Hôm nay,  

Hồn Đã Đi Về Đâu?

26/08/202614:07:00(Xem: 445)
Screenshot 2022-09-01 125218
Minh họa: HS Đinh Cường

 

Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó.

Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau:

“Ông đã đi đâu rồi?”

Và ngẩn người. Ông đã vào nằm trong một chiếc “hòm” và như đã biến mất. Mi, đứa bé lên năm, nhìn vào chiếc đèn nến mới hình thành, lẩm bẩm:

“Có phải Ông đã đi vào cây đèn này không?”

Nhà nội có một căn gác rất rộng, được gọi là gác thờ, nhưng thật ra không chỉ dùng để thờ. Có một góc lưu giữ toàn những vật cũ kỹ, không mấy khi dùng, như cái mâm đồng nặng trịch, chiếc bàn ủi than có cái chốt hình con gà trống, hay cây đèn “măng-sông” khi đốt phải bơm hì hục… Đặc biệt nhất là chiếc máy hát đĩa. Cái máy hát đĩa này không biết có từ bao giờ, dễ chừng còn hơn tuổi của Ba. Phải “lên dây thiều” cho nó hát. Khi đặt cái đĩa hát to tướng vào xong, phải cầm cái cần đã gắn kim đặt lên đĩa. Khi đĩa quay, tiếng nhạc cất lên. Nhiều chỗ đĩa bị hư, máy cứ lặp đi lặp lại một câu, nghe buồn cười lắm. Vào trong một chút là khu vực thờ. Nhà nội thờ các vị Phật, và thờ ông bà tổ tiên. Có đến sáu, bảy bàn thờ, đối với Mi là nhiều lắm. Mấy đứa nhỏ thường kéo nhau lên gác, rồi cùng rủ nhau xuống. Chẳng đứa nào dám ở lại một mình. Không khí trên gác thờ là lạ. Có thể là vì ánh sáng tù mù, vì những ngọn đèn dầu thắp cả ngày đêm, hay vì mùi khói hương thoang thoảng chăng? Lũ nhóc thường nhìn thật nhanh lên những gương mặt trong các khung hình, đầu óc non thơ lóe lên những điều chưa hiểu.



Mỗi năm, các gia đình từ nhiều nơi lại tụ về nhà nội vào dịp hè. Các bạn nhỏ lớn lên dần. Căn gác thờ vẫn đó. Nhưng đã có thêm vài bức hình trên bàn thờ. Và không chỉ có ở nhà nội. Một số hình còn có ở nhà của từng gia đình nhỏ, như hình của Ông và của Bà.

Một lần, đứa em trai ba tuổi của Mi làm ra vẻ vừa khám phá một điều gì mới. Cậu bé lần ra sau lưng tủ thờ Ông nội, chỉ là một khoảng hẹp đủ để dựng mấy cây cờ. Cậu bé như muốn chơi trò “cút hù” với Ông, nhưng chưng hửng vì không thấy ai hết. Má nắm tay cậu bé dắt ra. Cậu giãy nãy:

“Ông nội trốn ở đâu? Ông nội đi đâu?”

 ***

Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác. Bà Thanh Đề đã được giải thoát nhờ công đức cúng dường của Ngài Mục Kiền Liên và sự tham dự cầu nguyện của cả tăng đoàn. Không chỉ được giảng trong chùa như một bài học về hiếu đạo, câu chuyện này cũng đã được thể hiện trong nhiều vở tuồng, chèo, cải lương. Ý niệm về nhân quả, luân hồi, cũng đã trở thành quen thuộc. Và qua đó, ý niệm về cuộc sống sau cái chết cũng hình thành. Mi theo thói quen, chấp nhận những ý niệm ấy một cách đơn giản. Nhưng cũng có những lúc Mi tự hỏi: Vậy sau khi chết, con người đi về đâu? Có phải là có hai con đường: một là thiên đàng, một là địa ngục, và chỉ vậy mà thôi? Và theo sau đó là rất nhiều câu hỏi. Bởi trong mỗi con người vốn đã có xấu tốt lẫn lộn. Không ai quá hoàn hảo để được lên thiên đàng, và cũng không ai quá xấu xa để bị xuống địa ngục. Vậy thì… họ đi đâu?

Họ đã đi về đâu? Chỉ có những người đã chết mới trả lời được.

Mi lớn lên trong thời chiến tranh. Đầu óc non thơ cũng lớn theo. Những người bạn cùng lớp vào lính, một ngày nào đó ra đi vĩnh viễn. Họ đã đi về đâu? Chưa bao giờ có câu trả lời. Chỉ biết khi nhìn vào chỗ ngồi trước đây của bạn, trong lớp học, Mi nghe như có tiếng cười, giọng nói của bạn, vang lên… rồi xa dần.

Cô bạn thân của Mi, có vị hôn phu mất tích ở chiến trường Hạ Lào, trải qua nhiều ngày đêm mong chờ tin tức, rồi đành chấp nhận rằng anh ấy đã tử trận. Nỗi thống khổ làm cho người ta trở nên yếu đuối, tìm đến những giải pháp tâm linh. Cô xem bói, cô cầu cơ, mong “hồn” của anh ấy hiện về, một cách nào đó, cho cô gặp. Cầu cơ, với một miếng gỗ nhỏ bằng nửa bàn tay, lấy từ một mảnh ván hòm, thường được đẽo thành hình trái tim. Nhưng cũng có người dùng một đồng tiền xu thay cho mảnh ván. Người cầu cơ cùng với vài người khác sẽ đặt ngón tay trỏ lên “cơ” và đọc lời khấn. “Cơ” sẽ chạy trên một tờ giấy bìa lớn có vẽ những chữ cái và số, mục đích là sẽ ráp thành chữ, trả lời các câu hỏi. Những ngón tay sẽ chạy theo “cơ” hay “cơ” chạy theo ý chí của người, không biết được! Chỉ biết rằng, với lòng thành, không khí của những buổi cầu cơ rất trang nghiêm và cảm động. Sự trang nghiêm ấy phần lớn là do những lời khấn. Lâu ngày, Mi không nhớ chính xác bài khấn ấy, chỉ nhớ những câu rời rạc như:

Hồn ai ở chốn non bồng,
Qua đây hồn cũng vui lòng ghé chơi.
Dù hồn ở khắp mọi nơi,


Ghé đây đàm đạo chuyện đời trần gian...

…Hoặc hồn ở đầu sông đầu suối

Hoặc hồn nơi bụi chuối, cành đa

Hoặc hồn nơi bóng xế chiều tà

Hoặc hồn lãng đãng là đà mây xanh

Rồi có một lúc, “cơ” chạy. Những ngón tay chạy theo. Như là anh ấy đang về cho cô gặp, qua hơi ấm của mảnh ván, qua tiếng thổn thức của cô. “Cơ” đã dừng lại ở những chữ cái, ghép thành tên anh và tên cô.

Những buổi cầu cơ không mang lại cho cô lời đáp cho câu hỏi “Anh ở đâu?”

**

Khi Ba mất, Mi ở quá xa để lúc bay về nhà chỉ còn thấy Ba nằm bất động trong quan tài. Trái tim Mi đau thắt. Mi thấy mình nhỏ lại như đứa bé con năm tuổi, muốn khóc ré lên thật to. Ba ơi! Ba đi đâu rồi?

Má và các con ăn chay bốn mươi chín ngày theo lời khuyên của Sư Cô, để cho Ba được siêu thoát. Những ý niệm được hình thành từ những lời giáo huấn ấy, quả đã giúp người nhà chấp nhận sự mất mát, và thành tâm cầu nguyện. Ấy vậy mà bao nhiêu năm trôi qua, Má vẫn cầu mong được thấy lại Ba. Anh chị em Mi cũng vậy, rất mong một lần nào đó được thấy Ba hiện về. Người ta hay nói “hiện hồn” để hiểu rằng người đã khuất chỉ về bằng cái hồn mà thôi, không phải là thân xác. Nhưng hoàn toàn không có! Vậy là Ba đã siêu thoát chăng?

Nhưng có một trường hợp rất khác. Trong số các con của Má, Má đã mất một đứa con trai lúc chỉ mới ra đời chưa đầy một tháng. Má vẫn cứ thấy đứa con ấy về thăm Má. Mỗi lần như vậy, Má lại thấy em lớn thêm, như các con khác, theo tháng năm. Em đã trưởng thành, là một chàng trai khôi ngô khỏe mạnh!

Nỗi đau mất người thân, ai cũng từng trải qua trong đời. Ai cũng từng nghe những lời khuyên để giúp xoa dịu. Nhưng cái khoảng trống mà người mất để lại, rất khó được lấp đầy ngay lập tức. Nó hụt hẫng, nó ray rứt, nó nhức nhối khó tả, mà chỉ có hình bóng của người mất đó mới lấp đầy. Thân xác đã không còn, thì chỉ trông vào linh hồn! Và, như trong một cuốn phim, bởi quá quyến luyến người vợ thân yêu, người chồng quá cố đã trở về bên vợ, thậm chí đã có thể nhập vào một “bà đồng” để người vợ cảm nhận được anh. Và đặc biệt hơn nữa, là anh đã “cứu” được vợ của mình thoát khỏi kẻ ác… (1) Nhưng đó là phim. Và trong đời thật, có mấy ai làm được như vậy? Nếu có, cũng rất hiếm hoi.

Mỗi dịp Vu Lan, Má đều theo thông lệ, cúng cô hồn. Má nói, tháng Bảy là tháng xá tội vong nhân. Trong tâm thức của đại đa số người Việt Nam, dù không tận mắt thấy, ai cũng tin tưởng rằng con người chết đi nhưng phần hồn vẫn còn. Người ta vẫn thường nói “đi theo Phật” hoặc “về nước Chúa” với ước nguyện người thân của mình có một chốn bình yên sau cuộc đời này.

Các nhà thần học, các vị tu hành thuộc mọi tôn giáo, ngay cả các nhà khoa học cũng đều nghiên cứu và có nhiều cách giải đáp cho thắc mắc về cuộc sống sau cái chết. Nhưng câu hỏi “Hồn đã đi về đâu?” hầu như vẫn chưa có câu trả lời, ít nhất là trong những trường hợp cụ thể. Mấy mươi năm qua, Mi vẫn chưa biết Ông nội đã “đi” đâu, chỉ thấy Ông trong lần cải táng, với thịt xương của Ông đã tan rữa. Ba cũng vậy, ngoài nắm tro đang gửi trong chùa, Ba còn lại gì? Mấy mươi năm qua, cô bạn Mi vẫn chưa một lần thấy người yêu về nói chuyện với mình, cho biết anh đã đến đâu. Những người thân khác cũng vậy. Những gì người sống “thấy” được, phải chăng chỉ là do trí tưởng tượng, cộng với tình yêu thương sâu đậm, đã làm nên? Và Mi, tuy không mấy tin vào chuyện người mất rồi có thể hiện về, vẫn luôn mong mình được gặp lại những người thân yêu, kể cả những người bạn đã hy sinh trong chiến cuộc, luôn cả những người mà Mi đã không kịp nói với họ một lời cám ơn hay xin lỗi. Và, cho dù là tưởng tượng, cho dù là chỉ đến trong giấc mơ, cũng đủ cho chuyện cổ tích biến thành sự thật!

Họ đã đi về đâu? Chỉ có những người đã chết mới trả lời được. Nhưng những người còn sống… hình như cũng có câu trả lời. Với Mi, bài thơ “Do Not Stand at My Grave and Weep” của Mary Elizabeth Frye (2) là câu trả lời rõ nhất. Nhà thơ viết bài này để an ủi một người bạn đau khổ vì không được ở bên mẹ khi mẹ của cô qua đời.

Do not stand at my grave and weep
I am not there; I do not sleep.
I am a thousand winds that blow,
I am the diamond glints on snow,
I am the sun on ripened grain,
I am the gentle autumn rain.
When you awaken in the morning's hush,
I am the swift uplifting rush
Of quiet birds in circled flight.
I am the soft stars that shine at night.
Do not stand at my grave and cry,
I am not there; I did not die.

Và nữ nhạc sĩ Trần Bảo Như viết nhạc phẩm “Tôi Vẫn Quanh Đây” với lời phóng tác khá sát ý của bài thơ:

Đừng đứng bên mộ tôi rơi nước mắt,

Tôi đâu ngủ nơi lòng đất khô cằn

Tôi trong ngàn cơn gió thoáng mơn man

Trong lấp lánh ngút ngàn hoa tuyết trắng.

 

Đừng đứng bên mộ tôi rơi nước mắt

Tôi đâu ngủ nơi lòng đất khô khan

Tôi nắng tung tăng trên đồng lúa chín vàng

Trong thu êm dịu lất phất mưa giăng.

 

Tinh sương giá băng lúc anh thức dậy

Tôi là bóng chim thoắt chốc vụt bay

Rời lũ chim ngoan lao xao chung bầy

Như cánh thiên di xa bay xứ lạ.

 

Khi đêm tối buông lối anh đi về

Tôi ngàn cỏ lá đón bước chân quen

Còn nếu khi người ưu tư riêng bóng

Tôi ánh sao xa góc trời mơ ảo…

Nghe giống như câu nói của người đã mất. Nhưng thật sự, đó là lời tự nhủ của người ở lại.



Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh
Mùa Vu Lan 2026

(1) Phim “Ghost”, 1990, đạo diễn: Jerry Zucker

(2) Bài thơ “Do Not Stand at My Grave and Weep” của Mary Elizabeth Frye, 1934

Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Hôm ấy đất trời quang đãng, bầu trời Colorado trong xanh như thể chưa từng xanh như thế, mây trắng lững lờ trôi trùng trùng vô tận, thảo nguyên mênh mông bát ngát.
Tôi rất thích bút danh "Hoàng Thị Cỏ May" mà chị Phi Loan dùng cho những bài thơ của chị, nhưng chưa có dịp hỏi chị tại sao chị lại chọn tên này. Hình ảnh "Cỏ May" gợi lên sự mộc mạc, bền bỉ, mang nét đẹp bình dị và phảng phất nỗi buồn quê hương và có lẽ đó là lý do chị thích cái tên này.
Thưa, chuyện là sư cô Chân Hiếu xuất gia đã hơn 10 năm với sư bà Huệ Chơn, một ngày kia cô thấy xa gia đình đã lâu, cô có ý muốn xin phép sư thầy về thăm mẹ già đã cả năm cô chưa gặp lại. Rồi được phép, cô về gặp mẹ, mẹ con mừng mừng tủi tủi hội ngộ, rồi cũng trong một buổi đó, hàn huyên vui vầy, nhân lúc vui vui câu chuyện mẹ mẹ con con. Bà mẹ già đã ngoài 80 tuổi, có lúc nhớ nhớ, có lúc đã quên quên ít nhiều.
Không có phương pháp tu hành nào giúp tìm ra câu trả lời, nỗi băn khoăn của thầy cứ kéo dài và tâm thầy hơi xao động. Không phải thầy nảy sinh ý nghĩ bất tịnh gì. Thầy chỉ tò mò thôi.
Chỉ có giữa nhà mình với nhà con hay mang thức ăn sang cho nhau mà tự dưng mất một cái nắp nồi. Tìm mãi cả hai bếp vẫn không ra. Chị của Nhàn bảo, cứ đo cái miệng nồi rồi ra tiệm Goodwill, cái gì cũng có hết. Nhàn nghe chị, đi Goodwill vào ngàyThứ Sáu, vì nghe nói Thứ Sáu lại được bớt 20% cho người trên 60 tuổi (Nhàn cười, nói khẽ một mình: 60 tuổi à? Dư sức qua cầu!)
Anh và tôi làm chung hãng với nhau khá lâu, rất thân, vừa là đồng nghiệp, vừa người Huế đồng hương. Một hôm anh mời đến nhà chơi. Nhân đang lúc rảnh rỗi bàn luận thế sự, tôi để ý trên bàn thờ nhà anh có treo bức tranh vẽ một ông quan đội mão rất uy nghi. Anh giới thiệu đó là ông Tổ nhà anh. Tôi tò mò hỏi cụ làm chức chi trong triều? Anh không trả lời, hỏi lại học sử có nhớ việc dưới triều nhà Nguyễn vua Thiệu Trị bỏ trưởng lập thứ là vua Tự Đức? Tôi nhớ có học điều đó, nhưng không biết gì thêm nữa. Anh trịnh trọng nói vị hoàng tử con trưởng vua Thiệu Trị đáng lẽ phải được chọn làm vua đó là: An Phong Công Nguyễn Phúc Hồng Bảo, là người trên bức chân dung đó. Và anh chính là hậu duệ của An Phong Công Hồng Bảo.
Chiến trận tuy ở xa nhưng đã như thật gần vì trong xóm có anh Đinh Văn Vũ mất xác trong một phi vụ tiếp vận miền Trung khi máy bay C-130 rớt xuống biển. Bạn thời tiểu học có Ngô Đắc Doanh tử trận, Nguyễn Văn Nam mất tích khi chưa tròn đôi mươi.
Sau một đêm lênh đênh trong vùng biển Aegean, thuộc lãnh hải của Athens, Greece, khi vầng đông vừa ló dạng, phía chân trời ửng một màu cam sáng rực rỡ, du thuyền MSC Lirica vừa cặp vào bến cảng Izmir, miền trung của Turkey. Trên tàu, hành khách ai nấy đều ăn sáng thật nhanh để chuẩn bị xuống tàu. Đây là điểm dừng chân đầu tiên trong chuyến hải hành bảy ngày quanh vùng biển Aegean, Địa Trung Hải, bắt đầu bằng đất nước Hồi giáo từng một thời oanh liệt dưới bóng cờ Đế quốc Ottoman. Đúng 09 giờ sáng, cầu tàu được thả xuống, mọi người phấn chấn sau một đêm ngủ ngon, sẵn sàng đi bộ vào trung tâm thành phố cách đó khoảng 30 phút đi bộ. Thành phố này không có gì đặc biệt để tham quan, nên chúng tôi thả bộ men theo con đường lót đá dọc bờ biển, tha hồ hít thở khí trời trong lành sau 4 ngày ngột ngạt ở Athens đầy khói xe, khói thuốc lá.
Chúng tôi ngồi, không nói gì với nhau nữa, cả hai cùng đăm chiêu nhìn xuống dòng kênh Đôi chảy lờ lững với những đám bèo giạt bám vào bờ, vào chân cây cầu sơn màu đỏ phía xa xa. Nơi chúng tôi ngồi là một khu dân cư mới thành hình khoảng hai chục năm nay, một khu dân cư đẹp vì thiết kế mới, những con đường cắt nhau vuông vức, các mảng cây xanh bên cạnh những căn nhà cấu trúc mới và đẹp...
Mỗi năm nhân loại xếp hạng lại bảy kỳ quan trên thế giới. Bảy Kỳ Quan của nhân loại được kê khai ra phải đạt được những tiêu chuẩn: Đẹp, lạ, có di tích lịch sử, vẻ đẹp tồn tại của thiên nhiên hoặc một kỳ công của con người. Thí dụ bảy kỳ quan dưới đây: Núi Hy Mã Lạp Sơn: Taj Maha (Kiến trúc nổi tiếng thuộc Agra-India,) Grand Canyon- Mỹ, Kênh Đào Panama, Tòa Cao Ốc Empire State Building(102 từng ở NY; xây1930-1931), Nhà Thờ St. Peter Basilica (Rome),Vạn Lý Trường Thành (Trung Quốc.) Những kỳ quan này thu hút cả thế giới, thu hút những người muốn chinh phục thiên nhiên (Hy Mã Lạp Sơn). Những khách du lịch muốn được xem tận mắt những kỳ công của nhân loại (Empire State Building; Agra-India) Muốn mở lại những trang lịch sử của nhân loại trên những di tích phế, hưng( như Vạn lý Trường Thành; St. Peter Basilica)
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.