Hôm nay,  

Thấy Trong Bóng Tối

31/07/202600:00:00(Xem: 267)
Thấy Trong Bóng Tối
"Tin là con chim cảm thấy bình minh hót khi trời còn tối" - trích từ bài Fireflies, câu 191: Rabindranath TagoreMinh họa: Đinh Trường Chinh.
 
Con người từ thuở hồng hoang đã không chỉ sống bằng điều mình biết. Người mẹ sinh con chưa biết đứa trẻ mai này sẽ ra sao. Người gieo hạt chưa lường được kết quả vụ mùa. Kẻ xuống thuyền vượt biển không thấy được bờ bến.

Người ta vẫn cắm cúi đi. Không vì cái biết, mà vì lòng tin. Biết thuộc về ánh sáng, tin thường khởi sự nơi tối tăm.

Tin một điều có nghĩa là chấp nhận điều ấy có thật. Tin một người là trao vào tay người ấy một phần sinh mệnh của chính mình. Tin một lý tưởng là lấy đó làm lẽ sống, làm phương hướng.

Emily Dickinson trong bài “Faith is a fine invention” nhìn đức tin bằng con mắt tinh nghịch:

“Đức tin” là một phát minh hay
dành cho kẻ tưởng mình đã thấy,
nhưng khi hữu sự,
kính hiển vi, tất nhiên, vẫn hơn.”

Dickinson không phủ nhận đức tin, bà chỉ đặt nó vào đúng chỗ nó thuộc về. Niềm tin không giúp người ta nhìn thấy rõ chi tiết, cũng như kính hiển vi không phải là ngọn đèn bão giúp người ta đi hết đêm dài.

Pascal cho rằng“Trái tim có những lẽ riêng mà lý trí không biết.” Với ông: “chính trái tim cảm nhận Thượng Đế, không phải lý trí.” Đức tin không đến từ suy luận. Và lý trí có thể mở đường, nhưng không tự mình đi hết con đường ấy.

Kierkegaard trong ‘Kính Sợ Và Run Rẩy’ tô rõ hơn: “Đức tin khởi đi nơi tư tưởng dừng lại”.  Có những quyết định không thể chờ đến lúc mọi sự sáng tỏ. Bởi nếu mọi sự đã tỏ tường hay lối đi đã cắm biển thì con người cần gì đến đức tin.  Chính khi còn run rẩy là lúc đức tin giúp người ta đặt bước.

William James nêu câu hỏi trên bình diện thực tế, liệu con người có quyền tin khi chưa đủ chứng cứ hay không? Để trả lời chính mình ông cho rằng phải tin đời đáng sống tuy không phải cứ tin là thành, nhưng không thể thành nếu từ đầu đã không có niềm tin.

Lấy tình bạn hay tình yêu làm ví dụ, không ai đứng ngoài cuộc tình đòi chứng minh trọn vẹn rồi mới bước vào. Chính sự tín nhiệm ban đầu là yếu tố mở đường để thời gian rồi sẽ chứng thực.

Đôi khi, niềm tin không chỉ dẫn đến sự thật mà còn góp phần tạo nên sự thật. Một người trở nên đáng tin hơn vì đã được tin. Một đứa trẻ lớn lên vững vàng hơn vì có người tin cậy. Một cộng đồng có thể hồi sinh vì mỗi người trong đó còn tin tưởng nhau.

Theo Simone Weil, niềm tin là kinh nghiệm trong đó trí tuệ được tình yêu soi sáng. Đức tin đúng nghĩa không khiến trí tuệ nhắm mắt, mà trái lại nó đòi trí tuệ phải nghiêm cẩn hơn, tra vấn nhiều hơn để phân biệt giữa ánh sáng và ảo ảnh.

Trong tôn giáo, đức tin vượt ngoài việc chấp nhận rằng Thượng Đế hiện hữu. Người có đạo đặt đời mình dưới những điều thiêng liêng “không thấy mà tin”. Trong Kinh Thánh đức tin ghi rõ là “bảo đảm cho điều đang hy vọng, là xác tín về điều chưa thấy”.

Dostoevsky trong Anh Em Nhà Karamazov cho rằng “không phải phép lạ sinh ra đức tin, mà chính đức tin làm nảy sinh phép lạ”. Người không tin có thể gọi phép lạ là hiện tượng chưa giải thích, trong khi người đã tin thấy điều thiêng liêng ngay trong cái tầm thường. Gọi là bình minh hay cho là ân sủng tùy vào mức độ tín ngưỡng.

Riêng Stephen Hawking trong cuốn sách cuối đời cho rằng không có Thượng Đế, không có thiên đường, không có kiếp sau. Đối với ông các định luật tự nhiên đã đủ để cắt nghĩa sự vận hành của vũ trụ. Tuy nhiên ông vẫn đặt nặng lòng biết ơn đối với đời sống, trách nhiệm đối với thế hệ mai sau, một tương lai con người phải cùng nhau kiến tạo. Người ta có thể nói rằng đó không phải là đức tin, nhưng là gì khác hơn nếu không phải sự tín nhiệm đặt vào con người, vào tương lai.

Tôn giáo hay đức tin không phải một cuộc đổi chác. Không phải cứ cầu là được, không phải cứ sống ngay lành là tránh khỏi tai ương. Theo T.S. Eliot, trong East Coker, “đức tin, tình thương và hy vọng đều nằm trong sự đợi chờ”. Đợi chờ là phần thiết yếu của đức tin, vì điều được tin không phải lúc nào cũng đến.

Có những lời cầu nguyện được đáp lại bằng im lặng. Có những câu hỏi phải mang theo suốt đời. Paul Tillich cho rằng hoài nghi không đối nghịch với đức tin, mà là một phần của đức tin. Đức tin có chỗ cho hoài nghi, nhưng không dung chứa cuồng tín. Tin rằng lửa không làm bỏng tay là mê muội. Tin rằng sau đám cháy con người vẫn có thể dựng lại căn nhà là xác tín. Tin rằng một người lãnh đạo không bao giờ sai là sùng bái. Tin rằng một dân tộc có thể nhận lỗi và sửa sai là hy vọng.

Niềm tin hiếm khi nảy nở lúc đời sống yên ổn, mà đến giữa chiến tranh, chia lìa, biến động, giữa những bất tắc vô lường. Trong “Viễn du” của Phạm Duy, người lữ hành ra sông mới thấy trời rộng. Nhưng cũng chỉ khi ra khơi con người mới “thấy mộng ngày mai, thấy niềm tin mới.”

Với người Việt tị nạn, niềm tin đó không chỉ là ý niệm, mà cụ thể là chiếc ghe mong manh. Người bước xuống ghe không ra đi vì biết chắc mình sẽ sống, mà vì  họ thấy ánh sáng bên kia bờ. Niềm tin dẫu mong manh như tiếng khóc trẻ thơ cũng đủ nhắc người lớn không được phép buông xuôi, đủ để chở được cả một gia đình, có khi, cả một thế hệ.

Sau cùng, không ai có trong tay ngọn đèn đủ nhiên liệu để soi trọn con đường. Phần nhiều, ánh sáng chỉ vừa đủ soi cho bước kế tiếp giúp con người không chùn chân mà hướng tới. Để người làm báo vẫn đặt sự thật lên trang giấy giữa thời sự thật không được trọng thưởng. Để người già trồng thêm cây non dẫu biết mình không kịp ngồi dưới bóng mát. Để người mẹ mỗi ngày ngồi bên giường bệnh của con chờ phép mầu.

Như con chim nhỏ của Emily Dickinson nhìn thấy hy vọng “đậu trong tâm hồn, cất khúc ca không lời, và chẳng bao giờ ngưng.”

Con chim ấy không biết giông bão sẽ tan, thuyền sẽ đến bờ, lòng tốt sẽ được đền đáp, hay công lý cuối cùng sẽ thắng hay không.

Nó chỉ không ngưng hót.

Niềm tin, cũng vậy, giữ cho người cầu nguyện vững lòng sắt son.

Để bài ca vẫn vang lên trong đêm.

Để niềm tin — khi ấy, không phải là bình minh, mà là tiếng chim báo sáng khi trời còn tối.
 
Nguyên Yên
 
* Chú thích:
1. Emily Dickinson, “Faith is a fine invention”.
2. Blaise Pascal, Pensées (Tư tưởng): “Le cœur a ses raisons que la raison ne connaît point.”
3. Søren Kierkegaard, Fear and Trembling (Kính sợ và run rẩy), đoạn luận về “bước nhảy của đức tin”.
4. William James, The Will to Believe, luận về “quyền được tin” khi chứng cứ chưa đầy đủ.
5. Simone Weil, các trước tác thần học–triết học, ý về “trí tuệ được tình yêu soi sáng”.
6. Kinh Thánh, Thư Do Thái 11:1: “Đức tin là bảo đảm cho điều đang hy vọng, là xác tín về điều chưa thấy.”
7. Fyodor Dostoevsky, The Brothers Karamazov (Anh em nhà Karamazov), tư tưởng về đức tin và phép lạ.
8. Stephen Hawking, các tác phẩm và phát biểu về vũ trụ không cần Đấng Tạo Hóa cùng quan niệm về tương lai nhân loại.
9. T.S. Eliot, East Coker (trong Four Quartets), đoạn nói về “đức tin, tình thương và hy vọng đều nằm trong sự đợi chờ”.
10. Paul Tillich, Dynamics of Faith, câu “Hoài nghi không đối nghịch với đức tin; nó là một phần của đức tin.”
11.  Phạm Duy, ca khúc “Viễn du”, trích lời hát về “mộng ngày mai” và “niềm tin mới”.
12. Emily Dickinson, trích bài “Hope is the thing with feathers.”
13. Rabindranath Tagore: hình ảnh “Tiếng chim báo sáng khi trời còn tối” gợi từ bài Fireflies, câu 191: “Faith is the bird that feels the light and sings when the dawn is still dark”
 

Bác sĩ Elaine Batchlor, Tổng Giám Đốc MLK Community Hospital ở Los Angeles, không cần đoán chuyện gì sẽ xảy ra nếu bệnh viện của bà phải đóng cửa. Bà đã từng chứng kiến một lần. Năm 2007, King Drew, một bệnh viện phục vụ phần lớn bệnh nhân nghèo tại South Los Angeles, đóng cửa. Trong gần một thập niên sau đó, cư dân quanh vùng mất đi một nơi chữa bệnh quan trọng. Bệnh nhân dồn sang các bệnh viện lân cận; tại một nơi, tỷ lệ bệnh nhân không có bảo hiểm tăng từ khoảng 13% lên gần 45%. Phòng cấp cứu chật cứng, chi phí tăng, và người có bảo hiểm cũng phải trả nhiều hơn.
Tiếp nối Nghị quyết 36 (năm 2004) và Quyết định 1334 (năm 2023), nhà cầm quyền Việt Nam vừa tiếp tục ban hành văn bản thứ ba nhắm trực tiếp vào cộng đồng người Việt tự do tại hải ngoại, đó là Nghị quyết 23-NQ/TW. Văn bản này do chính Tô Lâm ký ban hành ngay trước chuyến công du đến Úc và Tân Tây Lan, hai quốc gia có cộng đồng người Việt sinh sống đông đảo như một "món quà” ra mắt đầy tính toán.
Thi sĩ Vũ Hoàng Chương là một tác giả quan trọng, đã để lại cho chúng ta một số lượng tác phẩm rất lớn. Thơ ông chứa nhiều ý kín đáo, lại thêm cách diễn tả hàm súc, nên nhiều bài, nhiều câu thuộc loại “không dễ hiểu.” Là một người uyên bác và chịu ảnh hưởng của Hán học từ rất sớm, ông đã dùng khá nhiều điển tích và cũng hay trích dẫn thơ văn cổ khi sáng tác. Những điển tích, thơ văn cổ ấy, nếu không được phân giải ra, sẽ khiến nhiều người đọc, nhất là người ở thế hệ trẻ, khó nắm vững chủ ý của tác giả. Cho tới nay, bên cạnh một số bài viết riêng lẻ mang tính cách ước đoán hoặc với nhận định có phần nào chủ quan của người viết, chưa có một cuốn biên khảo nghiêm túc nào về Vũ Hoàng Chương.
Trên một con đường ngoại ô Dallas, Philip, 27 tuổi, đang lái xe thì bất ngờ chỉ vào một chiếc hộp đen nhỏ gắn trên cột đèn giao thông. “Flock!” Đó là một máy camera đọc bảng số xe tự động của Flock Safety, một mạng lưới 120.000 thiết bị trải khắp 49 tiểu bang, cho phép cảnh sát xem một chiếc xe đã đi đâu và đang ở đâu chỉ trong vài giây. Công ty có hợp đồng với 7.000 sở cảnh sát, tương đương 40% lực lượng trên toàn quốc. Mỗi chiếc xe chạy ngang qua đều có thể bị chụp hình, ghi bảng số, thời gian và địa điểm. Nếu chiếc xe nằm trong danh sách truy tìm, cảnh sát có thể được báo ngay. Philip mở điện thoại, vào DeFlock, một ứng dụng do dân chúng lập ra để đánh dấu vị trí các máy đọc bảng số, đánh dấu chiếc máy vừa nhìn thấy lên bản đồ. Ứng dụng này đã thu hút hơn 350.000 người dùng. Đối với anh, đó là cách đơn giản nhất để chống lại một mạng lưới theo dõi đang mọc lên gần như khắp nước Mỹ. Flock hiện có khoảng 120,000 máy đặt bên đường tại tất cả các tiểu bang, ngoại trừ Alaska.
Sau cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, nhiều nhà quan sát cho rằng Donald Trump đã vẽ lại bản đồ chính trị Hoa Kỳ. Ông củng cố được sự ủng hộ của giới lao động da trắng, đồng thời đạt kết quả hiếm thấy trong giới cử tri trẻ, đặc biệt là nam giới trẻ và người gốc Mỹ La-tinh. Tuy nhiên, kết quả năm ấy thực ra rất sít sao. Trump giành 312 phiếu đại cử tri, nhưng số phiếu phổ thông và tỷ lệ phiếu của ông vẫn thấp hơn kết quả Joe Biden đạt được năm 2020. Điều khiến giới phân tích chú ý không phải chỉ là tổng số phiếu, mà là việc Trump thu hút được nhiều thành phần cử tri trước đây thường nghiêng về đảng Dân Chủ.
Ngày 6 tháng 7 vừa qua, hai ngày trước khi công bố bản phúc trình về việc tẩy chay văn hóa đối với Israel, tổ chức PEN America đã lặng lẽ sửa một điểm nhỏ nhưng rất quan trọng trong lập trường của mình về vấn đề tẩy chay. Gần hai mươi năm trước, PEN America đã soạn ra một chủ trương chống việc tẩy chay học thuật đối với Israel — khiến tổ chức này trở thành chi bộ PEN duy nhất trên thế giới công khai chống lại một hình thức phát biểu chính trị chính đáng. Lập trường ấy đứng vững suốt mười chín năm không đổi. Lần sửa đổi mới đây được giải thích chỉ là "làm sáng tỏ" một chính sách trước nay vốn mù mờ, khó định nghĩa.
Khi Donald Trump tấn công hệ thống bảo tàng Smithsonian, ông không chỉ nhắm vào một cơ sở văn hóa. Ông đang tìm cách kiểm soát câu chuyện nước Mỹ – và thu hẹp xem những ai được quyền bước vào câu chuyện đó.
Trong tuần làm việc cuối cùng của nhiệm kỳ xét xử 2025–2026, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ liên tiếp ban hành những phán quyết lớn, từ quyền hạn của tổng thống đối với các cơ quan “độc lập”, chuyện bầu cử, quốc tịch theo nơi sinh, tính độc lập của Cục Dự trữ Liên bang (Fed), giới hạn chi tiêu tranh cử, cho tới tranh cãi quanh vận động viên chuyển giới trong thể thao nữ. Những phán quyết ấy đã vẽ lại không ít đường ranh trong sinh hoạt chính trị Hoa Kỳ. Về quốc tịch theo nơi sinh, Tối cao Pháp viện đã chặn sắc lệnh của Tổng thống Donald Trump thu hẹp quyền “birthright citizenship”. Với đa số 5–4, trong đó Chánh án John Roberts, Thẩm phán Amy Coney Barrett cùng ba thẩm phán thuộc phe tự do đứng chung một phía, toà khẳng định Hiến pháp vẫn bảo đảm quốc tịch Hoa Kỳ cho hầu như mọi người sinh trên đất Mỹ, trừ một vài ngoại lệ rất hẹp. Bản ý kiến do thẩm phán Roberts thảo bác bỏ lập luận cho rằng Tu chính án 14 chỉ áp dụng cho con cái những người “cư trú hợp pháp”, và nhắc rằng nếu Quốc hội muốn
Một ủy ban điều tra độc lập của Liên Hiệp Quốc vừa công bố phúc trình cho biết Israel tiếp tục thực hiện hành vi diệt chủng khi cố ý nhắm vào trẻ em Palestine tại Gaza. Bản phúc trình, công bố ngày thứ Ba, khảo sát các vi phạm đối với trẻ em Palestine kể từ khi chiến sự bùng nổ tại Gaza, cho hay khoảng 30% số người thiệt mạng do các cuộc hành quân của Israel là trẻ em. Trước đó, trong phúc trình tháng 9 năm ngoái, cùng ủy ban này đã kết luận Israel phạm tội diệt chủng tại Gaza, đồng thời cáo buộc một số giới chức Israel, kể cả Thủ tướng Benjamin Netanyahu, đã có hành vi kích động. Ông Netanyahu hiện cũng đang bị Tòa án Hình sự Quốc tế truy nã về tội ác chiến tranh.
Vì không cứ nhìn là thấy. Thấy là việc của mắt. Nhìn là việc của tâm hồn. Người ta có thể thấy rất nhiều mà không thực sự nhìn ra điều gì. Có thể đi qua cả một khu vườn, biết tên từng loài cây mà chưa từng nghe tiếng mùa trong lá. Có thể học hết bản đồ sông núi mà không nhận ra điệu nhạc của dòng nước.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.