Hôm nay,  

Tino Cao: Người không khoan nhượng với Lịch sử truyền thống

02/03/202617:30:00(Xem: 1327)

Screenshot 2026-03-02 170727 

1.
 
Giải Văn Việt lần thứ Mười Một, năm 2025, thể loại Nghiên cứu Phê bình đã được công bố hôm 3/3/2026: Nhà phê bình Tino Cao.
 
Trong tư cách là một trong năm thành viên Ban Xét giải, tôi xin có đôi điểu nhận xét đơn sơ về nhà phê bình Tino Cao.
 
Một nhà phê bình văn học không chỉ đơn thuần là người “yêu sách vở” hay có vốn từ vựng phong phú, biết khéo léo sử dụng những thuật ngữ văn học lạ tai để tô điểm cho bài nghiên cứu phê bình của mình mang vẻ hàn lâm trí tuệ, mà là người biết kết hợp chặt chẽ giữa trí tuệ với một loại cảm thông giàu trí tưởng tượng. Họ có thể phân tích một văn bản một cách chính xác đồng thời cảm nhận được những cộng hưởng về mặt cảm xúc, lịch sử và văn hóa của nó.
 
Tôi rất tâm đắc với quan niệm “đọc” của nhà phê bình văn học Bùi Vĩnh Phúc. Theo anh, một tác phẩm văn học là một thế giới “mở”, nó cho phép người đọc đi vào bằng những cánh cửa khác nhau, một thế giới chấp định, bởi nó có thể chứa đựng trong đó muôn trùng lớp nghĩa; ý nghĩa của nó không bao giờ là một ý nghĩa chung cuộc, dứt khoát, nó có thể thay đổi tùy theo cái nhìn, góc nhìn của người đọc, tùy theo thái độ quan sát, trải nghiệm sống, tri thức, tâm lý của người đọc ấy.
 
Tino Cao là một người đọc, một nhà phê bình như vậy. Anh mở một cánh cửa đi vào cõi văn chương mà không chấp nhận, hoàn toàn không khoan nhượng, một chủ thuyết hay chủ nghĩa nào. Cái đọc của anh là một khả thể cá thể, nó chấp nhận những khả thể khác, không nhất thiết phải giống anh, bằng một cánh cửa khác, cùng đi vào ngôi nhà văn chương. Cái anh tìm kiếm không phải chân lý, mà là một trong nhiểu khả lý khác nhau.
 
Anh đọc kỹ, chăm chú, nhận thấy những mô-típ, chủ đề, sự thay đổi giọng điệu và những lựa chọn cấu trúc mà người đọc thông thường bỏ sót. Anh giải thích cách một văn bản tạo ra hiệu ứng của nó như thế nào, không chỉ là những gì xảy ra, mà những gì không xảy ra. Đó chính là những câu chữ không được viết xuống, những dấu lặng trong tấu khúc giao hưởng, những ý nghĩa giữa những hàng chữ, mà nếu ta không nhận thức được thì tác phẩm văn học đối với ta trở thành xơ cứng, nhạt nhẽo, thậm chí vô nghĩa.
 
Phê bình truyện ngắn Lòng trần của nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ, Tino Cao viết: “Nguyễn Thị Thụy Vũ triển khai toàn bộ cấu trúc truyện như một phép thử về giới hạn của đạo đức và về sự bất khả của việc tách linh hồn ra khỏi thân thể. Tác phẩm không đặt câu hỏi ‘Con người có thể thoát tục hay không’ mà truy xét một vấn đề sâu hơn: bản thể của con người được cấu thành bởi điều gì, tinh thần hay thân xác, hay chính là sự căng kéo giữa hai miền ấy.”
 
Chính những suy ngẫm như thế đã làm nên nhà phê bình. Tino Cao không chỉ lặp lại những ý kiến ​​thời thượng hay những quan điểm chính thống trong giới học thuật, anh tự sắm cho mình một thứ triết lý, không hẳn phải nằm trong một triết hệ tiên nghiệm, mà rất đời thường.
 
Cũng trong bài viết về Nguyễn Thị Thụy Vũ, anh viết: “Cái tên Lòng trần vì thế không phải là một tiếng thốt cảm thán mà là một cách định nghĩa. Con người, dù ở đâu, dù khoác áo gì, vẫn mang trong mình một lòng trần không thể xóa. Và chính lòng trần ấy là nơi bắt đầu của mọi nhận thức, mọi đạo lý, mọi ý tưởng sáng tạo cho nghệ thuật được xuất hiện và đồng hành với con người trong cõi nhân sinh.”
 
Tôi nghĩ đây chính là điểm mạnh của Tino Cao trong lĩnh vực phê bình. Anh không dựa nhiều vào các triết luận Tây phương (nhiều khi rất xa lạ với người đọc Việt Nam), mà là những nhận thức đời thường, vốn từng ăn sâu vào tâm thức người đọc, nhờ đó, dễ tiếp cận và tiếp nhận hơn.
 
Trong thiên tiểu luận về truyện ngắn Tặng phẩm của dòng sông của nhà văn quá cố Nhật Tiến, anh viết: “… vì thế không chỉ là truyện ngắn hiện thực về chiến tranh. Nó là một văn bản suy tưởng về sự phân rã của đạo đức và của ký ức, về nhân dạng con người khi bị hoàn cảnh ép đến khô kiệt. […] Tặng phẩm của dòng sông không chỉ là một lát cắt hiện thực mà còn khắc vào ký ức người đọc hình ảnh một vùng tối của lịch sử, nơi nhân tính phải cầm cự trước một hiện thực phi lý đến nghẹt thở.”
 
Nhận thức về lịch sử và văn hóa, nhà phê bình hiểu thế giới mà một văn bản xuất phát từ đó: chính trị, ngôn ngữ, những căng thẳng xã hội, thực tại phi lý. Đặt một tác phẩm trong bối cảnh lịch sử văn học để cho thấy nó phản ánh hoặc thách thức các truyền thống trước đó như thế nào. Lịch sử, trong mắt Tino Cao, không hẳn chỉ là nghịch cảnh tàn bạo, mà còn va chạm đến bản thể con người bị phân rã toàn diện khi đứng trước vực thẳm. Bi kịch của Lịch sử không hẳn chỉ ở cảnh máu lửa khổ đau mà ở chỗ nhân tính bị triệt tiêu.
 
2.
 
Nói Tino Cao không xem triết học là yếu tố quan trọng trong phê bình văn học là không hoàn toàn đúng đắn. Sự thật là anh đã đem tư tưởng Triết học Hiện sinh của Jean-Paul Sartre và Albert Camus làm nền tảng cho luận điểm của mình về dục tính trong các tác phẩm tiểu thuyết của nhà văn Nhật Bản Haruki Murakami. Trong mắt nhìn của anh, khoảnh khắc hai thân thể nhập vào nhau trong tiểu thuyết Murakami là khoảnh khắc vong thân, khi “con người đối diện rõ ràng nhất với sự cô đơn tuyệt đối của bản ngã, mà tự nó, đã là cốt lõi sâu thẳm của tồn tại.” Nó mang sắc thái của “địa ngục là tha nhân” trong Triết học Hiện sinh của Jean-Paul Sartre, hay, xa lạ và khó liên tưởng hơn, là cái phi lý của hiện tồn trong Triết học Hiện sinh Phi lý của Albert Camus. Sự cô đơn của con người đến từ lòng khát khao muốn nhận thức một ý nghĩa bên trong một vũ trụ hoàn toàn dửng dưng, im lặng. Con người là một “kẻ lạ” sống trong một thế giới phi lý, vô ý nghĩa, nhưng theo Camus, thì phản ứng thích hợp để đối đầu với sự phi lý là hãy sống cho có mục đích và mãnh liệt, hầu tạo ra ý nghĩa của riêng ta trong một vũ trụ không có ý nghĩa nào.
 
Triết học và Phê bình Văn học luôn gắn bó mật thiết với nhau, cả hai đều là những ngành học cùng chia sẻ mối quan tâm sâu sắc đến ý nghĩa, sự diễn giải và bản chất của trải nghiệm con người. Triết học cung cấp cơ sở luận giải cho những câu hỏi mà Phê bình đặt ra, bởi Phê bình không bao giờ chỉ là câu hỏi “Cuốn sách này có hay không?” mà là “Văn bản này tiết lộ điều gì.” Hầu như tất cả những phạm trù Triết học như Chân lý, Bản sắc, Đạo đức, Tự do, Quyền lực, Cái Đẹp, vv., đều ít nhiều giao thoa với văn học. Một nhà phê bình khi đặt câu hỏi “Cuốn tiểu thuyết này nói gì về thân phận con người?” thì mặc nhiên người đó đã đang mặc áo triết gia rồi.
 
Tino Cao là một nhà phê bình như thế.
 
Tuy vậy, mặc dù có nêu tư tưởng Hiện sinh làm cơ sở lý luận cho văn chương của Murakami, của Nguyễn Tuân trong tác phẩm Chùa đàn, vv., nhưng Tino Cao có vẻ “mặn mà” hơn với Triết học Đông phương được thể hiện trong hệ tư tưởng Phật giáo Đại thừa. Có lẽ bởi thế anh đã dành khá nhiều câu chữ viết về hai vị cao tăng danh tiếng trong lịch sử Phật giáo Việt Nam thời hiện đại: Thích Tuệ Sỹ và Thích Trí Quang. Anh đặc biệt kính ngưỡng Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ. Trong bài viết nhan đề Nhớ Thầy trong Piano Sonata 14, anh viết: “Trước mặt tôi không phải một nhân vật được bao phủ bởi nhiều huyền thoại mà là một người gầy gò, tĩnh lặng và an nhiên đến lạ. Ánh mắt Thầy sáng trong và chất chứa sự sâu lắng của một người đã đi qua nhiều biến cố mà không để chúng xô lệch phần cốt lõi bên trong.” Và, ở một đoạn khác, “… Ở đó có cái gì gần với huyền ảo, nhưng không phải huyền bí tôn giáo. Nó gần với cảm thức rằng có những người đã đi qua đến tận bên lề của cái-gọi-là thực tại, nhìn rõ bộ mặt bấp bênh của nó, rồi quay về với một cái nhìn trong sáng hơn.
 
Nói cho cùng, “bên lề của cái-gọi-là thực tại” của Tuệ  Sỹ phải chăng chính là “vũ trụ dửng dưng, im lặng” của Camus, và hành động “quay về với một cái nhìn trong sáng hơn” của Đông phương thì đồng nghĩa với hành trạng “phản ứng thích hợp để đối đầu với sự phi lý là hãy sống cho có mục đích và mãnh liệt, hầu tạo ra ý nghĩa của riêng ta trong một vũ trụ không có ý nghĩa nào” của Tây phương?
 
Tino Cao dấn thêm một bước nữa đi sâu hơn vào biện biệt đạo-đời trong bài tiểu luận Huyền thoại Duy-ma-cật: Triết học của trí tuệ bất nhị và đời sống nhập thế.
 
Huyền thoại Duy-ma-cật là một chuyên luận của Tuệ Sỹ, mà theo Tino Cao, tác phẩm không chỉ là một thiên khảo cứu về kinh điển Đại thừa mà còn là một cuộc đối thoại mở giữa triết học, văn chương và tâm linh. Anh lý luận, “vì đạo không nằm ngoài cuộc sống mà chính là cách con người hiện diện trong từng hoàn cảnh với sự tỉnh thức và trí tuệ” nên “người giác ngộ không cần trốn khỏi thế giới mà cần thấy rõ bản chất của nó bằng con mắt không phân biệt. Tự do, theo tinh thần ấy, không đến từ sự cắt đứt với đời mà từ khả năng sống giữa đời mà không bị đời chi phối.”
 
Kỳ thực, ý niệm này không mới, nó chính là tư tưởng chủ đạo trong khái niệm “Cư trần lạc đạo”, vốn là một trong những ý niệm đẹp đẽ và độc sáng nhất trong tư tưởng Phật giáo Việt Nam, thể hiện triết lý tâm linh của Tôn giả Trần Nhân Tông một cách rõ ràng đáng kinh ngạc. Thoạt nhìn có vẻ đơn giản, nhưng hàm ý của nó lại vô cùng sâu sắc.
 
Cư trần lạc đạo” xuất phát từ bài Cư trần lạc đạo phú của vua Trần Nhân Tông, và ta có thể hiểu theo nghĩa đen là: “Sống trong thế gian, nhưng hãy vui hưởng trong Đạo.” Nó thể hiện một nhận thức cốt lõi của truyền thống Thiền học Trúc Lâm: Bạn không cần phải trốn tránh thế gian để đạt được giác ngộ. Bạn có thể sống trọn vẹn trong xã hội – làm việc, cai quản, nuôi dạy gia đình, yêu đương, đối mặt với xung đột – mà vẫn có thể tu tập hoàn thiện để giác ngộ. Đây là khác biệt lớn lao so với định kiến ​​về sự từ bỏ thế tục trong Phật giáo.
 
Triết lý đằng sau khái niệm của Trần Nhân Tông dựa trên ý tưởng: Giác ngộ không ở nơi khác. Ngài bác bỏ ý tưởng cho rằng giải thoát tâm linh đòi hỏi phải rời bỏ xã hội, phải từ bỏ trách nhiệm, phải lui về non cao rừng thẳm hay vào chùa sinh sống, vv. Thay vào đó, cái “thế giới bụi bặm” (trần) này tự nó là lĩnh vực, môi trường tu tập, tự nó là nơi chốn cho ta hành đạo. Điều này phù hợp với sự nhấn mạnh của Thiền tông về tính bất nhị: Không có sự phân biệt nghiêm ngặt giữa thiêng liêng và trần tục.
 
Đó cũng là ý nghĩa mà Tino Cao rút tỉa từ cuốn sách của Tuệ Sỹ khi anh viết, “… Kinh nghiệm bất nhị mà Duy-ma-cật nêu ra không khiến con người rút lui khỏi thế giới mà giúp họ hiện diện trong thế giới với sự tỉnh táo. Đó là khả năng tham dự mà không bị cuốn trôi, biết phân biệt đúng sai nhưng không dựng lên bức tường hận thù, biết dấn thân mà không để mình bị đốt cháy trong cơn giận dữ hay ảo tưởng cứu rỗi.”
 
Lý thuyết là vậy, nhưng thực hành là chuyện khác. Đem ánh sáng trí tuệ của Phật học vào đời sống hằng ngày – sống giữa đời trần tục mà không đánh mất cái tâm, hành đạo giữa đời hầu tìm kiếm con đường giác ngộ – không phải là chuyện ai cũng làm được một cách dễ dàng.
 
3.
 
Tino Cao không dừng ngòi bút của mình tại đường biên thông thường của văn chương chữ nghĩa, anh là người quan tâm đến xã hội với tất cả  những xô lệch của Lịch sử, những điều tàn bạo phi lý của chiến tranh. Với tấm lòng nhân hậu và cái nhìn nhân bản, anh đã kết nối văn chương của nhà văn Han Kang (giải Nobel Văn học, 2024) với cuộc thảm sát người dân Palestine tại Dải Gaza trong thời điểm hiện tại. Anh viết, “… Đọc Han Kang lúc này không còn là một thao tác đánh giá Nobel đã lựa chọn “đúng” hay “sai” mà là một nỗ lực đặt lại câu hỏi căn bản hơn về khả năng và giới hạn của văn chương khi đối diện với thảm sát. Văn chương làm chứng vận hành ra sao khi bạo lực không phải là sự kiện đã khép lại mà là một tiến trình được tổ chức, hợp thức hóa và tái diễn dưới những hình thức khác nhau của quyền lực đế quốc và các thiết chế phụ thuộc vào nó.”
 
Đối với Tino Cao, văn chương không thuần túy chỉ là một nghệ thuật làm đẹp nhằm thỏa mãn các nhu cầu trí thức, mà phải “gắn chặt với hiện tại khi mà bạo lực chiến tranh vẫn tiếp diễn và không ngừng tìm kiếm sự hợp thức hóa.”
 
Tôi chẳng thể nào không đồng ý với anh, bởi văn học luôn là một trong những phương thức mạnh mẽ nhất của nhân loại để chống lại nỗi kinh hoàng của chiến tranh, không phải bằng cách lên án sự tàn bạo của nó (sự tàn bạo, chính nó đáng bị phỉ nhổ rồi), mà bằng cách làm cho nó trở nên hữu hình, dễ liên tưởng suy ngẫm và biến thành lời kêu gọi cấp bách về mặt đạo đức. Khi nhìn vào các nền văn hóa và các thế kỷ khác nhau, bạn sẽ thấy cùng một mô hình: văn học trở thành một lực lượng đối trọng với bạo lực, bởi vì nó có thể làm được những điều mà các bài phát biểu chính trị, số liệu thống kê và báo cáo chiến trường không thể làm được.
 
Văn học khôi phục lại bộ mặt con người mà chiến tranh đã xóa bỏ.
Chiến tranh biến con người thành những con số, mục tiêu, hoặc đưa ra những khái niệm trừu tượng như “kẻ thù”, “chiến thắng” hoặc “sự hy sinh”, “đấu tranh”, vv., trong lúc văn học đảo ngược quá trình đó. Một cuốn tiểu thuyết, một bài thơ, một cuốn hồi ký mang lại tên tuổi, ký ức, đời sống nội tâm, sự mâu thuẫn, nỗi sợ hãi và hy vọng của con người trở lại với thực tại. Đây là lý do vì sao những tác phẩm như Tất cả yên tĩnh tại mặt trận miền Tây của Erich Maria Remarque; Lò sát sinh số Năm của Kurt Vonnegut; Những thứ họ mang theo của Tim O’Brien; Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, hay cuốn hồi ký tù Đêm giữa ban ngày của Vũ Thư Hiên, cùng rất nhiều tác phẩm chiến tranh khác, mang tính phản kháng mạnh mẽ. Những tác phẩm văn học này khẳng định rằng mỗi con người, mỗi nạn nhân, là một ý thức nội tại có ý nghĩa, chứ không phải một biểu tượng, một con số vô cảm trong Lịch sử.
 
Cùng một biểu cảm như vậy, và với giọng điệu đầy thách thức, Tino Cao viết, “… Giá trị của văn chương nằm ở việc phá vỡ trạng thái chấp nhận đã trở nên quen thuộc đối với thế giới đang tồn tại.”
 
Tino Cao cũng quan tâm đến khí hậu và môi trường của các sinh hoạt tri thức trong quốc gia Việt Nam. Trong bài viết, nửa tường thuật nửa phê bình, Việt Nam học và câu hỏi về cơ chế tri thức, anh đưa ra nhận xét về một mâu thuẫn mà người trong giới xưa nay đều thấy rõ: “… Tri thức được khuyến khích nhưng vẫn phải được kiểm soát; học thuật được tôn vinh nhưng không được phép vượt khỏi khung giới hạn của hệ tư tưởng.”
 
Điều này là hiển nhiên, bởi đè nặng lên đất nước Việt Nam cho đến ngày nay, hơn năm mươi năm sau khi chiến tranh chấm dứt, vẫn là một cơ cấu thể chế độc tài đảng trị, toàn trị, công an trị. Mọi phản biện đều bị quy chụp là phản động, và có thể bị tù đày, thậm chí chết chóc. Bởi thế, theo anh, “… tri thức ở Việt Nam chưa bao giờ được xem như một lực lượng độc lập. Nó được gắn vào những mục tiêu chính trị, phát triển hoặc tuyên truyền, và vì thế, vai trò của học giả bị thu hẹp vào việc hợp thức hóa những định hướng đã được xác lập.” […] Khoảng cách giữa nghiên cứu và hành động, đó là vấn đề cốt lõi nhất của học thuật Việt Nam hiện nay. Các viện nghiên cứu không được vận hành như trung tâm tri thức độc lập mà như cánh tay nối dài của bộ máy hành chính. Nhà nghiên cứu không phải là người đặt câu hỏi mà là người viết báo cáo. Họ bị cuốn vào vòng xoáy của “nghiệm thu, đánh giá, tổng kết”, thay vì được khuyến khích phản biện, thảo luận, hoặc đặt vấn đề mới.
 
Những nhận xét và yêu cầu của Tino Cao trong bài viết nêu trên là chính xác và đúng đắn, không ai có thể phản bác lại được, nhưng thử hỏi, với một cơ chế lãnh đạo đất nước xem văn học, nói riêng, học thuật, nói chung, là công cụ tuyên truyền cho chính trị, thì biết đến bao giờ và làm thế nào tri thức Việt Nam mới có tự do trong tư tưởng, độc lập trong việc làm?
 
4.
 
Phải nói thêm về một ưu điểm khác nữa của Tino Cao, đó là, văn phong của anh mạch lạc, hấp dẫn và thường rất trau chuốt; ngoài phạm vi lý luận, Phê bình ở đây trở thành một hình thức văn học. Anh rất xứng đáng được giải Văn Việt, thể loại Nghiên cứu Phê bình năm 2025 này.
 
Ngoài ra, cũng xin thú thực với anh cùng các độc giả rằng tôi đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc xét giải, bởi giữa ba nhà phê bình được vào chung kết – Tino Cao, Nguyễn Hồng Anh và Đinh Thanh Huyền – tôi đã cảm thấy vô cùng lúng túng, không biết chọn ai, vì ai cũng có ưu điểm, vượt trội hơn bình thường. Nhưng rồi, tiếng chuông báo hiệu hết giờ của anh Hoàng Dũng réo gọi hối thúc bên tai khiến tôi phải lật đật đặt bút xuống…
 
Khó khăn. Lúng túng. Nhưng vui mừng. Vui mừng vì nhìn thấy sự trưởng thành, lớn mạnh của ngành Phê bình Văn học Việt Nam; dần dà nó thoát ra khỏi cái bóng ma ý thức hệ chính trị khiếp hãi, mà trong suốt bao nhiêu năm đè nặng lên tâm thức người viết và người đọc. Xin cảm ơn tất cả. Vì tất cả đã giúp người đọc nhìn nhận văn học như một phần của cuộc đối thoại rộng lớn hơn về ý nghĩa của việc làm người.
 

Trịnh Y Thư

(Tháng Hai, 2026)

Đây chính là một trong những khoảnh khắc giàu ý nghĩa nhất trong truyện ngắn, và Joyce đã dàn dựng với dụng ý mỉa mai tinh tế. Giọng điệu nội dung của bài thơ và khung cảnh xung quanh cố tình đối chọi nhau, và sự căng thẳng đó là chìa khóa để hiểu được cốt lõi cảm xúc của câu chuyện; một khoảnh khắc cảm xúc chân thành chỉ càng làm nổi bật việc các nhân vật đã đi xa khỏi những lý tưởng mà họ từng tuyên bố tôn vinh.
Theo Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, thì Thiền Định là một từ phức hợp theo cách tiếng Việt thường dùng hai chữ để dễ nghe. Đúng ra, Thiền Định là dịch từ chữ Phạn dhyāna/samādhi, mà cả hai chữ này cùng đồng nghĩa và có thể dùng thay thế cho nhau. Hòa Thượng viết rằng, “Mặc dù từ dhyāna trong nguyên nghĩa của nó chỉ hàm ý tư duy, Huyền Trang dịch là tĩnh lự được hiểu là tịch tĩnh và thẩm lự; đó là cách dịch diễn ý như đã thấy trong dẫn chứng trên. Theo diễn ý này, do bởi tính đặc sắc của các dhyāna là vận hành quân bình của trạng thái tập trung (śamatha: xa-ma-tha, chỉ) và quán sát (vipaśyanā: tì-bát-xa-na, quán), mặc dù trong bậc định (samādhi) vẫn có mặt chỉ và quán, nhưng ở đó chỉ được thiên trọng hơn quán.” Theo đó, Thiền có 2 đặc tính: chỉ và quán. Chỉ là định, tức đình chỉ tạp niệm để tâm tập trung vào một đối tượng. Quán là tuệ giác, tức quán sát đối tượng. Nhưng khi quán thì cần phải chú tâm vào đối tượng, tức là chỉ. Vì vậy, chỉ và quán luôn đi với nhau
Các sinh viên Đại Học UCI (Quận Cam, California) trong chương trình thạc sĩ sáng tác văn học MFA Programs in Writing hôm Thứ Tư ngày 4 tháng 2/2026 đã được tham dự buổi đọc thơ và văn từ ba tác giả -- hai nhà thơ gốc tỵ nạn từ Palestine là Noor Hindi và George Abraham; và tiểu thuyết gia Hoa Kỳ Matt Sumell. Nhà thơ nữ Noor Hindi là ai, và thơ của chị nói gì?
Ban giám khảo mô tả cuốn sách là một tác phẩm của “nỗi buồn chói sáng”, với văn phong trầm mặc, tiết điệu như thì thầm và không khí nặng tính ám ảnh. Theo bài tường thuật của The New York Times, đây mới là lần thứ ba trong lịch sử 51 năm của giải NBCC mà một tiểu thuyết dịch được trao giải cao nhất ở hạng mục tiểu thuyết. Lần gần nhất điều này xảy ra là năm 2008, khi 2666 của Roberto Bolaño, do Natasha Wimmer dịch từ tiếng Tây Ban Nha, thắng giải; trước đó, năm 2001, Austerlitz của W.G. Sebald, do Anthea Bell chuyển ngữ từ tiếng Đức, cũng được vinh danh. Việc Han Kang được chọn cho thấy sự hiện diện ngày càng đáng kể của văn chương dịch thuật trong đời sống phê bình văn học Hoa Kỳ.
Ban biên tập Việt Báo chọn mở đầu mục “Ngọn Đèn Còn Thắp” với Albert Camus. Camus không giải thích thế giới. Ông sống với nó. Giữa phi lý, ông tìm ra ba điều: nổi loạn, tự do, đam mê. Thời đại chúng ta, sự phi lý không còn là triết học. Nó là tin tức mỗi ngày. Đọc lại Camus là học cách thắp lại ngọn đèn.
Tình hình chiến tranh bây giờ khó làm chúng ta hình dung về một Iran cổ đại nơi được nghe kể về những cổ tích thơ mộng, nơi các nhân vật mang tâm hồn Bồ Tát bước ra từ sương khói của truyện Ngàn Lẻ Một Đêm. Chúng ta cũng sẽ kinh ngạc khi nhớ rằng lịch sử đã từng có các nhà thơ sáng tác trong ngôn ngữ Ba Tư cổ đại (Persian: Farsi), tiền thân của tiếng Iran hiện nay, hay và thâm sâu tới mức không dễ có bao nhiêu thi sĩ hiện nay bước tới mép bờ giấy mực của họ. Và bạn sẽ thấy truyện võ hiệp Kim Dung cũng đã từng lấy một mảng Minh Giáo của Iran cổ đại rất mực từ bi và khắt khe – nơi tu sĩ phải sống độc thân, khổ hạnh, bất bạo động, ăn chay, không rượu thịt -- để chế biến thành cảm hứng văn học, nơi các truyền nhân đều lãng mạn và võ học phi thường như Trương Vô Kỵ, Dương Tiêu...
Trong đời sống này, có lắm nẻo để trở thành một người “khó chịu”. Người ta có thể đòi hỏi quá nhiều, có thể bất tiện, ương ngạnh, rắc rối, lắm điều, khó hiểu, như một bản văn không sao đọc được. Ở giao điểm của mọi kiểu “khó” ấy, có một thân phận: người đàn bà da đen. Tôi có cảm giác mình biết điều đó từ rất sớm; chữ “khó chịu” đã gắn với tôi nhiều lần hơn là tôi có thể đếm. Nhưng phải đến khi gặp Toni Morrison – gặp tác phẩm và giọng nói của bà – tôi mới bắt đầu nhận ra, mới lần dò được ý nghĩa, cũng như công dụng, của cái “khó” trong chính mình.
Tình yêu đúng có lẽ là thứ không ai định nghĩa được trọn vẹn, bởi mỗi trái tim đập theo nhịp riêng, mỗi linh hồn khao khát theo cách riêng. Nhưng có điều gì đó huyền bí trong khoảnh khắc hai người gặp nhau, khi ánh mắt chạm ánh mắt, khi giọng nói làm rung động một sợi dây nào đó sâu trong lồng ngực. Người ta gọi đó là pháp thuật ái tình, nhưng khoa học lại nói đó chỉ là dopamine, oxytocin, serotonin đang chơi trò ma thuật với não bộ. Cả hai đều đúng và cả hai đều thiếu sót. Phản ứng hóa học thực sự xảy ra, những chất dẫn truyền thần kinh bùng nổ như pháo hoa trong đầu, khiến ta mất ngủ, mất ăn, mất cả lý trí. Nhưng gọi tình yêu chỉ là hóa học thì giống như gọi bản giao hưởng Beethoven chỉ là sóng âm. Có gì đó nhiều hơn thế, có cả lịch sử cá nhân, nỗi cô đơn tích tụ, khát vọng được thấu hiểu, ước mơ về sự kết nối hoàn hảo. Tình yêu si mê chính là lúc tất cả những thứ này giao hòa, khi ta tin rằng đã tìm thấy mảnh ghép còn thiếu của linh hồn mình.
Ông James Duffy cư ngụ ở Chapelizod vì ông muốn sống càng xa càng tốt thành phố nơi ông là một công dân, và trong mắt ông, tất cả các vùng ngoại ô khác của Dublin đều chẳng dễ chịu, yên ả tí nào, trông nó mới mẻ một cách lố bịch, lại còn để lộ bộ mặt khoa trương một cách giả tạo...
Thỉnh thoảng, chúng ta nghe lời chúc nhau rằng hãy đi như một dòng sông. Lời nghe như thơ, và như dường mang ẩn nghĩa, vì bước đi trong đời người không thể là một dòng sông. Bởi vì bước đi luôn luôn là một lựa chọn giữa những hướng đi, trong khi dòng sông, hay dòng nước luôn luôn là một hướng chảy từ trên cao xuống, lan tỏa, và không phân biệt. Vì nước tự thân là hòa hài với tất cả những gì chung quanh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.