Hôm nay,  

Thơ duyên lê chiều giang nguyễn thị khánh minh

14/03/202521:20:00(Xem: 2824)

Tho3nguoi

 

D U Y Ê N

nỗi lá vàng cuối thu

 

duyên không chỉ làm thơ. duyên vẽ. duyên chụp hình. duyên làm những bookmark thiệt dễ thương để gởi bạn bè, nhắc nhớ mỗi khi lật từng trang sách, vì ngoài kia…
 
bên khung cửa
lặng nhìn chiếc lá vàng. rơi
một mình...
The Last Leaf
O’Henry,
 
Cho nên đọc thơ duyên cứ nghe “Chân đi nằng nặng hoang mang… Ta nghe tịch lặng rơi nhanh. Dưới khe im lìm” (TCS)
 
chợt. hiểu ra rằng
mầu đỏ, vàng kia tự bao giờ… đã
ngấm. ngập
trái tim ta.
 
Phải, hình như những chiếc lá vàng kia vẫn luôn xào xạc, vẫn luôn thổn thức dưới trăng mờ của con nai vàng ngơ ngác tự thuở nào kia.
 
và khi trăng mờ, trên núi xa...
có lá vàng. lìa cành vội vã…
có mùa Thu, lành lạnh. gió thu, sang
 
Cô bé đi vớt mặt trời của Nguyễn Xuân Thiệp không về nữa... nhưng Zhivago thì vẫn về lại mái nhà xưa
 
Zhivago trên cánh đồng tuyết trắng
tản cư về. về lại, mái nhà xưa
nơi. thi sĩ kể thơ. tình mê đắm
vẫn lạc loài, hình bóng Lara…
 
Ơi Lara. Rồi Lara hỏi Zhivago:
 
lá đỏ. lá vàng… đẹp ngỡ ngàng
mỗi độ sang Thu
lá vàng ơi. dặm đường xa. có mỏi
 
Zhivago còn biết trả lời sao?
Tôi một lần kia đi giữa Boston với cả một mùa thu, trọn một mùa thu. Nhớ Xuân Diệu với “Lá không vàng, lá không rụng, lá lại thêm xanh, ấy là mùa thu đã về, mùa thu mới về, yểu điệu thục nữ…”. Thực ra, lá như ráng níu lại chút xanh, và vì níu lại nên có vẻ chặt hơn, xanh hơn lên mà thôi. Bởi vì rất nhanh, lá bỗng vàng rượm, vàng rực, vàng tía, vàng buốt… và bầu trời rộng ra, thênh thang, yểu điệu kỳ cục. Mới mấy ngày thôi mà cây cứ tô dần tô dần cái màu vàng buốt, óng ả, rực rỡ chen lẫn với xanh đậm, xanh lợt mong manh đó… và sáng hôm sau, rơi từng lá từng lá tràn ngập các lối đi.
Bỗng nhớ Em không nghe mùa thu của Lưu Trọng Lư. Rõ ràng thu không phải để dòm, để ngó, để ngắm, để nghía… mà chỉ có thể để nghe. Mà cũng không phải để nghe tiếng, dù là tiếng lá rụng mà để nghe mùa. Cái tiếng mùa đi, mùa về, cái tiếng đời của mỗi chúng ta. Nó ở trong không gian dằng dặc, đùng đục thênh thang kia, và ở cả trong thời gian hun hút, héo hon rơi rụng nọ.
Tôi bước đi từng bước nhẹ dưới những vòm cây và nghe cho hết tiếng thu về. Dưới chân tôi từng lớp lá rụng, bước chân bỗng như hẫng đi và tôi chợt ngơ ngác như chú nai vàng “xuống rừng nẻo thuộc nhìn thu mới về” (Huy Cận) đó vậy.
Lạ, ở Mỹ người ta không gọi Autumn – mùa Thu, mà gọi Fall – mùa Rụng, bởi vì chỉ có lúc lá rụng bời bời như vậy người ta mới thấy hết được nỗi vui mừng, nỗi xót xa, nỗi  buốt nhớ… không rõ vì đâu. Và vì Fall, mà người ta dễ “fall in love” có phải? (Nghe tiếng thu giữa Boston, ĐHN, 1993).
 
ngày cuối Thu buồn tênh…
vầng trăng chưa tỏ
bóng những chiếc lá
thoi thóp trong đêm
sẽ vùi chôn theo…
mùa Thu chết!*
 
Đọc thơ duyên không chỉ thấy nỗi buồn dằng dặc bởi thu phai mà còn thấy lòng mình như rộng mở, như những chiếc lá thu ngập thềm nhà, đẫm ướt mưa đêm mà còn biết chất chồng lên nhau cố giữ hơi ấm cho nhau…
 
trở về. sân nhà ngập lá
phủ kín lối đi… cây ginkgo vườn sau trơ cành. gầy guộc
sót lại. vài chiếc lá trơ vơ
thềm lá vàng
chất chồng lên nhau, chen mầu nâu, đỏ
đẫm ướt dưới mưa đêm
cố giữ hơi ấm cho nhau…
ngày tàn thu
 
Tôi chắc, một hôm thu kia, thế nào một chiếc lá vàng sẽ lắt lay trong gió nhẹ, mênh mang và vĩnh cửu, chiếc lá vàng được vẽ bởi duyên chớ không phải bởi O' Henry, phải không duyên?
 
LÊ CHIỀU GIANG
trên sông khói sóng… (*)
 
Thơ LCG không phải thơ. Nó là tiếng thét, là tiếng thở dài não nuột. Đọc LCG thấy một người thơ, sống như thơ, thở như thơ, sáng trưa chiều tối, từ trong tranh bước ra, ngồi đó, ngó quanh, không thấy ai, lại bước vào trong tranh.
 
Chợt nghe xa xăm như có ngàn tiếng gọi.
Gió âm u, gió lồng lộng rừng khuya…
 
Lê Chiều Giang vẫn cứ lẽo đẽo tìm theo những rêu phong của ngày tháng cũ, nhiều lúc muốn xổ lồng bay xa mà vẫn ngập ngừng e sợ…
 
Cánh cửa
Sầm. Đóng lại
Chìa khóa? Quăng lên trời.
Ta.
Bước chân phiêu bạt
Tay không,
bày cuộc chơi.
 
Rồi hét lên tôi cứ lẳng lơ, tôi rất lẳng lơ viết những chữ mông lung, vật vờ như gió… sáng trưa chiều tối
Vẫn có một bờ vực không thể vượt qua, cho dù cứ lẳng lơ, rất lẳng lơ như thế! Để rồi
 
Đứng mãi trong tranh
Đóng vai:
Góa phụ
Sáng nay ta
Ra với mặt trời
Như kẻ xa xôi về lại trái đất…
 
nhìn quanh quất, vội vã bước trở lại trong tranh để:
 
… Diễn tiếp
Hỡi thế gian
Ta.
Bỏ cuộc chơi.
(Đầu hàng).
 
Trong tranh, Lê Chiều Giang có lúc như ngựa chứng, tóc bờm tung bay phi nước đại, cổ vươn cao ngoằng hí vang, dưới bóng trăng huyền hoặc lẫn bóng tối u mê giữa ngàn lá biếc. Sự cách điệu không hài hòa làm cho gương mặt có sắc sáng như trăng, lại thêm chút bóng tối của u mê. “Mắt tôi xếch và sắc như kiếm dao, bướng bỉnh đầy ngạo mạn, điểm thêm với miệng cười khinh bạc”.
 
“Chút khinh bạc, không biết bao lần đã nương bên tôi, đứng thẳng cùng tôi giữa đất trời, bên một dòng đời vô cùng nghiệt ngã…”(LCG).
 
Giờ thì tôi hiểu có một hôm nào, LCG đã gởi tặng Đỗ Nghê bài thơ Thiền giả: Ta đảo điên. Ta bất chấp. Ta bới tung…Ta quăng kiếm. Ta bẻ gươm. Ta nằm im. Ta giả chết… Toàn là hư chiêu hết đó thôi nhe! Đừng vội tưởng thiệt.
 
Chợt nghe xa xăm như có ngàn tiếng gọi
Gió âm u, gió lồng lộng rừng khuya
Bay trên cao mà nhớ
Bước chân đi…
Sấp ngửa lưng trời. Ta
Tĩnh tâm
Ta. Thiền định
 
Thì ra, đã là Sa Di Ni… từ lúc nào không biết. Cứ tưởng ngổ ngáo, ngang tàng, chọc trời khuấy nước… ai ngờ vẫn đắm chìm trong một cõi vời vợi, xa xăm…
 
Thiền Giả
 
Như đệ tử Kim Dung. Múa
trên đầu kiếm sắc
Ta đảo điên.
Ta bất chấp. Ta
Bới tung... Chẳng hiểu ra
đời.
Đã rất bao dung
Rất nương nhẹ
Để ta còn sống sót
 
Khi thất bại
Ta biết vờ đợi chết
Giả nằm im. Nghe
trái đất ngả nghiêng
Quá thấm đòn
Ta quăng kiếm
Ta bẻ gươm
Cũng biết thân. Ta ngồi im
Góc tối
 
Chợt nghe xa xăm như có ngàn tiếng gọi
Gió âm u, gió lồng lộng rừng khuya
Bay trên cao mà nhớ
Bước chân đi…
 
Sấp ngửa lưng trời. Ta
Tĩnh tâm
Ta. Thiền định
 
Cứ tưởng ngang tàng bướng bỉnh, “giang hồ mê chơi quên quê hương”, ai dè mới nghe tiếng cơm sôi đã nhớ nhà, đã thút thít. Phải chi có một ông Bụt hiện ra hỏi: Sao con khóc?
 
Ta như đêm mịt mù
Giữa trùng trùng duyên khởi.
Quanh một vòng trái đất
Thèm trở lại chốn xưa
Ngồi bên hè phố cũ
Tỉ tê. Khóc. Nhớ nhà.
 
Thì ra là một nỗi oan. Không ai thấu hiểu.
 
Buồn ngang xương. Để
Thất thoát niềm vui
Tìm nghĩa lý trong điều
Không ai hiểu. (Vỡ nợ)
 
Có những nỗi oan
Tính viết lời chống đỡ
Mà mực khô, mà
Ý cạn. Tay run. (Tịnh khẩu )
 
Mổ trái tim xem:
Không gì trong đó
Mở đôi bàn tay:
Những thứ chẳng còn. (Lâm chung)
 
Đọc LCG mà thương hơn cho một nhan sắc, một tính cách, một người sống với cõi đầy thơ… Để có những buổi “chiều buông trên dòng sông cuốn mau…
Để rồi, nhận ra cõi vô lượng tâm:
“Bể sầu không nhiều, nhưng cũng đủ yêu…”
(Chiều về trên sông, Phạm Duy)
 
(*) trên sông khói sóng cho buồn lòng ai…(Tản Đà, dịch Hoàng Hạc Lâu).
 
 
NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH
thơ rắc bùa hương
 
Khi viết xong bài thơ
Đôi khi. Tôi khóc
Có phải vì lời đã nói về nước mắt
Trong lòng đêm ma mị
 
Khi viết xong bài thơ
Tôi thường hay xóa
Dường như tôi sợ bóng tôi
Giãy chết giữa những con chữ đói
 
Khi chấm hết bài thơ
Tôi hụt hẫng. Như chưa thể xong lời
 
Là bởi, bài thơ tưởng “hoàn tất” kia vẫn giữ mong manh những con chữ đói, giữ những từ đợi chờ, nên thi sĩ chẳng bao giờ hoàn tất nổi một bài thơ.
 
Sau một vụ mùa
Tôi chỉ đem về được đôi ba hạt lúa chín
Chút mầu vàng của nó lấp lánh trên tay
Bài thơ hoàn tất. Là một điểm hẹn quyến rũ
Nhưng phút mong manh giữa những từ
Là lúc đóa hoa đang nở.
Đang tỏa hương
Tôi có gì đâu phải vội
 
Cho nên “Nếu có tìm tôi xin hát bằng nhịp tim bổng trầm lời tình tự…”
Hãy nghe thi sĩ nói những lời tình tự bằng lời ma mị, bằng thứ bùa mê, thuốc lú với những con chữ đói như thế nào
 
Tình Yêu
Trong nét vẽ dịu dàng của vòng ôm
Tôi chiếc lá cong
 Âm thanh mềm một vũ khúc
 
Quyến rũ mầu đêm phủ
Tôi bờ đất ấm
Nghe từng hạt cát hòa âm
Âm thanh đi tới
Âm thanh của hòa tan…
 
Nhưng tình yêu không chỉ là đôi lứa, là vòng ôm là vũ khúc là hoà âm, mà tình yêu còn là đồng lúa chín vàng, là con tầu chở chuyên hội ngộ, là tiếng cửa reo sum vầy, là bếp ấm báo tin no đủ… Là nỗi ước mơ một ngày nào đó trong cõi chiêm bao
… Tôi sẽ thắp ánh sáng của sao hôm không có nước mắt chiều phai, của sao mai hẹn về khung trời đang mở nắng. Tôi sẽ treo trước cửa sổ phòng người tiếng hót một loài chim sớm đánh thức ngày vui. Tôi sẽ kéo tấm rèm chở che một điều đang bắt đầu trong khép lại một ngày ơn phước, nếu có tìm tôi…
Tôi biết. Tôi sẽ được cất tiếng. Trong mùa thơ quyến dụ ấy với ngôn ngữ tình nhân. Ngôn ngữ tôi nghe một lần trong xứ sở chiêm bao. Khoảnh khắc giấc mơ tôi thực sống…
 
Cơn bão rớt sẽ đến rồi sẽ qua. Và, chỉ cần có thế: “me tôi ngồi may áo, bên cây đèn dầu hao, cha tôi ngồi xem báo, tôi nghe tiếng còi tàu… “(Phạm Duy).
Phải rồi, chỉ có ở đó, người ta mới có thể … “có tiếng chim trao lòng tin cậy; có bờ vai nương tựa sớm hôm; có những ánh mắt sao trời thơ trẻ”; và đôi cánh bay lên những ước mơ đằm thắm ngọt ngào của người thi sĩ, luôn nhắc nhở mình “đừng như bóng mây tan”.
 
Phải rồi. Chỉ ở đó mới có tiếng reo vui Tat-bà-ha của Tâm kinh Bát nhã khi thấy biết “ngũ uẩn giai không/ độ nhất thiết khổ ách”. Bát nhã (Prajnã) là cái nhận thức có trước nhận thức, là cái trí tuệ có trước trí tuệ, không đếm đo, toan tính, nó vậy là nó vậy. Và chỉ ở đó, người ta mới thực sự hồn nhiên, thực sự reo vui: Tát-bà-ha!
 
Tiếng chim ríu rít mách tôi sự trong trẻo ban mai trao lòng tin cậy.
Bóng đêm mở nỗi sợ cho tôi tìm ra ánh sáng bờ vai nương tựa.
Những vì sao tặng tôi cách nhìn ngây thơ trong sáng. Gió cho tôi đôi cánh và đường bay mơ ước con người. Bóng mây tan nhắc tôi mỗi phút giây ở lại bên mình yêu dấu. Tiếng cười bé thơ cho tôi nghe reo vui lời tâm kinh bát nhã. (Khoảnh khắc giấc mơ)
 
Cảm xúc với tranh Những Con Chim Ngược Gió của Họa Sĩ Đinh Cường, Khánh Minh viết, những bùa hương: Vừa quay lại đã muôn trùng đá lạnh
 
Bảng pha mầu lấm lem ngày tháng bụi
Tiếng cọ ngày xưa thở ngoài khung tranh
Trời đóng lại. Một đường đêm thăm thẳm
 
Ai đi qua. Vệt mầu bạc thếch
Sông thời gian đặc quánh ảnh hình
Vừa quay lại đã muôn trùng đá lạnh
 
Và gió, một mùi hương nồng nặc bùa mê trên sợi tóc vai người
 
Bay đi. Bay đi.
Bay qua dải thiên hà buồn bã kia. Mà về.
Trên vai người sợi tóc thơm hương tinh tú.
 
Tôi nhóm lên một ngọn lửa
Gió thổi tắt đi
Tôi nhóm lên một ngọn lửa nữa
Gió lại thổi tắt đi
 
Khi tôi không còn hy vọng
Thì gió
Lại làm những que tàn kia bắt lửa…
 
 Đừng quên, chính những bùi nhùi năm tháng kia, không mất đi đâu, chỉ ủ một mùi hương chờ đợi ngọn gió từ cõi xa kia bùng thổi. Cho nên người thơ viết: Nên tôi quý những điều tôi đã nhận/ Nên tôi tận lòng với những điều đang ở.
Còn có cách nào hơn là “mở con đường trú ngụ hơi thở tịch lặng” - Anapanasati- ở đó, hiện tại là sát-na mênh mông không ngằn mé . Và chỉ ở đó:
 
Trong sáng láng ấy tôi đã gặp nhà thơ Mặt Trời. Lồng lộng nắng phương đông, chắt chiu hết tinh khôi nhân ái rắc xuống cánh đồng thơ diễm ảo. Tôi thức giấc từ lời hát của một bông cỏ dại người ban tặng và mảnh vỡ trái tim tôi thành những hạt pha lê được nuôi sáng bằng lời thơ dâng hiến...
 
Và một khi đã thấy biết (tri kiến) như thế, khi đã reo vui như thế, thì người ta sống với yêu thương, sống trong yêu thương, sống vì yêu thương:
 
Yêu thương nhé” “nói cùng lá cứ sống hết mình xanh”, “yêu thương ơi xin thức dậy cùng người…” “yêu thương ơi khoảnh khắc xum vầy đơn sơ thế xin một lần được cất cánh bay”.
 
Rồi tự dặn với lòng: “yêu thương ơi chút lòng riêng xin chắt chiu nghe… “Cho dẫu chiều rồi phai nắng...” (Yêu thương ơi)
 
Nếu có tìm tôi. Xin trông chờ mảnh sáng sao băng. Nếu có tìm tôi xin hát bằng nhịp tim bổng trầm lời tình tự... Nếu có tìm tôi. Xin theo dấu sáng đom đóm quyện hương bờ dậu quê nhà. (...). Cho tôi đôi cánh hoa bay về miền đồng lúa chín vàng. Ngôi làng không bận lòng gì hơn là sống bình yên. Có con tầu đi về chở chuyên hội ngộ. Mỗi tiếng cửa mở ra là một tiếng reo sum vầy. Mỗi bếp lửa là mỗi báo tin mùa màng no đủ. Nếu có tìm tôi...Trên bước gió mở ngàn khơi nơi cuối cùng là phương Đông ấm một mặt trời… (Khoảnh khắc giấc mơ).
 
Hoang mang thế nhưng rồi, như một nhà thơ từng viết: Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy! Khánh Minh thì “Tôi đi tìm những trang bản thảo, mảnh đất tị nạn bình yên của tôi. Nơi có trò chơi trốn tìm dưới ánh chớp những chùm sao đang va vào nhau vang dội. Âm thanh ẩn mật là chiếc chìa khóa cuối cùng tôi phải mở, cõi thách thức cảm xúc phục sinh.
 Tôi nhặt được một trang bản thảo lem luốc đầy vết xóa và tôi nghe tiếng tim mình còn hồi hộp đập…” (Trong cơn bệnh).
 
Phải, “Còn hồi hộp đập” nghĩa là còn sẽ nhặt nhạnh thêm.
“Em hồn nhiên rồi em sẽ bình minh” thôi mà! Phải không?
 
-- Đỗ Hồng Ngọc
(Saigon, 30.10.2024)

Tác phẩm Lang Thang Nghìn Dặm Tập 2 của Nguyễn Thị Khánh Minh một lần nữa cho thấy sức làm việc không ngừng nghỉ và tâm hồn cực kỳ thơ mộng của tác giả, nơi ngòi bút của chị hiển lộ sự trân trọng vẻ đẹp ngôn ngữ Việt qua các bài tản văn về nhiều tác giả và tác phẩm...
Mỗi cuối tuần, nếu không có việc gì đặc biệt, tôi thường gặp anh Lê Lạc Giao bên ly cà phê quen thuộc. Chúng tôi ít khi nói trực tiếp về cuốn sách anh đang viết. Câu chuyện thường có tính tản mạn. Anh thường kể về một người bạn vừa mất, một bài thơ cũ bất chợt được nhắc lại, kỷ niệm ở Sài Gòn trước 1975, một lần trò chuyện với Nguyễn Lương Vỵ, một bài thơ tình của Du Tử Lê, rồi từ đó mới lan sang những điều khác.
Thi sĩ Vũ Hoàng Chương là một tác giả quan trọng, đã để lại cho chúng ta một số lượng tác phẩm rất lớn. Thơ ông chứa nhiều ý kín đáo, lại thêm cách diễn tả hàm súc, nên nhiều bài, nhiều câu thuộc loại “không dễ hiểu.” Là một người uyên bác và chịu ảnh hưởng của Hán học từ rất sớm, ông đã dùng khá nhiều điển tích và cũng hay trích dẫn thơ văn cổ khi sáng tác. Những điển tích, thơ văn cổ ấy, nếu không được phân giải ra, sẽ khiến nhiều người đọc, nhất là người ở thế hệ trẻ, khó nắm vững chủ ý của tác giả. Cho tới nay, bên cạnh một số bài viết riêng lẻ mang tính cách ước đoán hoặc với nhận định có phần nào chủ quan của người viết, chưa có một cuốn biên khảo nghiêm túc nào về Vũ Hoàng Chương.
Hồi Ký Tiểu Thuyết Lê Lạc Giao Ngày 19 tháng 9 năm 2026 lúc 4:00 pm Tại Coffee Factory 15582 Brookhurst St. Westminster, CA 714-418-0757
Khi đọc những tác phẩm hồi ký, truyện dài hay chứng từ về các trại tù cải tạo sau tháng 4.1975, điều làm người đọc day dứt không chỉ là sự khắc nghiệt của tù cảnh, mà còn là câu hỏi: làm sao có những người vẫn sống sót, cả về thể xác lẫn tinh thần trong lúc bị tước đoạt tất cả, nhất là tự do.
Tháng 6 vỡ nắng gọi mùa hè xa. Một mùa hạ đến sau nhịp xuân gãy đổ của năm 1975. Lẽ đáng mọi người phải được sống thanh bình, yên ả trong một đất nước đã thống nhất, mọi nỗ lực của toàn dân phải quy về một mục đích chung là xây dựng lại quê hương sau bao đổ vỡ của chiến tranh, thù hận. Thế nhưng tháng 6 năm đó bắt đầu bằng một lời hứa lừa đảo, dối trá nhất trong lịch sử từ Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn: quân cán chính của chính quyền VNCH phải trình diện để học tập cải tạo trong 10 ngày!
Nếu "Làng Sơn Dầu" đại diện cho Ngu Yên trong vai trò người kể chuyện, và tuyển tập thơ "1978-2026" cho thấy ông ở vai trò nhà thơ đi suốt gần nửa thế kỷ, thì "Nhạc Ngoại Quốc" lại giới thiệu một chân dung khác của cùng một người cầm bút: nhà nghiên cứu và người thực hành dịch thuật. Ngay từ trang mở đầu, tác giả đã minh định rõ ràng mục đích của công trình này: đây là tuyển tập mang tính giáo dục, nhằm giới thiệu sự phong phú của âm nhạc thế giới cùng thực hành dịch ca khúc, không nhằm mục đích thương mại. Điều làm nên giá trị đặc biệt của tuyển tập này không chỉ nằm ở số lượng bài hát được chuyển ngữ, mà ở việc Ngu Yên đã xây dựng hẳn một khung lý thuyết bài bản để soi sáng cho từng bản dịch, biến tập sách vừa là một tuyển tập ca từ để hát, vừa là một công trình học thuật thu nhỏ về nghệ thuật dịch ca khúc.
LTS: Buổi Ra Mắt Các Tuyển Tập Thơ, Truyện, Nhạc, Phê Bình Văn Học của Ngu Yên sẽ được tổ chức tại Little Sài Gòn vào chiều Chủ Nhật, 23 tháng 8, lúc 3:30 giờ chiều tại Coffee Factory. Việt Báo và Ngu Yên thân mời quý văn hữu, thân hữu, độc giả đến tham dự, gặp gỡ và hội thoại với tác giả. Trong loạt bài viết sắp tới về chương trình RMS, Vũ Tiến sẽ lần lược giới thiệu những cuốn sách mới sắp "trình làng". Mời bạn đọc cùng bước vào trang sách với bài thứ nhất, về Làng Sơn Dầu.
LTS: Nơi đây sẽ trích dịch theo bản tiếng Anh "Soccer in Sun and Shadow" [Bóng tròn dưới ánh mặt trời và bóng râm] do Mark Fried chuyển ngữ từ nguyên tác tiếng Tây Ban Nha của nhà văn Eduardo Galeano (1940–2015). Galeano là một nhà báo, nhà sử học và nhà hoạt động xã hội nổi tiếng người Uruguay. Galeano từng đoạt nhiều giải thưởng quốc tế, bao gồm Giải thưởng Lannan đầu tiên về Tự do Văn hóa. Sau đây là trích dịch một số đoạn văn.
Tôi không ưa triết lý. Một thời tuổi thơ của tôi là học về triết lý, trực tiếp từ những vị thầy nổi tiếng như Lê Tôn Nghiêm, Nguyễn Văn Trung, LM Kim Định... Nhiều năm sau, tôi khám phá ra mình không ưa triết lý, và chỉ còn thích đọc ca dao (mà phải là lục bát), truyện võ hiệp (mà phải là Kim Dung), và rồi ưa thích sống một đời hồn nhiên, thơ dại (kiểu thiền sư Tế Điên)... và vân vân. Đó là lý do tôi kinh ngạc khi thấy nhà văn Kim Vũ đi theo chiều ngược lại: từ những gì rất thơ mộng, rồi trở về triết lý phức tạp.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.