Hôm nay,  

Văn-học Việt-Nam 50 Năm Hải ngoại – Thơ Trần Dạ Từ thời Hải ngoại

24/10/202517:07:00(Xem: 2216)
tran-da-tu-by-choe
Nhà thơ Trần Dạ Từ -- Tranh sơn dầu của họa sĩ CHÓE.

Nhà thơ tên thật Lê Hà Vĩnh, sinh năm 1940 tại Hải Dương. Ông theo gia đình di cư vào Nam năm 1954. Đầu thập niên 1960 ông cộng tác với Nguyên Sa làm tờ Gió Mới. Sau ngày 30-4-1975, ông cùng vợ - Nhã Ca, bị chính quyền Cộng sản Việt-Nam bắt giữ, riêng ông bị giam cầm 12 năm, 1976 -1988.
 
Năm 1989, gia-đình ông được chính phủ và Văn Bút Thụy Điển vận động sang nước này sinh sống, đến năm 1992 thiên cư sang Quận Cam, California, Hoa Kỳ. Tại đây cùng với Nhã Ca, ông lập hệ thống Việt Báo.
 
Đã xuất-bản ở hải ngoại Thơ Trần Dạ Từ (tuyển 60 năm làm thơ gồm 7 thi tập Thủa Làm Thơ Yêu Em; Tỏ Tình Trong Đêm; Yêu Em Yêu Loài Người trước 1975 và các thi tập ở hải ngoại: Hòn Đá Làm Ra Lửa; Nụ Cười Trăm Năm; Gội Đầu / Bay; Thơ Lặng Lẽ) do Việt Báo Foundation xuất bản năm 2018. Ông chủ biên tập Quê Hương, Bạn Hữu, Tù Đày: thơ văn hồi ức ký họa mang theo từ một thời người viết bị cầm tù  (Stuttgard: Trung tâm Độc Lập, 1990) /  Writers and artists in Vietnamese gulags; with Choé's cartoons from Vietnam; xuất bản nhân Ngày văn nghệ sỹ Việt Nam tại Washington D.C., 11-9-1990.
 
Xin trích bài về cõi Thơ, như những nhắn nhủ:
 
“Chào bạn, người khách trẻ của tôi
Đặt chân vào cõi tan tác này
Có thể
/ Bạn sẽ phải lãnh tí ti sốc
- Thơ thẩn quỉ quái gì thế này?
Cùng khắp, toàn sẹo dài sẹo ngắn
- Tới luôn, bạn ơi
/ Bọn chúng chỉ là
Vết roi đòn ngô nghê
Từ một thời vớ vẩn
Ô ồ, những lằn roi cũ đang trở mình
Đừng bận tâm, người sắp đọc  tôi
Chuyện giản dị thôi:
/ Bọn sẹo ngắn sẹo dài
đang sửa soạn nụ cười
- đón bạn” – 10-2017 (Mở)
 
Thơ tình, con chữ khó khăn tự bản chất và tâm hồn, trong nhiều nghịch cảnh:
 
“Nó ở đâu ra. Cái nhe răng
Nó ở đâu ra. Cái trợn mắt
Nó ở đâu ra. Cáo gầm gừ
Nó ở đâu ra. Móng và vuốt
Chúng ta đã gặp gỡ. Đã hẹn hò
Đã ôm ấp. Đã vuốt ve
Đâu thấy có nó
Chúng ta đã yêu đương. Đã sinh nở
Đã ghen tuông. Đã giận dữ
Đâu thấy có nó
Chúng ta đã sụp đổ. Đã chia lìa
Đã nhắm mắt. Đã tưởng tượng
Đâu thấy có nó
Nó ở đâu ra. Sao nó ra vậy
Cụp nó lại. Dìm nó xuống
Bẻ nó. Chặt nó. Dzụt bỏ nó
Khó à / Làm thế nào bây giờ
Từ từ. Cẩn thận nhé
Anh hôn em
” - Saigon, 9-9-1988, Ngày trở về từ nhà tù
(Thơ Tình Kiểu Nguyên Sa)
 
Và trong những tình cảnh khác:
 
“Dòng sông biết bay / Biển khơi biết bay
Chúng bay lên thành mây.
/ À a há! 
Mây tím mây vàng 
Mây xanh mây trắng 
Mây bay vào mắt chàng
Ô ồ ồ! Em cười 
Và mắt anh chàng bay 
/ bay bay theo em
Và em bay em bay
/ lung linh như giấc mơ
Mùa xuân biết bay / Tình yêu biết bay
Chúng bay lên thành thơ. 
/ Ơ hơ ớ!
Thơ ngóng thơ chờ 
Thơ thương thơ nhớ
/ Thơ bay và mắt mờ
Ố ồ, anh chàng khờ!
Đừng đắm trong mộng mơ 
Mau bay bay theo em 
Bay ngay không đợi chờ.
Và áo bay môi bay mắt bay
Tơ trời bay tóc bay
Sự sống bay.
Trong em trong tôi 
Bay ngay hôm nay
Bay ngay trong đời này.
Bay bay! Bay bay! / Bay!” - Calif 2015 (Bay)
 
Có những lúc nhớ nghĩ lại những nơi đã sống và đi qua, có những cái vui trong con chữ được đụng đến:
 
“Con cá gô trong cái gổ / nhẩy gồ gồ,
Đọc Chú Chín Cali viết về nước Mỹ
Nhớ ơi. Nhớ Bà Sáu Lục Tỉnh
Nhớ Cô Ba Sàigòn
Nhớ nhớ. Tô canh chua nhấp nhô 
Con cá rô. Ố ồ, Chú Ba Chợ Cũ cười 
Hây hây nó là mầy, 
/ con cá rô cây
Lỏi tì bắc kỳ năm tư vô Sài gòn.
Dzô. Dzô. Dzô. Dzô hò dzô
Dzô cái tô. Ô hô 
Cá rô cây thành cá trong gô
Con cá cây khô lèn trong bao bố
Và con cá tu gô
Gô. Gô. Gô. À gô gô
Con cá gô trong cái gổ 
/ nhẩy gồ gồ
Giống như tôi, con cá rô cây
Nó nhớ cái tô, nhớ cái gô
Xì xồ ngọng nghịu trong cái rổ
” - Little Saigon, 9-2017
(Con Cá Rô Cây)
 
Hòn Đá Làm Ra Lửa là một trường ca 12 đoạn được ghi chú là “được làm trong đầu tại trại tù Gia Trung-Hàm Tân (1979-1988), ghi thành chữ lần đầu tại Thuỵ Điển tháng 11-1988, và đăng toàn bài lần đầu tại Hoa Kỳ trong tạp chí Văn do Mai Thảo chủ biên tháng 2-1989…”.
 
Bản trường thi như một tự sự mang tính đối thoại với người thân và bằng hữu cùng hoàn cảnh lúc này hoặc đã từng sinh hoạt một thời… Bài mở đầu:
 
“Đen đúa. Sần sùi. Không đáng một xu
Dzụt gốc xoài. Quạ không thèm mổ
Quăng tận ổ. Kiến không thèm bu
Phơi giữa trại tù, kẻ thù không ngó
Đó là một trong hai hòn đá cổ sơ
Chỉ có em và tôi cất giữ
Rời nhau ra. Lặng lẽ. Dư thừa
Hợp đôi lại, chúng làm ra lửa”.
Những lời đầu để nói với người yêu dấu:
“Không hề từ que diêm, từ hộp quẹt
Chính từ lửa chung của đôi ta
Những quả bóng lân tinh đêm ấu thời

Đã đưa tôi về em
Không hề từ cột điện, từ dây nhợ
Chính từ lửa chung của đôi ta
Ngọn đèn nơi ngã ba năm nào
Khuôn mặt đêm tháng giêng dàn dụa
Không hề từ mặt trời, từ gió nồm
Chính từ lửa chung của đôi ta
Những hàng phượng chụm đầu bốc cháy
Lợp đỏ một mùa hè ngây dại
Chính từ lửa chung của đôi ta
Đám cháy hoa phượng
Đám cháy những nụ hôn lặng lẽ
Những năm tháng mù loà
Những bài thơ khù khờ, cóp nhặt
Đã cuộn khói ngạo nghễ
Không phải quê quán, mẹ cha, con cái
Cũng chẳng phải đất đai, của cải
Chính cuộn khói dại dột bốc lên
Từ lửa chung của đôi ta
Đã làm tôi kéo em vấp ngã
Chúng ta đã chia lìa
Chúng ta bị tước bỏ, bị bôi xoá
Lần cuối, khi quay đi trong xiềng xích
Em nhớ mà. Chúng ta cùng thấy nhau
Hòn đá cổ sơ sần sùi
Trong mắt nhìn mỗi đứa…”.
 
Đoạn 2 kể nổi đau khi tai ương ập tới:
 
“Cánh cửa bứt khỏi cổng, nhà bứt khỏi người
Trang giấy bứt khỏi mặt bàn
Chữ nghĩa bứt khỏi sách
Chúng ta bị bứt ra khỏi nhau
Ngày tháng năm bị bứt khỏi sự sống
Em vào nhà tù này, ra nhà tù kia
Bị đạp đổ. Đứng dậy
Bị phủ dụ. Quay đi
Bị đe doạ, mặc cả. Nhổ bọt
Em bị xua đuổi khỏi thành phố / Và biến mất
Như bao nhiêu người đã lặng lẽ biến mất
Tôi không biết giờ này em ra sao
Có lượm lại đủ lũ con cái tan tác không
Tôi không biết giờ này chúng thế nào
Em có gì để ăn, cho chúng ăn
Em có cách gì để thở, cho chúng thở
Em còn chỗ nào để nương náu, tạm bợ
Những con số dầu hắc hằn học
Khằn trên lưng trên ngực rách rưới
Những con số chì than dửng dưng
Trong sổ cái, sổ con bụi bậm
Những con số lặng lẽ lầm lì
Trong những T. những K. những Z.
Những con số vô danh, vô nghĩa
Những chữ cái vô tư, vô tội
Nhan nhản khắp nơi
Em sẽ tắt đi vĩnh viễn trong đó chăng
Như tôi. Như bao nhiêu người khác
Khi đĩa đèn ta cạn…”.
 
Ở đường củng, phải đối mặt với những con người mang mặt nạ ăn nói toàn mỹ từ gian dối, dùng cái đói thân xạc để chế ngự, đánh gục đối phương:
 
“Nhưng chúng ta đang biết cái đói khác
Cái đói tùng xẻo rỉ rả đêm ngày
Được xưng tụng là kinh điển, chính sách
Được trang phục lộng lẫy bằng mỹ từ
“
Phát minh vĩ đại của thiên tài
Vũ khí chuyên chế vô địch của giai cấp
Chủ nghĩa bách chiến bách thắng của thế kỷ”
Ở đâu ra cái đói quỉ quái ấy?
Từ quả cân đẫm mồ hôi, lão địa chủ thu tô
Từ đồng xu cắt cổ, bác chà gom nợ lãi
Đâu giản dị có vậy
Cái đói phát minh của thiên tài
Mọc từ luống cầy trên trán hói
“
Cầy đi cầy lại cầy tới cầy lui”
Đã để lại bao nếp nhăn tối tăm
Trên vầng trán đẹp đẽ đáng tiếc, sớm hói vì hằn học
Cái đói thành vũ khí chuyên chế vô địch
Nó được tính toán, được kết hợp lô gích
Sự co thắt dạ dầy. Nước miếng. Tiếng kẻng
Được tung, được hứng / Được quảng cáo xôm tụ:
“
Kiểm kê. Quản lý. Làm chủ”

Và nó vơ. Nó vét. Nó ban phát ơn huệ
Biến chén cơm, miếng bánh thành ma tuý
Biến tiếng kẻng cho ăn thành lệnh của ma quỉ
Để khuất nhục đồng loại
Tôi biết cái vũ-khí-đói này
Em ở đâu. Em coi chừng nó
Kẻng ăn gõ / Nước miếng ứa / Rớt nhãi chẩy
Biến hoá thành muôn hình nghìn vẻ…”
“Chẳng có gì đáng lo cho họ
Cũng đừng lo lắng cho chúng ta
Như anh biết yêu em và làm thơ
Tương lai biết phần việc của nó
Nguyễn. Và Nguyễn. Và Nguyễn nữa
Sắp chết
Sẽ đến lượt Lưu. Đến lượt Lê. Đến lượt Doãn
Có thể sẽ không còn chúng ta
Như đã không còn Khái Hưng,
Phan Văn Hùm, Phan Khôi
Đã không còn Vũ Hoàng Chương,
Nguyễn mạnh Côn, Hồ Hữu Tường,
Trần Việt Sơn, Nguyễn Hoạt
Không còn. Như bao anh em khác
Có thể không còn
Cũng chẳng mất đi đâu
Dòng chẩy nào không hao hụt, bốc hơi
Có thể chúng ta vẫn quanh quất đâu đó
Như bọt nước tung toé reo vui / Nơi này. Nơi kia
Trong bước đi bất tận của dòng suối sinh nở
Trang giấy chúng ta bị vò nát, ném bỏ
Có thể không bao giờ còn được nhặt lên
Bài thơ này, bài thơ khác / Có thể không viết ra
Tình yêu, sự ấm áp tôi hưởng nơi em
Như hòn đá cổ sơ trong chúng ta
Có thể không bao giờ còn được nhắc tới…”
 
Lời cuối là hy vọng và nhắn nhủ như tự khích lệ:
 
“Đó là một buổi sáng tháng Giêng rực rỡ
Không thứ cờ quạt nào vấy nhơ nổi bầu trời
Không thứ chủ nghĩa nào bôi bẩn được trí nhớ
Đồi núi và em mặc chung áo nắng vàng
Suối nước và em đi chung từng bước chân
Giản dị thôi. Như ngày nào. Em tới
Tới và nói chung với cây cối một lời
“À. Anh ấy nằm đây / Phải vậy chớ
Anh ấy vẫn giữ nó / Hòn đá làm ra lửa.”
 
Trần Dạ Từ đến với thi ca như một người tình si, những con chữ da diết và lời tình vương vấn suốt sự nghiệp văn chương, cho đến khi bị quật ngã, tình nhập vào thơ và vẫn vươn lên như ngọn lửa, như hòn đá làm ra lửa!
 
– Nguyễn Vy Khanh
[Văn-học Việt-Nam 50 Năm Hải ngoại. Q. Hạ, 2025, tr. 477-484]
 

Trước tiên là chuyện cá độ văn học. Bởi vì người dám đưa tiền ra cá độ, hẳn là có lý do họ tin rất mực. Nếu nhìn vào các thị trường dự đoán và nhà cái về giải văn học trong những ngày trước mùa Nobel 2026, chưa có ứng viên nào vượt trội tuyệt đối. Nobel Văn học vẫn là giải khó đoán nhất vì Viện Hàn lâm Thụy Điển thường gây bất ngờ. Tuy nhiên, một số tên tuổi được nhắc đến nhiều nhất hiện nay.
Cầm bút để viết lên những ước mơ sẽ không còn tiếng súng trên đời này. Đó là những gì đẹp nhất một nhà văn có thể nói lên. Ngưng chiến tranh. Chúng ta tránh nói chữ “phản chiến,” một chữ quá quen thuộc có khi được dùng cho những nghĩa đen tối. Chúng ta muốn nói tới ước mơ không còn tiếng súng. Nơi đó, không ai còn phải giết nhau. Bao giờ thì biên giới sắc tộc, quốc gia và kỳ thị tôn giáo ngưng thúc đẩy nhân loại giết nhau? Bao giờ các chàng trai sẽ không còn phải chết cho tham vọng của các lãnh tụ? Bao giờ thế giới sẽ không còn các quả phụ trẻ, và bao giờ các em vị thành niên sẽ không còn phải học cách giết nhau? Trong dòng chảy văn học thế giới, những tác phẩm có giá trị bền vững nhất luôn luôn phải là văn học kêu gọi ngưng tiếng súng. Đó là những tiếng nói đứng về phía con người, không phục vụ bạo lực hay quyền lực.
Không phải tác phẩm ở một bên và cuộc đời ở một bên, rồi ta cố tìm vài chiếc cầu cho chúng gặp nhau. Có thể đơn giản hơn: người viết đem vào câu chữ chính cái con người đã sống, đã chịu đựng, đã nhìn, đã sai, đã mất, đã tìm đường trở lại với mình. Văn chương nếu có sức nặng lâu dài, đôi khi không phải vì nhà văn đứng cao hơn cuộc đời, mà vì họ đã đi đủ sâu vào nó mà vẫn còn mang được một cái gì đó trở ra.
Phát biểu của Trịnh Y Thư nhân buổi lễ Tưởng niệm 50 năm ngày qua đời của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, ngày 20 tháng 9 năm 2026 tại Quận Cam, California.
Trên thế gian này, không người nào không muốn có được cuộc sống hạnh phúc. Điều này cho thấy một sự thật khó chối cãi rằng là ai cũng đã từng trải nghiệm sự đau khổ trong đời mình! Hay nói cách khác, khổ đau là sự thật phổ quát ở trên đời. Chính vì vậy, tất cả mọi người đều mưu cầu hạnh phúc. Các nhà lập quốc Hoa Kỳ đã nhìn thấu rõ được sự thật ấy cho nên đã viết trong Tuyên Ngôn Độc Lập của nước Mỹ (The United States Declaration of Independence) rằng: “Chúng tôi giữ gìn những sự thật hiển nhiên này, rằng tất cả con người đều được tạo ra bình đẳng, rằng họ được Tạo Hóa ban cho một số quyền bất khả chuyển nhượng, rằng trong số những quyền này là quyền Sống, Tự Do và mưu cầu Hạnh Phúc.”
Đàn ông đòi hỏi gì ở phụ nữ? Những nét đặc trưng của Ham Muốn được Thỏa Mãn.Phụ nữ đòi hỏi gì ở đàn ông? Những nét đặc trưng của Ham Muốn được Thỏa Mãn. William Blake không đặt câu hỏi rộng, ông giới hạn lại trong cụm từ “đặc trưng,” Trong câu thơ của Blake, "the lineaments of Gratified Desire" được dịch là "những nét đặc trưng của ham muốn được thỏa mãn". Từ "lineaments" trong tiếng Anh vốn nghĩa gốc là những đường nét trên khuôn mặt, những đặc điểm hình thể có thể nhìn thấy được, giống như khi ta nói "gương mặt có những đường nét thanh tú". Blake không nói ham muốn được thỏa mãn một cách trừu tượng, mà nói đến những dấu vết cụ thể, có thể nhìn thấy được trên gương mặt hay dáng vẻ của một người, khi ham muốn của họ đã được đáp ứng. Và từ neo là “đòi hỏi.” Đòi hỏi là nhu cầu, không phải ước mơ, không phải là cầu xin. Điều này cho rõ là đàn ông và phụ nữ cần nhau vì có nhu cầu đòi hỏi Blake đặt câu hỏi rồi tự trả lời. Hai câu trả lời giống hệt nhau, không phân biệt nam hay nữ. Bài thơ
Buổi sáng ngày cuối cùng của tháng 8, một thanh niên 20 tuổi tên Pierre Damas Bel đậu chiếc Toyota bên xa lộ Interstate 70, ngoại ô Springfield, Ohio. Cậu bước ra khỏi xe, điềm nhiên bước thẳng vào làn xe đang lao tới. Vài phút sau, câu chuyện của cậu xuất hiện trên khắp báo đài nước Mỹ, đất nước cậu đặt chân đến năm 2024, sum họp với cha mẹ của mình – những di dân chạy trốn nạn bạo lực băng đảng ở Haiti. Pierre vừa tốt nghiệp trung học được vài tuần. Cậu từng là cầu thủ đội bóng đá của trường, từng được vinh danh trong chương trình JROTC, và mùa Thu này lẽ ra đã bước chân vào đại học Wright State, ấp ủ giấc mơ trở thành bác sĩ. Đầu mùa Hè này, sau khi Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ (TCPV) mở đường cho chính quyền Donald Trump chấm dứt quy chế Bảo Vệ Tạm Thời (TPS) dành cho người Haiti, cơ quan di trú gắn lên chân cậu một chiếc vòng theo dõi GPS. Cậu nói với người thân rằng nó khiến cậu cảm thấy mình như một con vật.
Buổi tối hôm đó, gió thổi nhẹ qua những hàng quán nhỏ, và trong một góc phố không mấy nổi bật, tôi thấy Jean-François Lyotard ngồi một mình trước một quán mì gói bình dân. Không phải quán fancy kiểu “mì ramen concept Japan fusion” gì cả. Chỉ là một quán lề đường với cái mái tôn lủng vài lỗ, mấy cái ghế nhựa xanh đỏ, và mùi hành phi thơm theo cách… giới hạn ngân sách.
Chiều Chủ Nhật, 23 tháng Tám, độc giả Việt Báo lâu nay quen gặp nhà văn Ngu Yên qua những bài bình luận trên trang nhất đã có dịp gặp ông “bằng xương bằng thịt” — để chuyện trò, nghe thơ, nghe nhạc, và quan trọng hơn hết, để “rước” sách ông về nhà. Từ Houston sang Nam California, Ngu Yên có một buổi ra mắt sách đông vui ngoài dự liệu. Bước lên sân khấu, nhìn hơn một trăm khách từ nhiều nơi về ngồi kín Coffee Factory, ông cảm động theo kiểu rất ‘Ngu Yên’: “Có lẽ quý vị yêu sách. Có lẽ quý vị yêu tôi, hay yêu Việt Báo. Cũng có lẽ quý vị hơi… không bình thường, khi bỏ một buổi chiều Chủ Nhật đẹp như hôm nay để đến đây ngồi nghe chúng tôi nói chuyện chữ nghĩa.” Khán phòng cười ồ. Và từ phút đó, buổi ra mắt sách không còn giống một buổi ra mắt sách ‘bình thường’ nữa. Nhà báo Đinh Quang Anh Thái dí dỏm ví đây là một “lễ rước sách.”
Bài viết này là câu chuyện về một cuộc tranh đấu khác trong chiến tranh: giữ lại bằng chứng rằng một con người đã từng sống, từng yêu, từng nhớ, trước khi họ bị xóa khỏi thế gian.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.