Hôm nay,  

Thưởng Thức Trà Tầu

16/05/200300:00:00(Xem: 2896)
wk_05162003_4wk_05162003_5
-Tách trà ngon như một nụ hôn vậy: Uống rồi lại muốn uống thêm mãi.
-Không ai có thể dậy ta làm sao thưởng thức trà. Ngoại trừ thời gian.
Trà có mặt tại Trung Hoa từ thời xa xưa, thuở mà có một đạo sĩ lên núi tìm thuốc phát hiện mấy chú khỉ nhâm nhi một loại lá rừng. Nhận thấy lá cây có hương thơm nhẹ nhàng, vị đạo sĩ tò mò bỏ một ít lá cây này vào tay áo. Về đến am, người đạo sĩ bỏ lá vào ấm nước đang sủi tăm trên lò luyện thuốc. Phút chốc, trong không khí ẩm ướt vào cuối thu, một hương thơm nhẹ nhàng như ẩn như hiện mà ông chưa từng biết trước đây thoang thoảng khắp phòng. Ông bèn rót một ít vào chén để nhấm nháp thử, liền thấy tinh thần sảng khoái tỉnh táo. Đạo sĩ đã phát hiện ra một thức uống tuyệt vời TRÀ.
Vị đạo sư kia hẳn phải sống cách đây hơn 4000 năm. Theo cuốn cổ thư Trà Đạo viết vào đời Đường người Trung hoa lúc ấy đã biết thưởng thức trà hơn 4000 năm rồi. Theo cuốn sách này, thời Tây Chu trà dùng như một tặng phẩm. Cuối đời Chu vào thời Chiến Quốc trà được dùng như một vị thuốc. Khoảng 300 năm từ thời Tam Quốc đến thời Nam-Bắc Triều, các vị sư Phật giáo uống trà trước khi tham thiền, nên vào thời đó cây trà được trồng rất nhiều tại các khu thung lũng và sườn đồi chung quanh chùa. Người ta nhận rằng trà và Phật giáo gắn liền với nhau theo chiều dài lịch sử. Trong thời gian này trà cũng được biết tới tại xứ Phù tang.Vào đời Đường, trà trở thành thức uống phổ thông trong dân gian. Các thi sĩ đời Đường như Lý Bạch, Bạch Cư Dị và Đỗ Phủ làm thơ nói về thú uống trà, họa sĩ Văn Trưng Minh vẽ họa trà. Đời Tống Lu You viết cuốn Trà Thư, bàn chi tiết về cách trồng, hái, sấy, sửa soạn, pha và uống trà. Như thế trà đã trở thành một phần của văn hóa, của đời sống tinh thần rồi vậy. Mời trà không chỉ là phép lịch sự mà còn là sự "đối ẩm tọa đàm". Do đó người ta chỉ rót trà vào tách khoảng 7/10, phần còn lại của tách trà lấp đầy bằng tình cảm, bằng mối thâm giao thân hữu.
Mặc dù các loại trà khác nhau nên được uống từ các loại tách khác nhau, nhưng nói chung tách trà làm bằng loại đất sét thẫm mầu ở các vùng Giang Tây và Tô Châu được ưa thích hơn cả. Những đồ gốm không tráng men tìm thấy tại Vân Nam là những chén trà rất cổ xưa. Đời Tống chén trà có hình quả chuông, men tráng mầu nâu đậm hoặc đen. Đến đời Minh và Nguyên, men trắng được ưa thích hơn. Các phường gốm Phúc Kiến tại các vùng Quảng Đông và Quảng Châu chuyên làm bộ trà xuất hiện vào đời nhà Thanh.

Mặc dù có nhiều loại trà Tầu, nhưng tất cả đều từ cùng một loại cây trà có tên khoa học là Camellia Sinensis. Các loại trà khác nhau là do thời gian ủ lá trà khác nhau (trước khi sấy), đại loại chúng ta có vài loại trà tầu chính là trà xanh, trà đen (hồng trà mặc dù có tên như vậy nhưng thực ra là trà đen), trà ô long, bạch trà và trà thơm. Trong khi trà xanh giữ nguyên mầu sắc của lá tươi, không ủ hay ủ rất ngắn hạn, và trà đen được ủ toàn phần, thì trà ô long ủ trong môt thời gian ấn định. Trà xanh có loại Long tĩnh vùng Tây Hồ. hồng trà An Huy và Hồ Nam rất có tiếng. Trà ô long có loại Thiết Quan Âm tại Phúc Kiến, Quảng đông và Đài Loan rất được ưa thích. Bạch trà là búp trà non (trắng như bạc) được hấp trước khi sấy. Bạch trà có vị ngọt tự nhiên và không có mùi "cỏ" như trà xanh. Bạch trà khá hiếm, nhưng Bạch Mẫu Đơn cũng được biết đến nhiều. Trà thơm là trà được ướp với đài hoa của hồng, nhài, lan hay mận. Trà thơm rất phổ thông tại miền bắc Trung hoa. Ngoài các loại hoa trên Việt Nam chúng ta còn ướp với hoa sói, sen và hoa ngâu. Đến đây chúng ta nhớ đến chuyện nàng cung phi Đăëng thị Huệ đã khéo léo ướp các lá trà trong búp sen khi trời còn tinh mơ, để trà đượm hương tinh khiết của hương sen. Chén trà sen của người cung nữ vô danh dâng chúa Tĩnh Đô Vương vào buổi sớm mai giúp chúa tỉnh thần hồn lẫn thần xác. Từ đó chúa để ý đến người cung nữ hái sen kia. Và như thế chén trà ướp sen đã làm lên sự nghiệp của Bà Chúa Chè.
Chọn trà đòi hỏi một sự hiểu biết rất sâu sắc. Bỏ qua về các loại trà, nói chung trà được đánh giá dựa vào năm nguyên tắc hình dáng lá trà, mầu nước trà, hương, vị và sắc bã trà. Người ta nói đến lá trà phẳng, nhọn đầu như cánh hoa. Nhưng quan trọng hơn là dựa vào kết quả khi thử trà. Dù là loại trà nào, nước trà phải trong và không gắt do lá trà bị cháy vì sấy quá độ. Sự đánh giá được coi là đầy đủ thì phải đánh giá luôn hậu vị trà và sắc bã trà.
Đó là nguyên tắc. Trong khi ta không thể học ngay được cách thưởng thức trà như thế nào, có trà ta cứ uống và thời gian sẽ chỉ cho ta sự khác biệt như thế nào. Mặt khác dù không có vị cung phi nào kề cận, nửa đêm về sáng ta chợt tỉnh giấc nồng, dậy khêu ngọn đèn con, pha một ấm trà. Trong cái sương đêm ngoài trời thấm lạnh, thư phòng thơm mùi hương trà, nhấp ngụm trà ngon thì ai cũng cảm thấy cái sảng khoái của bậc quân vương thuở xưa vậy.

ÍCH LỢI CỦA TRÀ
Trà trở thành thức uống của người Tầu và người Việt từ lâu đời. Rất nhiều người thích dùng một tách trà sau mỗi bữa ăn.
Mùa hè với khí hậu nóng bức, uống trà giúp giải nhiệt, khinh khoái. Lá trà chúa một số hóa chất như 20% tannic acid chống viêm nhiễm, 5% caffein giúp máu huyết lưu thông. Uống trà sau mỗi bữa ăn rất tốt trong việc tiêu hóa. Người Trung hoa nói rằng "Ba ngày có thể thiếu muối, nhưng một ngày không thể thiếu trà."
Trà cũng có nhiều vitamins giúp loại trừ nicotine ra khỏi cơ thể. Một tách trà đậm làm tỉnh táo đầu óc sau những bữa nhậu nhẹt say sưa.
Tuy vậy, không nên cho là trà càng đậm càng mang nhiều hiệu quả. Trà đậm có thể ảnh hưởng đến bón, mất ngủ. Thường xuyên uống trà quá đậm có thể gây rối loạn áp suất máu, giảm lượng sữa mẹ và vàng răng. Tuy nhiên những điểm bất lợi này có thể được điều chỉnh dễ dàng: bạn đừng pha trà đậm quá.
Trong khi trà ô long được cho là chống lão hóa, hạ áp suất máu, giảm cơ nguy bịnh tim và hỗ trợ hệ thống miễn nhiễm trong cơ thể, thì trà xanh giúp ngăn ngừa ung thư thực quản, ung thư da, giảm cholesterol. Trà xanh có nhiều vitamin B giúp thư giãn, chống lão hóa. Trà xanh còn được cho là ngăn ngừa sự phát triển một số loại vi khuẩn, giảm bớt nguy cơ lây truyền bịnh.

Gina chọn sống ở Bồ Đào Nha vì muốn tìm một nơi sống mới với các giá trị cốt lõi của bà không chỉ được chấp nhận mà còn được trân trọng. Bà muốn một nền văn hóa có sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống; không bị chủ nghĩa tiêu thụ chi phối; cảm thấy an toàn với ít bạo lực súng đạn.
It ai biết rằng, ngoài những nhà khoa học nổi tiếng, những phụ nữ ít được ghi nhận đã đóng vai trò quan trọng không kém trong việc phát triển penicillin, loại kháng sinh cứu sống hàng triệu người trên toàn thế giới. Một bài báo có tựa đề "Những Cô Gái Penicillin" Đã Làm Nên Một Trong Những Khám Phá Cứu Người Vĩ Đại Nhất Thế Giới”" trên tạp chí Smithsonian đã tóm tắt lại câu chuyện của những phụ nữ đã đóng góp quan trọng trong việc phát triển penicillin mà ít ai biết đến công sức của họ.
"Ngày xuân đi chùa, lễ Phật là một phong tục đẹp nhằm nâng cao tâm hồn con người và gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc. Lễ Phật ngày xuân còn để cảm nhận cái Chân-Thiện-Mỹ, khơi dậy tính Thiện, cảm nhận cái đẹp của cảnh xuân, cảnh chùa, hầu trở về bản tính thiện lương của con người. Đạo Phật và chùa chiền khắp thế giới nơi nào cũng có. Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia thờ Phật, xây đền, chùa thường theo một kiến trúc na ná nhau nhưng dân tộc nào cũng có pha trộn những nét đặc thù riêng". -- Nhà văn/ nhà báo Trịnh Thanh Thủy giới thiệu những ngôi chùa nổi tiếng vòng quanh thế giới. Xin mời độc giả Việt Báo đi theo bước chân phiêu lãng của chị.
Zion National Park, Lâm viên Quốc gia, tọa lạc tại vùng Nam tiểu bang Utah, là một thắng cảnh nổi tiếng thế giới. Mời bạn đọc theo bước chân của nhà văn/nhà báo Trịnh Thanh Thủy đến thăm miền đất với thiên nhiên hùng vĩ này.
Mọi thứ xuất hiện trên thế gian này đều mang theo nó bản chất tương đối, hay nói theo khái niệm triết học là một thực thể luôn luôn có hai mặt: nên và hư, tốt và xấu, lợi và hại, v.v… Cái dễ thấy nhất là đồ nhựa. Lúc đầu ai cũng thấy đồ nhựa rất tiện lợi cho việc sử dụng hàng ngày. Nhưng ngày nay, đồ nhựa sau khi được dùng rồi bỏ đi thành rác lại gây ra tai họa cho môi trường, cho các sinh vật trên trái đất trong đó có loài người.
Riêng mùa Tạ Ơn năm nay, anh H. đặc biệt muốn hướng lòng biết ơn của mình đến với một biểu tượng của đức tin. Anh H. đã đến tạ ơn Đức Mẹ Long Beach.
Họa sĩ Duy Thanh vừa từ trần vào giờ 9:30 PM, đêm Chủ Nhật 24/11/2019 tại bệnh viện General Hospital San Francisco, tại thành phố San Francisco, California. Họa sĩ Duy Thanh sinh ngày 11 tháng 8 năm 1931 tại Thái Nguyên. Ông học vẽ năm 1952
Năm 2008, trong chuyến về Việt Nam ngày mùng 4 Tết, gia đình tôi tổ chức du lịch thăm Tứ Động Tâm tại Ấn Độ.
Chiều Thứ Sáu ngày 8 tháng 11/2019, mình hành hương chùa Kim Các Tự, ngôi chùa quen thuộc với người học văn ở Sài Gòn thời xa xưa.
Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Quang, bậc cao tăng thạc đức của Phật Giáo Việt Nam thời hiện đại, một trong những nhà lãnh đạo khai sáng Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất vào đầu năm 1964, cũng là nhà phiên dịch và trước tác về Kinh, Luật, Luận và nhiều thể tài Phật Giáo, đã viên tịch tại Chùa Từ Đàm, thành phố Huế, vào lúc 9 giờ 45 phút tối ngày 8 tháng 11 năm 2019 (nhằm ngày 12 tháng 10 năm Kỷ Hợi), thọ thế 97 năm, theo Thông Báo của Hòa Thượng Thích Hải Ấn, Trú Trì Chùa Từ Đàm, Huế, cho biết vào sáng Thứ Sáu, ngày 8 tháng 11 năm 2019.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.