
VN trở thành điểm nóng du lịch nhất Đông Nam Á: 21 triệu lượt khách đã thăm VN trong năm 2025, tăng 20% so với năm trước
Bài viết sau đây của Tạp chí Fortune, ấn bản tháng 6/7 năm 2026 (chuyên đề Châu Á), có nhan đề "Asia’s new tourist hotspot" (Điểm nóng du lịch mới của Châu Á) của phóng viên Angelica Ang từ Singapore. Bài này trên mạng có nhan đề giựt gân "Vietnam is becoming the hottest tourist hotspot in Southeast Asia--and trying to avoid Thailand’s mistakes" (Việt Nam đang trở thành điểm nóng du lịch hấp dẫn nhất Đông Nam Á--—và nỗ lực tránh lặp lại những sai lầm của Thái Lan). Bản dịch như sau.
Việt Nam đang trở thành điểm nóng du lịch hấp dẫn nhất Đông Nam Á--và nỗ lực tránh lặp lại những sai lầm của Thái Lan
--- Angelica Ang
Việt Nam đang nhanh chóng trở thành điểm đến nghỉ dưỡng hấp dẫn nhất Đông Nam Á.
Theo số liệu thống kê của chính phủ, hơn 21 triệu lượt khách đã đến thăm Việt Nam trong năm 2025, tăng 20% so với năm trước đó. Năm ngoái, Việt Nam đã vượt qua Thái Lan để trở thành điểm đến phổ biến nhất đối với du khách Trung Quốc, thu hút 5,3 triệu lượt khách, so với con số 4,5 triệu lượt khách đến Thái Lan. Chính phủ hiện kỳ vọng sẽ đạt doanh thu 1,1 triệu tỷ đồng (tương đương 41 tỷ USD) từ ngành du lịch trong năm nay.
"Vị trí địa lý mang lại cho Việt Nam lợi thế đắc địa để phát triển du lịch, và tiềm năng này còn được củng cố nhờ các giá trị di sản văn hóa," ông Mai Văn Chính, một trong những Phó Thủ tướng của đất nước, phát biểu tại một diễn đàn du lịch vào tháng 9 năm ngoái. Ông cũng ca ngợi "nền ẩm thực đa dạng, phong cảnh tuyệt đẹp và sự thân thiện, hiếu khách của người dân" nơi đây.
Không chỉ các trung tâm du lịch truyền thống như Hà Nội và TP Sài Gòn (TP.HCM) mới thu hút du khách. Theo dữ liệu từ Klook – một nền tảng du lịch châu Á – lượng khách đến đảo Phú Quốc và thị trấn Sa Pa (vùng Tây Bắc) đã tăng hơn gấp đôi trong năm 2025. CS Soong, Phó chủ tịch phụ trách phát triển doanh nghiệp của Klook, nhận định: "Du khách đang tìm kiếm những điểm đến gần gũi với thiên nhiên và mang đậm bản sắc văn hóa bên ngoài các thành phố lớn."
Các cuộc thảo luận về tiềm năng kinh tế của Việt Nam thường tập trung vào lĩnh vực sản xuất, với việc xuất cảng các mặt hàng điện tử, may mặc và nhiều loại hàng hóa khác sang thị trường toàn cầu. Tuy nhiên, ngành du lịch – vốn đóng góp gần 10% GDP – cho thấy đất nước này cũng hoàn toàn có khả năng cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ.
"Việt Nam đang cạnh tranh với Thái Lan và Malaysia để trở thành điểm đến hàng đầu trong khu vực," ông Lê Hồng Hiệp, nghiên cứu viên cao cấp tại Viện ISEAS–Yusof Ishak (Singapore), cho biết.
Mặc dù Đông Nam Á thường được biết đến nhiều hơn như một điểm đến dành cho khách du lịch bụi (backpacker) – những người tìm kiếm các dịch vụ giải trí và lưu trú giá rẻ – nhưng Việt Nam có lẽ đã sẵn sàng đón nhận một kiểu du khách khác.
"Khách du lịch bụi thường không chi tiêu nhiều," ông Lê nhận định. “Chính phủ đang nỗ lực thu hút những du khách có khả năng chi tiêu cao và lưu trú dài ngày tại đất nước này.”
Nhóm đối tượng này bao gồm khách đi công tác, khách du lịch hạng sang và khách du lịch kết hợp chữa bệnh. Bộ Y tế Việt Nam dự báo ngành du lịch y tế sẽ tăng trưởng từ mức 700 triệu USD vào năm 2024 lên gần 4 tỷ USD vào năm 2033. Du lịch kết hợp hội nghị cũng đang trên đà phát triển; theo dự báo của Mordor Intelligence, quy mô ngành này sẽ tăng từ 7,8 tỷ USD hiện nay lên 10,3 tỷ USD vào năm 2031.
Một lý do khiến ngành du lịch Việt Nam bùng nổ rất đơn giản: việc đi lại đến đây đã trở nên thuận tiện hơn. Năm ngoái, Việt Nam đã cho phép công dân của hơn mười quốc gia – bao gồm Bỉ, Hungary và Thụy Sĩ – được lưu trú 45 ngày mà không cần thị thực (visa); hiện nay, công dân từ 39 quốc gia được hưởng các chính sách miễn thị thực khác nhau.
“Việc nới lỏng các quy định về thị thực mang lại lợi ích cho bất kỳ điểm đến du lịch nào,” bà Alexandra Murray, Phó Chủ tịch kiêm Giám đốc khu vực Đông Nam Á của tập đoàn khách sạn Hilton (có trụ sở tại Mỹ), nhận định. “Du khách có thể linh hoạt và ngẫu hứng hơn trong kế hoạch du lịch của mình.”
Các hãng hàng không Việt Nam cũng đang đẩy mạnh chiến lược mở rộng mạng lưới bay quốc tế. Vietjet – hãng hàng không tư nhân hàng đầu đất nước – đang triển khai các chuyến bay mới từ Trung Quốc, Nhật Bản và Singapore, đồng thời cân nhắc mở thêm các đường bay từ châu Âu. Nguồn khách du lịch đến Việt Nam đang mở rộng ra ngoài các thị trường truyền thống như Singapore và Hàn Quốc; dữ liệu từ Klook cho thấy du khách Philippines và Ấn Độ hiện đang thúc đẩy nhu cầu trong khu vực, trong khi lượng khách từ các thị trường xa như Mỹ, Úc và New Zealand cũng đang gia tăng mạnh mẽ. Tuy nhiên, Trung Quốc và Hàn Quốc vẫn là hai thị trường nguồn khách lớn nhất với khoảng cách rất xa so với các nước còn lại, theo sau là Nga ở vị trí thứ ba.
Chính phủ đang tập trung nguồn vốn để mở rộng cơ sở hạ tầng tại các điểm du lịch trọng điểm. Điển hình là dự án sân bay mới tại Phú Quốc với vốn đầu tư hơn 830 triệu USD, do tập đoàn trong nước Sun Group phối hợp cùng Changi Airport Group – đơn vị vận hành trung tâm hàng không đẳng cấp thế giới tại Singapore – thực hiện. Dự án này cùng các khoản đầu tư khác đang được triển khai nhằm chuẩn bị cho Hội nghị cấp cao APEC năm 2027 sẽ diễn ra tại hòn đảo này. Các doanh nghiệp nước ngoài cũng không đứng ngoài cuộc. Gần đây, Vingroup đã ký thỏa thuận với tập đoàn khách sạn IHG Hotels & Resorts (Anh) để đưa bốn thương hiệu của họ đến Cần Giờ – một huyện ven biển thuộc TP.SG. Trong khi đó, Sun Group cũng đã tăng cường quan hệ hợp tác với Hilton vào năm ngoái, với kế hoạch phát triển năm khách sạn có tổng cộng hơn 2.000 phòng tại Phú Quốc, Đà Nẵng và Quảng Ninh.
“Rất nhiều hợp đồng xây dựng quy mô lớn đã được ký kết,” ông Murray cho biết. “Quy mô này vượt xa bất cứ điều gì tôi từng thấy ở các quốc gia khác, kể cả ở Trung Đông. Đây cũng là một bước đi mang tính chiến lược, giúp Việt Nam khẳng định vị thế tại Đông Nam Á như một điểm đến đầu tư đầy triển vọng.”
“Các doanh nghiệp trong nước đang xây dựng thêm nhiều khách sạn tại các thành phố lớn, nhưng họ cần hợp tác với các đơn vị quản lý nước ngoài để có thể quảng bá mình như những khách sạn đạt chuẩn quốc tế, qua đó thu hút du khách nước ngoài,” ông Lê, chuyên gia từ Viện ISEAS–Yusof Ishak, nhận định.
Tuy nhiên, dù sự tăng trưởng mạnh mẽ là yếu tố quan trọng trong ngắn hạn, việc theo đuổi những lợi ích bền vững và dài hạn mới là điều cốt yếu đối với ngành du lịch Việt Nam. “Vấn đề không chỉ nằm ở việc phát triển du lịch trên khắp cả nước, mà là làm sao để phát triển một cách bền vững,” ông Lê giải thích. “Chúng tôi mong muốn du khách quay trở lại, vì vậy trọng tâm là nâng cao chất lượng dịch vụ để họ lưu trú lâu hơn, chi tiêu nhiều hơn và muốn quay lại lần nữa.”
Những khó khăn mà ngành du lịch Thái Lan đang gặp phải là minh chứng cho thấy những hệ quả tiêu cực có thể xảy ra. Đại dịch COVID đã giáng đòn mạnh vào ngành du lịch nước này, trong khi bất ổn chính trị và lo ngại về tội phạm đã khiến một số du khách—đặc biệt là từ Trung Quốc—ngần ngại ghé thăm. Thái Lan cũng đang thu hẹp chương trình miễn thị thực; thời gian lưu trú của du khách hiện giảm từ 60 ngày xuống còn 30 ngày nhằm thu hút “những du khách chất lượng” thay vì những người muốn tận dụng thời gian dài để lưu trú tại đây.
“Việt Nam đã chứng kiến những hệ quả của tình trạng phát triển quá mức và quá tải du lịch tại các điểm đến như Bali hay Thái Lan,” ông Vũ Minh Khương, Giáo sư thực hành tại Trường Chính sách công Lý Quang Diệu (Lee Kuan Yew School of Public Policy), cho biết. “Chúng tôi cũng vừa làm vừa học, đồng thời đặc biệt chú trọng đến các thông lệ quốc tế tốt nhất,” ông Vũ nói thêm.
Có khả năng làn sóng du khách sẽ dần chững lại. Khi đó, đất nước có thể sẽ đối mặt với tình trạng dư thừa khách sạn và sân bay không được khai thác hết công suất. “Trong tương lai, có thể Việt Nam sẽ gặp phải vấn đề tương tự như Thái Lan—nơi cơ sở hạ tầng du lịch rất dồi dào nhưng lại gặp khó khăn trong việc lấp đầy phòng,” ông Lê nhận định.


Lý Thuyết Văn Học Thực Hành Phê Bình