Sư Đoàn Nhảy Dù. Ông đã phục vụ liên tục 13 năm trong binh chủng Nhảy Dù, dưới quyền của 3 vị tư lệnh, là Nguyễn Chánh Thi, Cao Văn Viên, và Dư Quốc Đống. Rồi Y Sĩ Trung Tá năm 1970 với chức vụ Phụ Tá Quân Y Lục Quân tại Cục Quân Y, tham dự khóa học tham mưu cao cấp tại Fort Leavenworth, Kansas, 1971-1972, và từ năm 1972 Ông là Y Sĩ Đại Tá, Chỉ Huy Trưởng Trường Quân Y. Tất cả những thăng quan tiến chức – theo các tài liệu, những cuộc phỏng vấn với các ký giả trong và ngoài nước, và lời ngợi khen của các đàn anh QYND mà tôi được nghe sau này - Không phải do liên hệ chính trị hay giao tiếp salon, mà đích thực vì khả năng chuyên môn và tài lãnh đạo xuất sắc của chính cá nhân Ông qua bao năm tháng miệt mài với Quân Y Nhảy Dù, sát cánh với đơn vị tác chiến Nhảy Dù anh hùng này, từng cứu chữa, che chở các thương binh Nhảy Dù của mình, kể luôn những thương binh địch, giữa chiến trường đang sôi sục lửa đạn.

Đại Tá Hoàng Cơ Lân có tiếng là một cấp chỉ huy trong sạch, thanh liêm và ngay thẳng. Tại Trường Quân Y, Ông giúp cải tổ lại kỷ luật và quân phong của các sinh viên sĩ quan Quân Y hiện dịch, ra chỉ thị các sinh viên phải vào ngủ trong trại, ngoại trừ khi phải trực gác ở bệnh viện, phục hồi duyệt binh và chào cờ VNCH mỗi sáng thứ Hai tại Vũ Đình Trường, những sinh viên hiện dịch bị rớt 1 niên học YK bị cho ra khỏi trường Quân Y. Và có lẽ quan trọng nhất là không còn có chuyện những bác sĩ tốt nghiệp Hiện Dịch hay Trưng Tập thuộc thành phần COCC đã có nhiệm sở của mình trước khi danh sách các đơn vị do Cục Quân Y được phổ biến chính thức tại Trường Quân Y để toàn thể các Quân Y Nha Dược sĩ của toàn khóa chọn cùng một lúc. Tôi có nghe một câu chuyện sau đây: một đàn anh trong QYND quá hoảng sợ sau khi trở về từ trận Hạ Lào 1971. Gia đình anh “chạy” cho anh ra khỏi QYND trực tiếp với Cục Quân Y. Khi anh về lại bộ chỉ huy TĐQY Nhảy Dù trình diện Bs. Hoàng Cơ Lân, bấy giờ là Tiểu Đoàn Trưởng TĐQYND, để lấy sứ vụ lệnh xuất khỏi QYND, anh “bị” cho ngồi chờ bên ngoài hơn 3 tiếng đồng hồ. Khi vào gặp Bs. Hoàng Cơ Lân, anh được BS Lân cho một bài học, rằng “nếu anh muốn ra khỏi Nhảy Dù thì anh cứ đến hỏi tôi, nói rõ lý do chính đáng thì tôi cũng sẽ làm vừa lòng anh. Cớ sao anh phải qua mặt tôi, lên đến tận Cục Quân Y để chạy chọt xin xỏ ra khỏi Nhảy Dù??!! Anh làm như vậy thì mất mặt QYND quá!!”

Lần đầu tiên tại hải ngoại, tôi gặp lại Đại tá Hoàng Cơ Lân trong một Hội Ngộ QYND tại tư gia anh chị Bs. Nhảy Dù Đường Thiện Đồng vào khoảng giữa thập niên đầu của thế kỷ 21. Ông trông rất phong độ, được mọi người thương kính. Ông đem theo một số berets đỏ của Nhảy Dù Pháp. Cầm chiếc beret cuối trên tay, Ông hỏi “ai muốn đây”. Tôi bèn đưa tay lên “Dạ, em muốn”. Ông ngạc nhiên hướng về tôi – có lẽ vì chưa rõ ràng biết tôi là ai dù trước đó tôi đã được giới thiệu, và hỏi tiếp” vì sao cho anh?”, tôi trả lời ngay “vì em là đàn em nhỏ nhất trong tiệc, mọi người đây ai cũng từng nghe Đại Tá kể chuyện thời xưa, chỉ em là chưa một lần nào, nên em vỗ tay nhiều nhât”. Ông gật đầu, cười và trao tôi chiếc nón beret đỏ.

Y Sĩ Đại Tá Nhảy Dù Hoàng Cơ Lân là một đại Niên Trưởng của tôi. Cả 2 chúng tôi từng phục vụ Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù, một đơn vị thâm niên và thiện chiến của binh chủng Nhảy Dù. Ông theo chân TĐ1 Nhảy Dù suốt 4 năm trong thời gian đầu đời làm y sĩ Nhảy Dù, còn tôi chỉ khoảng nữa năm, vừa đủ thời gian thấm cái nhịp độ kinh hoàng của cuối cuộc chiến, trước khi được đưa qua TĐ15 Nhảy Dù.

Từ dạo tôi bắt đầu viết những chuyện ngắn về người lính và nỗi niềm của họ trong cuộc chiến Miền Nam VN, tôi thường chia sẻ với diễn đàn QYND. Một trong những người hay trả lời với những lời khuyến khích là Đại Tá Hoàng Cơ Lân. Nên từ đó tôi bắt đầu một nhịp cầu tri ân với Đại Tá Lân. Trong một lá thư để trả lời cho một bài viết của tôi, Ông viết “Anh là một người bác sĩ Nhảy Dù có tâm hồn và lãng mạn”. Khi tôi ngỏ lời nhờ Đại Tá Hoàng Cơ Lân viết lời giới thiệu cho cuốn sách “Tháng Ngày Tao Loạn”, Ông nhận lời ngay và viết lên những dòng chữ khí khái, xúc động, làm cuốn sách tăng phần trang trọng. Về sau, Ông thường chia sẻ với tôi những mẫu tin, những tài liệu liên hệ đến Nhảy Dù VN, Nhảy Dù Pháp, và hình ảnh những buỗi lễ kỷ niệm, đặt vòng hoa tưởng niệm các chiến sĩ Nhảy Dù của Pháp Việt mà Ông cùng các đồng dội Nhảy Dù VN định cư tại Pháp đã tham dự. Rồi Ông lần lượt chuyển giao cho tôi vô số tài liệu về lịch sử Nhảy Dù VN, về Quân Y Nhảy Dù VN, về chiến tranh Đông Dương, về Trận Điện Biên Phủ, về các lính người Việt đưa sang Pháp chiến đấu trong Thế Chiến Thứ Nhất…Như thể Ông chuyển cho tôi ngọn đuốc trách nhiệm “Gìn Vàng Giữ Ngọc”di sản quý báu Ông từng cất giữ trong bao nhiêu năm.



Dòng họ Hoàng Cơ là một dòng họ có tiếng trong chính trường, kể cả quân đội, của Miền Nam VN. Theo tôi được biết, thân phụ của Đại Tá Hoàng Cơ Lân là Bs. Hoàng Cơ Bình, con trai của Cụ Tuần Phủ Hoàng Huân Trung, Chủ Tịch sáng lập của Hội Khai Trí Tiến Đức (Ông Phạm Quỳnh là Tổng Thư Ký của Hội). Bs. Hoàng Cơ Bình và 2 người em là Hoàng Cơ Nghị (GS Physique) và  Hoàng Cơ Thụy (Luật Sư) đều tốt nghiệp từ Paris. Phu nhân Đại Tá Lân là bà Dương Khánh Vân (trùng tên với Bs. Lê Khánh Vân, chủ tịch Hội Y Giới Pháp, là bác sĩ săn sóc cho sức khỏe Ông Bà), từng là GS dạy trường Couvent des Oiseaux ở Saigon. Ông Bà lấy nhau từ khi Đại Tá Lân đang còn học trường Thuốc. Nghe nói lương dạy học của phu nhân còn nhiều hơn lương Đại Tá của chồng! Trong thời gian phục vụ quân đội tại VN, Đại Tá Hoàng Cơ Lân không mở phòng mạch tư. Tuy nhiên, sau khi định cư tại Pháp, Bs. Hoàng Cơ Lân có mở cabinet cách Paris khoảng ½ giờ lái xe, cho đến tuổi về hưu. Ông Bà Hoàng Cơ Lân có người con trai làm Nha sĩ với vợ là bác sĩ, và 2 con gái, trong đó có một cô tốt nghiệp Conservatoire de Paris, từng trình diễn nhiều nơi tại Pháp và Âu Châu. Xin chúc mừng.

Với một câu viết “Tôi chờ gặp anh đó” đầy tình nghĩa trong một lá thư BS. Lân gởi cho tôi đầu năm 2025, vợ chồng chúng tôi quyết định nhanh chóng viếng thăm Ông Bà vào cuối tháng 5, 2025. Khi gặp mặt, tôi đứng nghiêm chào tay “Bonjour mon Colonel”. Bs. Lân nhắc lại lời viết “tôi chờ gặp anh từ lâu lắm…Thật vui mừng khi anh chị đến thăm chúng tôi hôm nay”. Tôi quá cảm động nên líu lưỡi, lắp bắp những câu vô nghĩa. Vì không mấy quen thuộc với Paris nên chúng tôi đến trễ. Khi vào bên trong, tôi xúc động nhìn thấy Ông Bà Y Sĩ Thiếu Tá Nhảy Dù Trần Đức Tường, là Đích Thân của tôi khi Ông là vị Tiểu Đoàn Trưởng TĐQY Nhảy Dù thời tôi vào Nhảy Dù, đồng thời cũng là vị TĐT cuối cùng của QYND. Ngoài ra còn có một số quân nhân ND quen thuộc với ĐT Lân, và Bs. Nguyễn Duy Trường, một bạn thân của tôi từ thời trung học tại trường Providence, Huế; về sau, Trường tốt nghiệp cùng một năm với tôi, nhưng từ YK Saigon.

Mọi người xúm xít mở rượu, chia nhau mấy chai Champange uống mừng và cắt bánh hội ngộ. Với tôi, tôi quá hân hạnh vì tôi gặp được cả 2 vị cựu Tiểu Đoàn Trưởng QYND cùng một lúc, tại một chỗ. Bs. Trần Đức Tường, với ám hiệu truyền tin là Tường Vi, là một niên trưởng mà anh em chúng tôi trong QYND rất thương mến. Vì anh ăn nói nhẹ nhàng, tính tình hòa nhã, con người khí khái rất được các anh em y sĩ Nhảy Dù và các y tá thuộc quyền thương mến. Anh từng nằm gai nếm mật khi nhảy vào vùng địch, và còn nhiều hơn nữa khi trong tù CS.

hcl2
**Từ Trái sang Phải: Minh Châu, Phu Nhân và Y Sĩ Đại Tá Hoàng Cơ Lân, Phu nhân và Y Sĩ Thiếu Tá Trần Đức Tường, Vĩnh Chánh

 

hcl3
** Hai vị cựu Tiểu Đoàn Trưởng, Tiểu Đoàn Quân Y Nhảy Dù, cùng 2 phu nhân

Gặp lại Bs. Hoàng Cơ Lân, tôi nhìn thấy giữa mái đầu bạc và đôi mắt còn tinh anh và quắc thướt vẫn toát lên sự từng trải của người quân nhân từng sống với Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm. Dáng ngồi và dáng đi phải nghiêng về một bên, bước chân có phần khó khăn và chậm lại. Đôi vai từng mở rộng nay gầy yếu, mang theo quá khứ hào hùng và nỗi buồn lặng lẽ của thời gian. Nhất là lưng Ông, một thời từng thẳng tắp, nay cong khá nhiều khiến thân người Ông khòm xuống. Trong một câu chuyện Cổ Học Tinh Hoa, một quan lớn đến may áo chầu. Người thợ may hỏi Quan làm việc lâu năm chưa? Quan hỏi lại “sao phải hỏi câu đó”. Người thợ may thưa “nếu Quan mới làm quan, thân áo trước dài hơn thân áo sau vì Quan hãnh diện ưỡn ngực ra trước - Ngược lại, nếu Quan làm việc lâu năm, lưng Quan còm xuống vì khiêm tốn và trách nhiệm, thân áo sau sẽ dài hơn”. Từ câu chuyện, thân áo sau dài hơn thân áo trước trở thành biểu tương của địa vị,

tuổi tác và trách nhiệm. Nếu Đại Tá Hoàng Cơ Lân mặc áo dài nam truyền thống, thân áo sau của áo Ông chắc hẵn phải dài hơn thân áo trước khá nhiều.

Lòng tôi chợt chùng xuống, xốn xang và xúc động, nhất là lúc Ông thỉnh thoảng có ánh nhìn xa xăm và bàn tay hơi run khi giải thích cho tôi những tấm hình kỷ niệm đời quân ngũ, các bằng tốt nghiệp, khen thưởng và một dãy huy chương cao quý nằm trên tường của phòng làm việc và hành lang bên ngoài. Trong ánh sáng mờ ảo của cuối ngày, tôi nhận thấy trong cái tĩnh lặng khi bước theo Ông, vẫn còn đây là một người lính già đáng kính, từng kinh qua chinh chiến và giờ đang ở ngưỡng cửa thiêng liêng của cuộc đời. Tôi cũng nhận thấy ánh mắt của phu nhân dõi theo chồng mình mỗi khi Ông di chuyển, một ánh mắt vừa thương yêu, che chở, lại vừa có phần lo lắng, như sẳn sàng chạy đến nâng Ông lên nếu cần. 

Chiều đến, Ông Bà BS. Lân mời mọi người đi ăn tối tại restaurant gần nhà. Chúng tôi muốn dành phần trả tiền như đã xin trong thư trước, nhưng Đại Tá Lân không cho. Bien, Mon Colonel. Et grand merci. Trong bàn ăn vợ chồng chúng tôi hân hạnh được ngồi đối diện với 2 vị Niên Trưởng của Quân Y Nhảy Dù và 2 phu nhân, nên câu chuyện dài lại được tiếp tục một cách hoan hỷ. Ra khỏi nhà hàng, Ông Bà không cho chúng tôi đưa về tận nhà. Nhìn Ông Bà đầm ấm cầm tay nhau bước qua đường, tôi bùi ngùi lặng nhìn theo 2 người cho đến khi họ bước khuất vào bên trong. Đích Thân Tường Vi và phu nhân chở chúng tôi về lại nhà người bạn.

 

 hcl4Đôi lần trước đây, Bs. Hoàng Cơ Lân viết cho tôi câu nói bất hủ của Tướng 5 sao Douglass McArthur “Old Soldiers never die; they just fade away”. Với tôi, câu này mang ý nghĩa những đóng góp và ảnh hưởng của những quân nhân có tiếng tăm vẫn tồn tại ngay cả khi họ dần rút lui khỏi vai trò chỉ huy chủ động, vì giá trị và di sản của họ không kết thúc cho dù họ rời ánh đèn của một thời trách nhiệm và vinh quang. Và rằng kinh nghiệm, trí tuệ, thành đạt và ảnh hưởng của họ vẫn tồn tại - dù thời gian, dù âm thầm – để vẫn được tiếp tục truyền đạt lại cho thế hệ mai sau. Đây không phải là một sự tôn vinh, mà chỉ một thừa nhận chính đáng của đa số, với trân trọng và thương nhớ.

Với tôi, Y Sĩ Đại Tá Nhảy Dù Hoàng Cơ Lân xứng đáng là một OLD SOLDIER. Một đời cống hiến. Một con người trách nhiệm. Một trái tim nhân hậu. Và một nhân vật đáng quý.

Với một người bước qua tuổi 90, điều đẹp nhất không phải là những ca tụng lớn lao, mà là có kẻ còn nhớ, còn thương kính và trân trọng mình. Nhất là còn muốn kể lại những câu chuyện của họ bằng tất cả sự tử tế và lòng biết ơn. Đó là điều tôi muốn làm từ lâu nhưng nay mới thực hiện.

Cho phần kết, đàn em “út” Vĩnh Chánh xin có đôi vần thơ kính tặng Niên Trưởng Bác Sĩ Hoàng Cơ Lân, Đàn Anh lớn của Quân Y Nhảy Dù Việt Nam:

“Lưng thẳng tắp, Ông đi trong sớm mai

Bước quân hành dứt khoát tự bao ngày

Một đời lính, tóc pha màu sương gió

Giữa chiến trận, giữa bao lần nguy khó

Ông đứng lên vì đồng đội, vì non sông

Ông đã sống bằng trái tim trách nhiệm

Dìu dắt đàn em, che chở thuộc quyền

Mỗi lời dạy là một lần truyền lửa

Cho đàn em, lớp trẻ vững niềm tin.

Trong bệnh xá giữa mùi thuốc và máu

Ông cúi mình chăm sóc những thương binh

Bàn tay lính mà dịu dàng đến lạ

Giữ sự sống như giữ lấy nghĩa tình

Nay nhìn lại chặng đường dài nguy dọc

Dáng Ông đi vẫn uy nghiêm, hiền hòa

Một đời lính chẳng mong gì ghi nhớ

Chỉ mong rằng Đất Nước Mãi Nở Hoa

 

8 Janvier, 2026

Vĩnh Chánh

Nguyên Y Sĩ Trưởng Tiểu Đoàn 1 và 15 Nhảy Dù – 1974-1975

Mission Viejo, CA – USA

 

** Y Sĩ Đại Tá Nhảy Dù Hoàng Cơ Lân nhảy saut cuối cùng vào ngày 15 tháng 3, 2026, tại Paris, Pháp Quốc. Tang lễ và hỏa táng sẽ được làm tại nghĩa trang Père Lachaise, Paris.

Xin cầu nguyện cho linh hồn Phao Lồ Hoàng Cơ Lân sớm được Chúa nhân từ đón vào chốn ngàn thu.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Năm 1956, một phụ nữ trẻ qua đời trên bàn sinh ở Bệnh Viện Trung Ương Huế. Đứa bé mồ côi được các soeur tại Cô Nhi Viện Tây Lục đem về nuôi, đặt tên là Th. Sau này, anh Th nghe các soeur kể rằng cha anh là một “ông Tây nhà đèn” đã hồi hương từ trước khi mẹ anh biết có thai. Dù được các soeur thương yêu và dạy học, cậu bé Th thích phiêu lưu hơn chữ nghĩa nên đã bỏ ra đời kiếm sống bằng nghề đánh giày từ năm mười ba tuổi. Trong thời gian kiếm ăn trên khắp các nẻo đường, cậu đã ngưỡng mộ hình ảnh oai hùng của các anh lính VNCH. Vì thế, khi vừa đủ mười tám tuổi, anh Th tình nguyện nhập ngũ. Sau ba tháng huấn luyện ở trung tâm Giạ Lê, Thừa Thiên, Huế, anh đã chính thức trở thành Binh Nhì của Đại Đội Trinh Sát thuộc Sư Đoàn 1.
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù. ( In old Burmese belief, every large tree shelters a spirit called a Nat. Before anyone cuts a tree, they must ask the spirit for permission. One day, a woodcutter ignored this rule. He chopped down a tree without a word of warning. The Nat who lived inside felt deeply offended and decided to take revenge.)
Anh đã đến căn nhà cũ, 76 Bạch Đằng. Đứng bên kia đường, đối diện, nhìn nhà mình. Mái tóc phai màu, mất thăng bằng, sụp xuống mé phải, cài một cần ăng-ten cong vẹo như chiếc lược hàng nội. Đôi cánh cửa sổ bụi như ghèn bỏ thí trên đôi mắt phụ nữ không buồn trang điểm nữa. Thềm xi măng trước cửa nứt nẻ — nơi mẹ anh thường dội nước những trưa hè cho bớt hơi nóng bốc nực phòng khách. Anh đã gõ cửa nhà mình, lịch sự, như khách. Không ai mở. Cả xóm không còn ai quen. Anh đứng một lúc rồi đi, cảm giác mình là con ma vô hình lục lọi trong nghĩa địa giữa mùa cúng vàng mã.
Đêm không ngủ được, Khoa nằm nhìn trần nhà.Không có lý do gì. Đó mới là vấn đề.Người ta mất ngủ vì lo lắng, vì đau, vì hối hận, những thứ đó anh hiểu. Nhưng Khoa nằm trong phòng máy lạnh mười bảy độ, nệm tốt, gối mềm, và não cứ chạy như một cái máy không có nút tắt mà không sản xuất ra thứ gì cụ thể. Chỉ là... nhiều loại hình ảnh, câu hỏi, câu trả lời nửa chừng, nhảy vọt từ nơi này sang nơi kia, từ người này sang người nọ… một loại trật tự hỗn loạn của người không biết mình đang nghĩ gì. Chợt Anh dừng lại ở khuôn mặt của Linh.
Đến cuối chợ là gian hàng ăn, đập vào mắt tôi là xe hủ tíu mì của một người Tàu rất đông khách. Ông chủ vừa làm hủ tíu vừa rao hàng bằng 3 tiếng Việt-Cam-Tàu. Tôi đã thưởng thức tô hủ tíu Nam Vang ngay giữa lòng Nam Vang (tên cũ của Phnom Penh), một tô hủ tíu ngon đến nhớ đời. Trên đường về, chúng tôi đi qua những con đường rất đẹp, có hàng cây cao bóng mát, có những quán cafe vỉa hè, và đâu đó vang lên những bài hát “nhạc Vàng” của Sài Gòn, mới thấy dân Việt sinh sống nơi đây rất đông.
Tôi cúp phone, thay vội bộ quần áo, chạy ra ngoài xe mà muốn kêu trời! Trong cái tiệm thuốc Shoppers Drug Mart này, ngoài nhóm nhân viên ở quầy bên ngoài bán Grocery và nhóm bán mỹ phẩm, thì trong quầy pharmacy, ngoài các dược sĩ là nhóm “assistant” (Dược tá) do tôi …cầm đầu vì tôi lớn tuổi nhất và kinh nghiệm làm việc lâu nhất, nên được đám Dược tá gọi là … “chị Đại” chớ thực ra tôi đâu có chức quyền gì, vì mỗi “ca” làm có một “boss” đó là người Dược Sĩ của ca làm đó . Vậy mà hễ có chuyện gì lớn, nhỏ, từ chuyện giải quyết khiếu nại của khách hàng, những khúc mắc giữa các groups trong tiệm, cho đến chuyện cá nhân lặt vặt, cứ không giải quyết được là chúng lại réo tên tôi.
Chỗ anh ngồi là gần cuối máy bay. Chung quanh anh là những người có vẻ mặt lạnh lùng, khép kín. Mắt họ nhắm nghiền, không ai muốn nhìn ai. Chỉ có anh là đang cố giương mắt nhìn khoảng không gian nhỏ xíu bên ngoài cửa sổ mà hai người ngồi bên cạnh đã án ngữ gần hết. Anh muốn nhìn một mảnh của quê hương lần cuối, như thể đó là hình ảnh của em, hình ảnh vừa tan biến cách đây mười mấy phút, khi anh quay lưng đi, lẫn vào dòng hành khách nối đuôi nhau bước vào khoang máy bay.
Cơn bão tuyết đã qua hơn tuần rồi mà hai bên đường và trong các vườn cây tuyết vẫn chưa tan vì còn lạnh quá, ngày nào cũng dưới zero độ. Nhưng nhờ vậy mà những bao rác tiếp tục chồng lên nhau trên các đống tuyết cao ngất ngưởng tới thắt lưng bên đường, chờ xe đến mang đi, không có mùi hôi. Đường sá đã khó đi quanh những công trình xây dựng không ngưng nghỉ nay lại có thêm những rào cản mới, cấm người bộ hành đến gần những toà cao ốc để tránh những mảng tuyết đã bắt đầu đóng thành băng đang rơi xuống
Em nhỏ hơn tôi đúng hai tuổi. Chúng tôi cùng chào đời vào tháng Ba, cách nhau hai ngày. Hồi nhỏ, chúng tôi trông sàn sàn nhau. Mạ chúng tôi thường may sắm cho hai đứa cùng lúc, từa tựa nhau. Tôi được bộ đồ có hình trái lê, em được hình trái táo. Nhưng em cũng có những ý thích riêng của mình. Mạ dẫn hai đứa ra hàng giày dép. Tôi chọn đôi dép màu ngà, không nổi, không chìm. Em chọn đôi dép quai màu hồng tươi chói chang, nổi bật trên bàn chân ham chạy nhảy, da dang nắng, đen thùi lui.
Tôi không biết bên kia với nó là gì. Không biết nó biết không. Có thể không có khái niệm bên kia trong người nó. Chỉ có mùi nước, mùi cỏ ướt, mùi của nơi da nó sẽ được thở đầy hơn. Cơ thể nó biết phải đi về hướng đó mà không cần hỏi tại sao, không cần biết có gì chờ, không cần tính xem đáng hay không đáng.
Có những tình cảm không cần nói thành lời mà vẫn hiện hữu rất rõ trong tim. Có những tình yêu lặng lẽ, rất âm thầm nhưng vô cùng mãnh liệt. Tôi yêu em như thế, yêu theo cách lặng lẽ nhất mà một người có thể yêu; có lẽ và sẽ chẳng bao giờ em biết được những gì tôi giữ trong lòng. Huy đến trong đời tôi như một làn gió mát giữa trưa hè, không ồn ào, không phô trương, nhưng khiến tôi xao động đến tận tâm đáy tâm hồn. Em có nụ cười dịu dàng, ánh mắt trong trẻo như mặt nước hồ thu, và giọng nói nhỏ nhẹ như tiếng chuông khẽ vang trong buổi chiều tĩnh lặng. Mỗi lần nhìn em lặng lẽ ngắm mưa ngoài cửa sổ, mái tóc nhẹ bay, lòng tôi lại dâng lên một cảm giác yêu thương ngập tràn.
Tôi có đôi lần nói một cách tự hào là chẳng bao giờ giữ các cảm xúc ‘mạnh’ trong lòng. Người sống với sự quá khích thường là người bị mất sự vui sống trước tiên. Không ưa, không thích, không hợp, không ‘chịu nổi’ thì không làm bạn, thế thôi. Nhưng những năm gần đây, các cảm xúc ‘mạnh’ lại tràn lan như quả cầu bồ công anh trong gió. Những sợi tơ trắng bám nơi nào, lúc nào không biết, nhưng chúng làm người ta ngứa ngáy vô cùng. Ngứa mắt, ngứa miệng. Không thể nào không dụi mắt, không thể nào không hé môi. Sự ngứa ngáy lại này rất ác ôn: nó thích xuất hiện bất ngờ. Khi ta đang ăn trưa với một người bạn, đang chuyện trò với người thân, chẳng hạn. Không lẽ bỏ bữa ăn? Không lẽ cúp điện thoại? Thế là phải dụi mắt, phải hé môi. Đã lỡ hé rồi, thì cho nó há ra luôn. Thế là người bạn, người thân cũng khoe cái lưỡi không xương nhiều đường lắt léo!
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.