Hôm nay,  

Theo Bóng Thời Gian Vào Cõi Thơ Của Thy An

25/09/202000:00:00(Xem: 3507)

HINH BIA TAP THO CUA THY AN

Hình bìa tập thơ “Thơ Đi Về Một Góc Đời” của Thy An.


Dường như đối với nhiều người, thời gian chỉ là bước đi thầm lặng và quen thuộc của mọi thứ có mặt trên trần gian trong vận hành liên lỉ của xuân hạ thu đông. Nhưng đối với nhà thơ Thy An, thời gian mang ý nghĩa đặc biệt.

 

“ngày trông thế sự bi hài

đêm mang thiên cổ giải bày chuyện xưa”

 

Hai câu thơ trên được trích từ bài thơ “Lục Bát Tha Hương” trong tuyển tập “Thơ Đi Về Một Góc Đời” được xuất bản vào giữa năm 2020 của nhà thơ Thy An.

Tập thơ dày trên 220 trang với hơn 100 bài thơ. Nhà thơ Thy An đã có trên 6 tác phẩm được ấn hành từ năm 1968 đến nay. Anh có thơ đăng trên nhiều trang văn học như Hợp Lưu, Da Màu, v.v…

Trong tuyển tập “Thơ Đi Về Một Góc Đời” người đọc thấy dấu vết của thời gian có mặt khắp nơi trong các bài thơ. Chẳng hạn, “Bài thơ cho tháng mười một,” “Bài thơ tám chữ đầu năm,” “Bước chân tháng 5,” “Cái nóng bất thường tháng tư,” “Cảm tưởng lạ đầu năm,” “Chiếc xe bò chiều thu,” “Chiều tháng mười một,” “Chờ một ngày…” “Chút buồn hôm nay,” “Cúng thất tuần của bạn,” “Cuối hạ chào đêm,” “Đêm mưa âm lịch đầu năm,” “Độc thoại mùa đông,” “Gối đầu lên đá tháng tư,” “Mùa đông giấu chữ nghĩa,” “Mùa thu ngôn ngữ trụ lại,” “Mùa xuân đợi bình minh,” “Tháng ba như mộng ảo,” “Tháng bảy 2018,” “Tháng chín nhìn mặt trời,” “Tháng giêng treo nỗi buồn,” “Tháng hai, tháng ba ta trở về,” “Tháng sáu lặng lẽ,” “Tháng tám em về,” “Tháng tư giọt mưa buồn,” “Thơ tháng chín,” “Tiễn tháng mười hai,”…

Có lẽ tôi chưa bao giờ đọc một tuyển tập thơ nào mà bóng dáng của thời gian rọi dài theo con chữ như tuyển tập thơ của Thy An. Âm ba và hình ảnh của bốn mùa xuân hạ thu đông, cùng với dấu vết thời gian từng tháng, từ tháng giêng tới tháng chạp, từ Tết ta đến Tết tây dập dìu nối tiếp nhau đi mãi trong thơ của anh.

 

vì thời gian hiếm hoi còn lại

sẽ cạn dần theo năm tháng tiêu hao…

(Thy An, Lời Độc Thoại)

 

Phải chăng vì sợ thời gian “cạn dần theo năm tháng” sẽ làm “tiêu hao” những gì quý giá của đời người, nên lúc nào anh cũng không quên nghĩ đến thời gian.

Nhưng thời gian của Thy An không phải là bước đi biến dịch vô tri của không gian. Nó là bước nhảy của tâm thức quyện tròn theo vũ điệu của thể mệnh con người anh.

Thơ của Thy An chảy theo dòng thời gian đó. Có lúc êm xuôi như cơn nắng quái của buổi chiều tà nơi ngọn đồi thơ mộng. Có khi dạt dào rộn rã như tiếng sóng nơi bãi biển cô liêu. Và cũng có khi trầm lắng mênh mông như ánh trăng huyền ảo của đêm thu lành lạnh ở một góc trời nào xa xăm miền viễn xứ.

Thời gian của Thy An chuyên chở nhiều thứ lắm: kỷ niệm vui buồn, tình yêu được mất, quê hương yêu dấu một thời, hiện thực đất nước tối tăm…

 

một ngày cuối tháng tư

em hãy nhắm mắt tưởng tượng

những con sâu, con dế trên cánh đồng khô cạn

những đền đài lăng tẩm mang những khổ ải

nếu còn can đảm và tình yêu cho nhân gian

em hãy thắp lên chút lửa từ bóng tối

thấy bóng mình in trên tường

lặng lẽ và cô đơn như quê hương…

(Thy An, Nói Cùng Em Cuối Tháng Tư)

 

Quê hương trong thơ của Thy An qua cỗ xe thời gian chứa đầy những ký ức của một thời lịch sử quá khứ oai hùng và những hình ảnh rất thân thiết mà một thời nhà thơ đã cảm nghiệm.

 

nhớ chuyến xe đời cọc cạch chở thúng hoa vào chợ

những người đàn bà tay bế tay bồng

nuôi bao đứa con khôn lớn bên sông

nhớ giọng trầm trầm của thầy, của cô

của cha của mẹ

dạy bài học thuộc lòng

lịch sử anh hùng với những con người ngửa cổ xem thường cái chết

về những pho tượng đồng, khuôn mặt sống mãi với thời gian

về đạo làm người giấy rách giữ lề

tổ tiên từ ngàn xưa đã viết và sống trong nhân cách

nhớ từng khuôn mặt bạn bè ngày xưa bỡn cợt

thoáng chốc hơn năm mươi năm

(Thy An, Những Nỗi Nhớ Đầu Năm)

 

Quê hương trong thơ Thy An còn là một “đất nước điêu tàn…”

 

mảnh quê hương đất nước điêu tàn…

và rồi sẽ còn bao nhiêu cánh cửa khác

khép lại từng nỗi niềm ký ức

trầm luân điệp khúc buồn

vầng trăng buổi tối phù du?

(Thy An, Nơi Ấy)

 

Nhìn cuộc đời qua lăng kính “phù du” nên tình yêu của Thy An cũng “phiêu bồng lãng đãng.”

 

bởi vì em là người lữ hành cô độc

nên anh sẽ đọc em nghe

bài thơ viết bằng hơi thở của đêm

và sương mai buổi sớm

anh sẽ gom lửa từ vạn tinh cầu

thắp lên ngọn nến hồng tàn lụi

chứng tích của trái tim anh

phiêu bồng lãng đãng

rọi xuống đời nhau khoảng tối âm u

(Thy An, Bởi Vì Em)

 

Có lúc nhà thơ trầm tư về thân phận con người và anh đã nhìn ra cái đầu mối cơ bản mà từ đó chúng ta bị quay cuồng trong cõi trần ai. Anh đã thấy rằng tâm thức cuốn trong ngũ uẩn là căn nguyên của mọi vấn đề.

 

mai này huyễn ảo mùa trăng

nhớ chi cổ độ còn chăng bến mờ

ngắn câu, nỗi nhớ thành thơ

dài lời, trăn trở hững hỡ tiếng ca

về đâu tâm thức ta bà

cuốn trong ngũ uẩn mặn mà trần ai

(Thy An, Lục Bát Tha Hương)

 

Ngũ uẩn là năm yếu tố cấu tạo con người: sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Sắc là thân thể vật chất. Thọ là cảm thọ khi năm giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, và thân) tiếp xúc với năm trần cảnh (hình và màu sắc, âm thanh, mùi hương, vị ngọt đắng cay bùi…, xúc chạm). Tưởng là giữ lấy trần cảnh đó trong tâm. Hành là khởi ý niệm. Thức là ý thức nhận biết và phân biệt. Ngũ uẩn là ngục thất giam giữ con người trong cõi trần ai. Cho nên, khi giác ngộ được bản chất không có tự ngã, hay không có tự tánh của ngũ uẩn thì tức khắc giải thoát, như trong Tâm Kinh Bát Nhã có nói rằng khi Bồ Tát Quán Tự Tại quán chiếu năm uẩn đều không thì giải thoát mọi khổ đau – “Quán Tự Tại Bồ Tát hành, thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.”

 

bao năm tháng chẳng hiểu vô thường vi diệu

học tâm kinh ào ạt gió tạt đầu sông

nghe run rẩy con tim nặng chìm vọng động

nhìn áo cà sa trôi nhẹ tựa lông hồng

 

cầm hạt bụi ướt sương đi vào vườn trúc

mở cổng chùa xưa như kẽo kẹt dưới trăng

điều gì đó long lanh trong từng ánh mắt

cười vu vơ thơ gõ nhẹ xuống lưng đời…

(Thy An, Lang Thang Vườn Trúc)

 

Thời gian của Thy An không ra đi biền biệt như mũi tên bắn ra không quay lại, hay như lữ khách đi lạc đường về. Thời gian trong thơ của Thy An là con đường đi về, quay về sau những chuyến đi dài trên hành trình sanh tử trầm luân, cho dù với “nỗi truân chuyên đời.”

 

ta về ấm lại mùa xuân

mưa rơi ướt đẫm nỗi truân chuyên đời

chân như gieo tiếng gọi mời

lần theo bóng hạc mấy lời từ tâm

(Thy An, Trên Tay Kinh Rụng)

 

Hay:

 

ta về ray rứt thiên thu

chân đi xiêu vẹo bến mù cõi xưa

mở ra mấy cửa đại thừa

trên tay kinh rụng lọc lừa phù sinh

vườn em hoa nở một mình

mấy cành sương đọng an bình tâm can

leo thuyền bát nhã lên ngàn

nghe đâu chuyển tiếp muộn màng pháp luân

(Thy An, Trên Tay Kinh Rụng)

 

Dường như đây là bài thơ lục bát duy nhất trong toàn bộ tuyển tập Thơ Đi Về Một Góc Đời của Thy An. Hầu hết các bài thơ đều ở thể tự do. Thơ của anh nhẹ nhàng và không cầu kỳ nên đọc lên thì chữ nghĩa bay thẳng vào tâm ý người đọc. Có điều khá đặc biệt là thơ anh bàng bạc tư tưởng Phật Giáo nhìn thấu suốt vào bản chất cuộc đời và phảng phất hương vị giải thoát.

 

lời kinh xưa rụng xuống nhiệm mầu

bụi phấn thanh xuân bay theo gió lạnh

chợt thấy bóng ngã trên đường vắng

mấy nhịp sầu lên vạt nắng thiết tha

(Thy An, Mưa Trên Đôi Vai Gầy Đạm Bạc)

 

Cho dù cuộc đời có sầu khổ thì cũng nhẹ và mỏng như “bụi phấn thanh xuân” bay theo gió, hay như “vạt nắng thiết tha.”

Góc đời của nhà thơ Thy An là thế!

Cảm ơn Thy An.

 

Tác phẩm Lang Thang Nghìn Dặm Tập 2 của Nguyễn Thị Khánh Minh một lần nữa cho thấy sức làm việc không ngừng nghỉ và tâm hồn cực kỳ thơ mộng của tác giả, nơi ngòi bút của chị hiển lộ sự trân trọng vẻ đẹp ngôn ngữ Việt qua các bài tản văn về nhiều tác giả và tác phẩm...
Mỗi cuối tuần, nếu không có việc gì đặc biệt, tôi thường gặp anh Lê Lạc Giao bên ly cà phê quen thuộc. Chúng tôi ít khi nói trực tiếp về cuốn sách anh đang viết. Câu chuyện thường có tính tản mạn. Anh thường kể về một người bạn vừa mất, một bài thơ cũ bất chợt được nhắc lại, kỷ niệm ở Sài Gòn trước 1975, một lần trò chuyện với Nguyễn Lương Vỵ, một bài thơ tình của Du Tử Lê, rồi từ đó mới lan sang những điều khác.
Thi sĩ Vũ Hoàng Chương là một tác giả quan trọng, đã để lại cho chúng ta một số lượng tác phẩm rất lớn. Thơ ông chứa nhiều ý kín đáo, lại thêm cách diễn tả hàm súc, nên nhiều bài, nhiều câu thuộc loại “không dễ hiểu.” Là một người uyên bác và chịu ảnh hưởng của Hán học từ rất sớm, ông đã dùng khá nhiều điển tích và cũng hay trích dẫn thơ văn cổ khi sáng tác. Những điển tích, thơ văn cổ ấy, nếu không được phân giải ra, sẽ khiến nhiều người đọc, nhất là người ở thế hệ trẻ, khó nắm vững chủ ý của tác giả. Cho tới nay, bên cạnh một số bài viết riêng lẻ mang tính cách ước đoán hoặc với nhận định có phần nào chủ quan của người viết, chưa có một cuốn biên khảo nghiêm túc nào về Vũ Hoàng Chương.
Hồi Ký Tiểu Thuyết Lê Lạc Giao Ngày 19 tháng 9 năm 2026 lúc 4:00 pm Tại Coffee Factory 15582 Brookhurst St. Westminster, CA 714-418-0757
Khi đọc những tác phẩm hồi ký, truyện dài hay chứng từ về các trại tù cải tạo sau tháng 4.1975, điều làm người đọc day dứt không chỉ là sự khắc nghiệt của tù cảnh, mà còn là câu hỏi: làm sao có những người vẫn sống sót, cả về thể xác lẫn tinh thần trong lúc bị tước đoạt tất cả, nhất là tự do.
Tháng 6 vỡ nắng gọi mùa hè xa. Một mùa hạ đến sau nhịp xuân gãy đổ của năm 1975. Lẽ đáng mọi người phải được sống thanh bình, yên ả trong một đất nước đã thống nhất, mọi nỗ lực của toàn dân phải quy về một mục đích chung là xây dựng lại quê hương sau bao đổ vỡ của chiến tranh, thù hận. Thế nhưng tháng 6 năm đó bắt đầu bằng một lời hứa lừa đảo, dối trá nhất trong lịch sử từ Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn: quân cán chính của chính quyền VNCH phải trình diện để học tập cải tạo trong 10 ngày!
Nếu "Làng Sơn Dầu" đại diện cho Ngu Yên trong vai trò người kể chuyện, và tuyển tập thơ "1978-2026" cho thấy ông ở vai trò nhà thơ đi suốt gần nửa thế kỷ, thì "Nhạc Ngoại Quốc" lại giới thiệu một chân dung khác của cùng một người cầm bút: nhà nghiên cứu và người thực hành dịch thuật. Ngay từ trang mở đầu, tác giả đã minh định rõ ràng mục đích của công trình này: đây là tuyển tập mang tính giáo dục, nhằm giới thiệu sự phong phú của âm nhạc thế giới cùng thực hành dịch ca khúc, không nhằm mục đích thương mại. Điều làm nên giá trị đặc biệt của tuyển tập này không chỉ nằm ở số lượng bài hát được chuyển ngữ, mà ở việc Ngu Yên đã xây dựng hẳn một khung lý thuyết bài bản để soi sáng cho từng bản dịch, biến tập sách vừa là một tuyển tập ca từ để hát, vừa là một công trình học thuật thu nhỏ về nghệ thuật dịch ca khúc.
LTS: Buổi Ra Mắt Các Tuyển Tập Thơ, Truyện, Nhạc, Phê Bình Văn Học của Ngu Yên sẽ được tổ chức tại Little Sài Gòn vào chiều Chủ Nhật, 23 tháng 8, lúc 3:30 giờ chiều tại Coffee Factory. Việt Báo và Ngu Yên thân mời quý văn hữu, thân hữu, độc giả đến tham dự, gặp gỡ và hội thoại với tác giả. Trong loạt bài viết sắp tới về chương trình RMS, Vũ Tiến sẽ lần lược giới thiệu những cuốn sách mới sắp "trình làng". Mời bạn đọc cùng bước vào trang sách với bài thứ nhất, về Làng Sơn Dầu.
LTS: Nơi đây sẽ trích dịch theo bản tiếng Anh "Soccer in Sun and Shadow" [Bóng tròn dưới ánh mặt trời và bóng râm] do Mark Fried chuyển ngữ từ nguyên tác tiếng Tây Ban Nha của nhà văn Eduardo Galeano (1940–2015). Galeano là một nhà báo, nhà sử học và nhà hoạt động xã hội nổi tiếng người Uruguay. Galeano từng đoạt nhiều giải thưởng quốc tế, bao gồm Giải thưởng Lannan đầu tiên về Tự do Văn hóa. Sau đây là trích dịch một số đoạn văn.
Tôi không ưa triết lý. Một thời tuổi thơ của tôi là học về triết lý, trực tiếp từ những vị thầy nổi tiếng như Lê Tôn Nghiêm, Nguyễn Văn Trung, LM Kim Định... Nhiều năm sau, tôi khám phá ra mình không ưa triết lý, và chỉ còn thích đọc ca dao (mà phải là lục bát), truyện võ hiệp (mà phải là Kim Dung), và rồi ưa thích sống một đời hồn nhiên, thơ dại (kiểu thiền sư Tế Điên)... và vân vân. Đó là lý do tôi kinh ngạc khi thấy nhà văn Kim Vũ đi theo chiều ngược lại: từ những gì rất thơ mộng, rồi trở về triết lý phức tạp.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.