Thơ Chủ Nhật: Hoàng Xuân Sơn | Thy An | Trần Yên Hòa

02/11/202511:51:00(Xem: 1372)

NT 4
Tranh Nguyễn Trung

 

Thảnh Thơi Đường Ngộ

Ta xách dù mà không đội
Chiếc mũ từ lâu bèo nhèo
Đi ra áo quần thẳng thớm
Chờ nghe chiếc lá bay vèo

Bay đi vàng nâu tím lục
Giữ màu trắng cho hương thôn
Hàng cây bạch dương trước ngõ
Lâu lâu cạ một nỗi buồn

Như giày rách như tay nải
Quai đời một nách sương hoa
Rồi cứ đi. năng đi. mãi
Vòng vo. cũng lại chốn nhà

Thì chim từ quy vẫn hót
Giục sương lam rải bóng hồng
Mùi thanh tân của gió biếc
Bợn lòng. mô phật. trầm luân

)+(
h o à n g x u â n s ơ n
21. tháng mười, 25

 

*

 

Nhẫn nại

 

không gian nhỏ

chuyển màu đỏ sẫm

mùa thu mang lại âm thầm

góc lòng thu hẹp

cơn mưa thanh tẩy những đợi mong

 

bức họa tường dây lá đỏ

buồn theo sương gió

xiêu lòng bờ quá khứ

trăm ngàn thi ảnh như giả bộ

vẽ vời nhan sắc qua nhanh  

 

quán tính của trăm ngàn phế thải

căn phòng đầy bụi

độ lượng trần gian rải dưới chân

tháng năm khao khát

qua cầu mấy độ phân vân

 

nhẫn nại mùa thu tan vào tĩnh lặng

chiều tàn em đi về hoa lá

những điều mang lại từ câu chữ

treo lên đỉnh ngọn

thơ ca ngợi vẫn xanh non

 

thy an

tàn thu 2025

 

*

 

Buổi trưa ấy

 

Buổi trưa ấy qua đời ta rất lạ

Cành cây xanh sáng mãi thật dịu kỳ

Gió thốc tháo trên tầng cao khí quyển

Em mơ hồ thương nhớ đến mê ly

 

Có phải ta vừa đi qua cơn sóng

Giữa dòng đời tụ-hợp-chia-tan

Trăng khuất dấu và sao lặng nín

Em đi vào cõi sống hoang mang

 

Buổi trưa ấy đứng dưới tầng mây thấp

Em-xênh-xang-áo-mão-cống-xang-xề

Trưa nắng quái chói lòa nghe mê mệt

Lặng ôm đàn ngồi khóc thỏa thuê

 

Buổi trưa ấy đúng là trưa thế kỷ

Có nắng trong xanh có ngất ngây tình

Ta cúi xuống trao em cành nguyệt quế

Bỗng thấy mình thành cát sạn, sinh linh

 

Trưa hôm ấy đúng là trưa yêu dấu

Em và trưa giữa phố thị say mềm...

 

Trần Yên Hòa

 

Tam quan mái lạnh người không tới | Cả ngôi chùa đứng khóc trong mưa.
Trước khi là một bài thơ, "Hòn Đá Làm Ra Lửa" đã là một hành vi kỳ lạ đối với chính khái niệm văn bản. Nó ra đời không trên trang giấy mà trong trí nhớ, giữa hai trại tù Gia Trung và Hàm Tân, suốt gần một thập niên, chỉ được ghi thành chữ lần đầu khi tác giả đã đặt chân tới Thụy Điển, theo tài liệu, nhưng tôi nghĩ, phải trước đó, khi ra khỏi tù hay đến chốn an toàn, phải ghi lại dù không được tề chỉnh như sau này. Phần đông người đọc dừng lại tắc lưỡi, xem đây là một chi tiết cảm động về nghị lực.
Tôi gặp lại anh bên kia ngọn núi / Trong nắng chiều sắp tối / Sao anh không về nhà? / Cha khóc con tàn hết mùa hoa / Mẹ chờ con khuyết cả trăng rằm / Nhà xưa em vẫn đợi / Đó không phải là nhà / Đó là cái còn lại / Của bóng tối. Khuôn mặt tôi không còn nữa / Bên kia cánh cửa: không ai chờ / Làng quê xa vời vợi: tiếng gà gáy sáng / Chó sủa đêm trăng.
Như đứa trẻ nghịch ngợm xé ra trên mặt nước những vòng tròn quấn quít trăm điểm mở
buổi chiều trở về từ cuộc đi bộ | nghe chút hương thơm của hoa jasmin | trắng như bạch ngọc
Cách tốt nhất để giết một con chim | là thế này: dù nó đang cãi cọ hay cất tiếng kêu, | bạn hãy viết rằng chú chim nhỏ đang hót.
Thưa Công nương mắt hương thu u uất Mùa thu không trở lại trong đôi mắt đại dương xanh đầy móng vuốt và, tiếng hát của nàng rắc hoa trên đường về quê cũ xa xăm. Công nương không tin ư
Chuỗi hạt mẹ nằm trên trang | Ý thờ sâu lắng miên man niệm tình
Trận Mậu Thân xãy ra, đơn vị tôi đánh nhau với vc ngay sân nhà.Trận Gò Me Biên Hòa cách hậu cứ tôi chừng 500 mét. Thằng em tôi, thằng em… tôi vừa cưới vợ cho nó nằm lại cùng chiến trường. Vợ nó đón đơn vị quay về ngay tại sân cờ, nhìn quanh không thấy nó, mang cái bầu, xông thẳng đến tôi, không một giọt nước mắt đấm vào ngực tôi bình bịch ‘chồng em đâu, mất rồi hả anh hai’. Vâng đời lính là vậy, vợ lính là vậy.
Để hiểu một nhà thơ, đôi khi phải bắt đầu từ chỗ thân xác họ đã đi qua. Với Nguyễn Hoàng Nam, chỗ ấy là một chiếc ghe đánh cá ra cửa biển Rạch Giá. Trong bài Về nguồn (1990), ông ghi lại khoảnh khắc mửa thốc mật xanh trong hầm ghe, và chính trong cơn say sóng kinh hoàng đó, ký ức quê nhà bật lên: xứ Bưởi Biên Hòa, căn nhà số 66 đường Phan Đình Phùng nơi người mẹ mang ông trong lòng. Rồi đến trại tị nạn Songkhla ở Thái Lan với nắng cháy tóc và sứa lửa phỏng da, sau những bữa ăn cá sình rau vụn. Rồi đến Bolsa, đến tượng Phước Lộc Thọ, đến những bãi biển California.
Môi thầm ngậm nửa lời kinh | Tưởng như thập giá ẩn mình trong sương | Trả lại Chúa những vết thương
tâm trí và khói lang thang | bên này, bên kia trái đất | hồ nước cạn, con đường ngập | cánh rừng tự thiêu | tảng băng bắc cực lững lờ
Đây không phải một tuyển tập theo nghĩa gom góp cơ học, mà là một sự chắt lọc công phu từ mười lăm tập thơ đã xuất bản cùng hàng trăm bài thơ lẻ rải rác trên các tạp chí và trang mạng văn học hải ngoại, do người biên tập Michelle Đặng thực hiện. Đáng chú ý, ấn bản đặc biệt này hoàn toàn không có sự tham gia trực tiếp của tác giả trong quá trình tuyển chọn, khiến nó mang dáng dấp của một cái nhìn từ bên ngoài, một tổng kết khách quan về hành trình sáng tác của chính người đã viết ra chúng.