Hôm nay,  

Từ bi trí tuệ bên cạnh chiến tranh hòa bình

25/09/202600:00:00(Xem: 285)

Tranh-Ann-Phong
Tranh Ann Phong
 
“Chiều nay nghe tiếng chuông chùa,
Lòng ai chợt thấy như vừa tỉnh mê.
Trần gian trăm lối ê chề,
Bao nhiêu phiền não con về Như Lai.”
Chúc Thanh
  
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
 
Mỗi thời đại có những thuận lợi và những khó khăn. Con người quy thuận theo thuận lợi và tìm cách giải quyết khắc phục những khó khăn, kể cả những khó khăn về đạo lý những khó khăn về khoa học.
 
Nhưng bằng cách nào cũng chỉ giải quyết được một cách tương đối. Không hoàn toàn thoải mái. Có những người chấp nhận tương đối để có thể sống an hòa. Nhưng cũng có nhiều đối tượng muốn càng giải quyết vấn đề con người để xã hội phải tối ưu, không được có một thiếu sót hay một bất mãn… dĩ nhiên đó là vấn đề khó đến không tưởng. Và do đấy, xã hội loài người chúng ta, thế kỷ chúng ta đang sống, đầy bất an, va chạm, đầy chiến tranh do tích lũy cố chấp quyền lợi và chính trị đối kháng.
 
Do đấy vấn đề lý trí và công lý nhân bản rất khúc mắc… dù người ta vẫn hội họp, cố gắng tối đa để xóa mờ những dị biệt, những đói khổ, những tội ác của nền văn minh hiện tại… nói vậy, không phải văn minh hiện đại toàn là xấu xa, mà nó vẫn có lợi ích nhân ái cố hữu, mà dường như chúng ta chưa chạm tới, hay chạm tới một cách sô bồ, không đúng kỷ luật? Theo như lập luận của tác giả Paul Dahlke (Đỗ Kim Thêm dịch) thì mọi khó khăn xã hội mâu thuẫn nội tại đó, có thể tương đối giải quyết dựa theo mô hình thế giới quan hợp lý là từ bi và trí tuệ, thực hành qua trung đạo, một con đường tự vượt qua nhiều đối lập của ngã và vô ngã, của chính mình và của người khác căn cứ vào sự hiểu biết chính xác về nghiệp và vô thường.
 
Vô thường là một khái niệm mà ít có người chấp nhận vì tin rằng mình là một cá thể riêng biệt và hiện hữu. Nhưng rồi cơ thể ta và cả tư tưởng của ta rồi sẽ thay đổi theo thời gian:
 
“… Hoa nở để rồi tàn
Người gần để ly biệt…”
 
Khoa học và những tiến bộ của loài người rất vô tư, nhằm nghiên cứu các dữ kiện, mối liên hệ giữa các dữ kiện để phát minh ra chân lý, khoa học, do đó, giúp mở mang kiến thức và trí tuệ, tất cả giúp chúng ta suy tư và hành động đứng đắn.
 
Đạo phật gắn kết rất gần với khoa học. Trong địa hạt mở mang gìn giữ trí tuệ. Đường trung đạo dậy ta thói quen quan sát sự vật theo đúng như nó là nó. Trong đó có sự tôn trọng tự do và đề cao trí tuệ.
 
Việc tôn trọng sự việc này bắt nguồn từ khoan dung của từ bi, của sự tôn trọng tự do tư tưởng và tự do tín ngưỡng. Tất cả đều hướng về sự tiến bộ  tinh thần và trí tuệ con người.
 
Nhờ vào tinh thần từ bi, trí tuệ, mà đạo phật chưa hề gây ra một cuộc chiến tranh tôn giáo hay có ý bài bác một tín ngưỡng nào khác với tôn giáo của phật tổ, đã rao truyền hơn 25 thế kỷ qua.
 
Khi bị xua đuổi ra khỏi Ấn Độ, đạo phật lặng lẽ êm đềm di dời, sang khởi sắc ở Trung Hoa, nơi đây, phật giáo sống hòa đồng với khổng giáo và lão giáo, gọi là “tam giáo đồng nguyên”!
 
Khi hòa nhập vào Tây Tạng, phật giáo hòa nhập với tín ngưỡng và phong tục địa phương. Sự dịu dàng và từ tốn của đạo phật, cũng vậy, ở Nhật Bản, ngày nay khiến người dân Nhật tự coi mình vừa là phật tử, vừa là tín đồ thần đạo.
 
Những sự kiện đó cho thấy phật giáo vững vàng êm đềm vượt qua những ý thức chính trị và chủng tộc cực đoan, nhờ triết lý tâm linh sâu sắc từ bi của phật tổ. Những triết lý tâm linh tự nhiên đó góp phần lớn xóa tan nhiều cuồng phong thế tục phù du, để hòa nhập với sự tiến bộ vòng vo của đức tin và khoa học và lòng nhân ái.
 
Chung cuộc, tôn giáo là kim chỉ nam thực sự của con người, khi con người nhận biết bản thân mình là một sinh vật được hiện hữu, được tự do hành động và tự chịu trách nhiệm lấy mình!
 
Nãy giờ, C.T đọc sách vẩn vơ, rồi suy nghĩ hơi lung tung, làm rối lòng bạn? Giờ thì C.T xin kể hầu bạn một câu chuyện ngắn… nó cũng tóm gọn trong vô thường, có một chút từ bi lãng đãng, có một chút trí tuệ lảng vảng đâu đó.
 
Số là khi xưa, trước 1975, C.T còn đi dậy học, cùng trường, cùng ban, có một cô bạn nhỏ nhắn, cô giáo sư hiền hòa nhưng mau lẹ như con thoi. Tên là Hà Kim Lan, tôi cứ nhớ mãi mỗi lần đi chấm thi cùng nhau, K. Lan rọc phách, rồi, hồi phách, đọc điểm thí sinh rất đúng, rất mau lẹ, như một cái máy, mà không bao giờ lầm hay lộn điểm. Làm việc chung với nó thiệt là mệt và căng cái đầu. Lúc nào cũng như chạy và chạy, mặc dù K. Lan luôn tươi cười và không phật ý hay cáu kỉnh với một ai.
 
Cô ấy có chồng và 3 đứa con gái, cuối cùng may mà có thêm một thằng con trai, đặt tên là Hà Văn Trung Sơn họ sanh như năm một, năm một, nên cả 4 đứa bé kháu khỉnh như gần bằng đầu bằng chân nhau, khít rịt. Chồng cô đi quân đội xa nhà, thẳng hoặc đôi ba tháng mới về thăm vợ con một lần, một hai ngày, rồi vội vã ra quân ngũ.
 
Vì thế K. Lan phải gởi các con cho một bà vú nuôi ở cùng xóm An Lạc khi cô đi dậy học. Bà vú Tám đó có nuôi thêm một em bé trai, nhỏ, một tuổi, cùng tuổi với Trung Sơn, con út của Lan, bé trai đó cũng tên Sơn, là Trần Bảo Sơn. Bà vú cứ quen miệng kêu là Sơn anh, Sơn em cho dễ gọi chúng, khi kêu chúng vô bàn tròn ăn cơm trưa…
 
Mỗi buổi chiều, K. Lan ở nhà thì đón các con về. Riêng cu Sơn em thì phải ở luôn luôn ngày đêm ở nhà vú. Vì mẹ nó là cô Bẩy đi buôn hàng chuyến tận Nha Trang hay Huế… cuối tuần mới về hủ hỉ với con được môt ngày. Đầu tuần thứ hai nào cũng lại ra đi sớm. Có nhiều lần, K. Lan đón cu Sơn em về nhà mình, chơi với các con cô, những ngày, có chị có em sum vầy vậy, cu cậu sung sướng lắm vì như con trẻ, nó cũng cảm nhận được không khí gia đình quyến thuộc.
 
Rồi tình hình Sài Gòn những năm 1974, 1975 biến động rào rào. Chiến tranh càng ngày càng sáp lá cà và tiến sát thành phố Sài Gòn… người ta nhốn nháo, người ta cũng âm thầm bàn tính mưu kế đi tránh nạn cộng sản.
 
Một ngày đầu tháng 4/1975, cô Bẩy, mẹ của Sơn em, đưa tiền bạc và áo quần khá bộn của con giao cho bà vú gửi gấm vú bảo bọc cu em trong hai tuần lễ, cô lau nước mắt, hôn con… rồi trao vào tay vú với lời gởi gấm ân cần: “cho cháu ở luôn với vú trong 10 ngày, cô phải đi xuống miền Nam, cực Nam, là tỉnh Chương Thiện, cô đi thăm ba thằng cu em, vì ba nó bị thương do đụng trận nặng!”
 
Rồi cô đi luôn, cô Bẩy không còn bao giờ trở về nữa nghe tin cô và chồng bị chết một lượt trong một lần V.C pháo kích vào bệnh viện dã chiến Cần Thơ.
 
Khi đó thì bà vú đã lớn tuổi, luống cuống tìm cô giáo Kim Lan báo tin dữ. Giờ làm sao? Phải làm sao? Bố mẹ cháu mất cả rồi. Bà cũng thương Sơn em lắm vì nuôi lâu ngày, mến tay mến chân… thêm nữa thằng bé con thật khôi ngô dĩnh ngộ và ngoan.
 
Rồi một buổi chiều bà than thở: ôi trời ơi, sao hôm đó má nó không bồng nó theo… thì có phải cả ba đứa nó cùng được chết bên nhau rồi!
 
Cô Kim Lan vội gạt ngang:
 
Sao vú nói gở quá!... Để tôi tính coi!
 
Hay là cô nhận nuôi nó làm con luôn đi, thêm một đứa, thêm cái chén, thêm cái muỗng có là bao… tôi thì già rồi, cô thấy đó, trời làm loạn lạc thế này, thân tôi già cỗi, lo thân mình còn muốn không xong nữa… là đèo bồng một cháu mồ côi…
 
Vú cũng là thương hại thằng cu bé, vú dạm với cô Kim Lan  là cô cứ bảo bọc, nhận nó như là con như là bốn đứa kia cho nó có chỗ nương tựa, chớ tôi, tôi không tính thêm tiền công hay tiền sữa cháo gì với cháu bé…
 
Cô Kim Lan đập tay vỗ vỗ trán, rồi trả lời vú:
 
Vấn đề không phải tiền sữa hay cháo cơm, mà là tôi phải hỏi ý chồng tôi đã. Vú cứ chờ. Rồi một tuần lễ sau, chồng Kim Lan từ thật xa vội quay về gặp vợ, anh từ chối và dứt khoát không cho nàng nhận nuôi thêm cháu bé.
 
Không phải là anh ác ý ghét bỏ chi một đứa bé mồ côi cả cha lẫn mẹ… nhưng, trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh đang rối bời lung tung như hiện nay, ốc chưa biết có mang nổi mình ốc không chắc nổi… anh ở vùng I, em ở Sài Gòn, với bốn đứa con thơ trên tay, liệu em lo có xong không, mà ôm bế thêm một đứa con thơ nữa, nó chưa đi vững.
 
Vậy phải làm sao? Bà vú già rồi, bà đâu có tiền nuôi nó hoài?
Mệt quá, em cứ làm như là việc của em. Thôi, vầy, ngày mai, nói vú mang cháu xuống, gởi các soeurs ở cô nhi viện dưới Gò Vấp. Ở đó, họ đang lo làm gấp gấp hồ sơ cho các cháu ở Thông Thiên Học là viện mồ côi, đặng di tản sớm các cháu ra ngoại quốc…
 
Rồi Kim Lan cùng vú mang cháu và giấy tờ xuống bàn giao cho cô nhi viện, khi đã xin được và xuất trình đủ giấy báo tử của cha mẹ bé từ khu chiến Năm Căn, Chương Thiện … gởi về.
 
Công việc ồn ào, xã hội rối lung tung, cô Kim Lan vẫn nhớ thương chút chút thằng bé con nuôi ngộ nghĩnh đó… rồi chao đảo vì công việc này nọ, mãi tới lúc nghe tin xấu máy bay di tản con mồ côi gặp nạn, bà vú và cô Kim Lan lại rủ nhau đi Gò Vấp dò tin… vô vọng, họ cũng chẳng biết gì hơn. Họ rầu rĩ ít ngày, rồi tất cả cũng bay đi, cuốn theo chiều gió.
 
Thế rồi, hơn một nữa thế kỷ trôi qua, mau mà chậm, chậm mà mau. Như gió thoảng mây trôi.
 
Cô bạn nhỏ Kim Lan đã cùng gia đình di tản sang sống ở Pháp. May mắn trời ban. Bây giờ đã xong mọi công việc cơm áo gạo tiền. Cô đã nghĩ hưu và sống ở một ngoại ô không xa thành phố Paris 13.
 
Một hôm đấy, mùa Noël, trong một tiệm ăn Á Đông khá rộn rịp. Kim Lan cùng chồng ngồi ăn trưa, trong một góc phòng tiệm Đông Nam Á.
 
Độ khoảng 14 giờ, khách ra vô cầm chừng, ở bàn đối diện bên phải của cô, khít vô tường, có hai người khách cũng Á Châu, họ có vẻ Việt Nam, nhưng họ nói chuyện với nhau mau quá và hơi nhỏ giọng, nên không rõ họ là  Việt hay người Hoa… có một điều kỳ lạ là người lớn tuổi hơn hay nhìn chăm chăm cô Kim Lan nhiều lần, rồi họ lại rì rầm, rù rì, hình như họ không nói với nhau bằng tiếng Việt… cô Kim Lan cố ý nhìn cái ông lớn tuổi, muốn đoán xem họ người quốc tịch gì? Và hình như ông ta cũng cố ý nhìn cô trong một khoảnh khắc khá lâu… nhìn qua nhìn lại, nhiều lần ánh mắt chạm nhau. Họ, rõ ràng không có ác cảm mà… cô đảo mắt nhìn lại ông ta lần nữa, rồi tự nhiên, cô đứng lên, tiến gần một bước:
 
Bonjour, chào anh, có chuyện gì không anh?
 
Bonjour, xin chào chị, xin lỗi, không có gì quan trọng. Thưa chị là, cháu tôi, đứa ngồi cạnh tôi đây, nó cứ nói là nó biết chị! Cô Kim Lan nhìn chăm chăm cậu thanh niên đó, người mà ông già vừa nói là “cháu tôi!”
 
Cô cũng hơi giựt mình, thảng thốt một giây: cô ngập ngừng, trí nhớ đảo qua đảo lại:
 
Cháu nó biết tôi ư? Biết khi nào vậy à?
 
Thưa chị, nó nói nó biết chị ngày xưa là cô giáo dậy học ở Kỳ Hòa. Nó còn nói rõ là nó có tấm hình chụp chung với các con của chị, là Hòa, Thuận, Nhã Ái và Sơn… cháu không nói được nhiều tiếng Việt nên nó sợ. Nó sống và lớn lên ở bên Mỹ với cha mẹ nuôi nó cũng là người Mỹ.
 
Anh ơi, thế cháu có tấm hình đó ở đây không ?
 
Thưa chị, nó để ở nhà, đi du lịch mà mang theo album làm gì…?
 
Xin lỗi anh và cháu, tôi hỏi lẩn thẩn quá!
 
Rồi cô Kim Lan lại đưa tay lên mặt, xoa xoa vỗ vỗ trên trán… rồi bừng tỉnh:
 
Á á…  trời, tôi nhớ ra rồi, nó là Sơn em… cu con vừa nghe lọt hai tiếng “Sơn em“, người trẻ vội đứng dậy, tiến sát lại bên cô Lan, lắp bắp:
 
Yes… là con đây, là Sơn em… con chào cô! Nó chớp chớp mắt… không biết nói gì thêm, cô Kim Lan đứng lên xoa xoa vai nó và kéo nhẹ sát hơn về phía vòng tay cô:
 
Trời đất! Cám ơn thượng đế, chúng ta vẫn còn có nhau!!!
 
Paris tháng 9/2026
Chúc Thanh

Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
Hôm ấy đất trời quang đãng, bầu trời Colorado trong xanh như thể chưa từng xanh như thế, mây trắng lững lờ trôi trùng trùng vô tận, thảo nguyên mênh mông bát ngát.
Tôi rất thích bút danh "Hoàng Thị Cỏ May" mà chị Phi Loan dùng cho những bài thơ của chị, nhưng chưa có dịp hỏi chị tại sao chị lại chọn tên này. Hình ảnh "Cỏ May" gợi lên sự mộc mạc, bền bỉ, mang nét đẹp bình dị và phảng phất nỗi buồn quê hương và có lẽ đó là lý do chị thích cái tên này.
Thưa, chuyện là sư cô Chân Hiếu xuất gia đã hơn 10 năm với sư bà Huệ Chơn, một ngày kia cô thấy xa gia đình đã lâu, cô có ý muốn xin phép sư thầy về thăm mẹ già đã cả năm cô chưa gặp lại. Rồi được phép, cô về gặp mẹ, mẹ con mừng mừng tủi tủi hội ngộ, rồi cũng trong một buổi đó, hàn huyên vui vầy, nhân lúc vui vui câu chuyện mẹ mẹ con con. Bà mẹ già đã ngoài 80 tuổi, có lúc nhớ nhớ, có lúc đã quên quên ít nhiều.
Không có phương pháp tu hành nào giúp tìm ra câu trả lời, nỗi băn khoăn của thầy cứ kéo dài và tâm thầy hơi xao động. Không phải thầy nảy sinh ý nghĩ bất tịnh gì. Thầy chỉ tò mò thôi.
Chỉ có giữa nhà mình với nhà con hay mang thức ăn sang cho nhau mà tự dưng mất một cái nắp nồi. Tìm mãi cả hai bếp vẫn không ra. Chị của Nhàn bảo, cứ đo cái miệng nồi rồi ra tiệm Goodwill, cái gì cũng có hết. Nhàn nghe chị, đi Goodwill vào ngàyThứ Sáu, vì nghe nói Thứ Sáu lại được bớt 20% cho người trên 60 tuổi (Nhàn cười, nói khẽ một mình: 60 tuổi à? Dư sức qua cầu!)
Anh và tôi làm chung hãng với nhau khá lâu, rất thân, vừa là đồng nghiệp, vừa người Huế đồng hương. Một hôm anh mời đến nhà chơi. Nhân đang lúc rảnh rỗi bàn luận thế sự, tôi để ý trên bàn thờ nhà anh có treo bức tranh vẽ một ông quan đội mão rất uy nghi. Anh giới thiệu đó là ông Tổ nhà anh. Tôi tò mò hỏi cụ làm chức chi trong triều? Anh không trả lời, hỏi lại học sử có nhớ việc dưới triều nhà Nguyễn vua Thiệu Trị bỏ trưởng lập thứ là vua Tự Đức? Tôi nhớ có học điều đó, nhưng không biết gì thêm nữa. Anh trịnh trọng nói vị hoàng tử con trưởng vua Thiệu Trị đáng lẽ phải được chọn làm vua đó là: An Phong Công Nguyễn Phúc Hồng Bảo, là người trên bức chân dung đó. Và anh chính là hậu duệ của An Phong Công Hồng Bảo.
Chiến trận tuy ở xa nhưng đã như thật gần vì trong xóm có anh Đinh Văn Vũ mất xác trong một phi vụ tiếp vận miền Trung khi máy bay C-130 rớt xuống biển. Bạn thời tiểu học có Ngô Đắc Doanh tử trận, Nguyễn Văn Nam mất tích khi chưa tròn đôi mươi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.