Hôm nay,  

Nhà Ông Huie

04/09/202110:55:00(Xem: 4217)

 


Trời đang nóng nực oi bức, không khí căng như trong nồi áp suất, rừng cây im phăng phắc không một tí lay động, dù là những cái lá tận ngọn. Thế rồi bầu trời bất chợt kéo mây vần vũ dần dần chuyển sang xám xịt, những giọt nước lắc rắc rơi xuống. Thời tiết những ngày tháng sắp chuyển mùa thất thường quá đỗi, chợt nắng chợt mưa, lúc nóng hầm hập khi thì chợt dịu như thể mùa thu đã về. Thời tiết như vậy làm cho con người cũng uể oải mệt mỏi theo. Với Steven thì những khi cảm thấy uể oải thì chỉ cần chạy bộ vào dặm là lập tức khỏe khoắn ngay. Steven vốn bản chất là con người hoạt động, ít khi nào chịu ngồi yên.

 Chiều nay Steven chạy bộ ở cung đường quen thuộc ở trong công viên này, cả công viên này rộng đến hai trăm mẫu tây. Trước đây nó vốn là điền trang của nhà họ Huie Reynald. Điền trang này có từ trước cuộc nội chiến năm xưa, sau này gia tộc họ Huie Reynald hiến tặng lại cho quận để làm công viên. Steven vẫn thường chạy bộ ở đây, có thể nói là Steven thuộc cả khu này như lòng bàn tay, thậm chí nhắm mắt Steven vẫn có thể đi khắp các lối mòn trong công viên. Steven đến đây mỗi tuần, vui cũng đến, buồn cũng tới, không buồn không vui cũng ghé chơi. Chiều nay vừa chạy được hai dặm thì trời đột nhiên chuyển mưa, mặc dù trước đó không có dấu hiệu gì sẽ có mưa, tin thời tiết cũng chẳng bảo có mưa, ấy vậy mà mưa đã xảy ra. Steven chạy hết tốc lực về hướng hàng hiên của ngôi nhà để trú mưa Hàng hiên ngôi nhà khá rộng, có một để một bộ xích đu và hai cái ghế bập bênh. Ngôi nhà trắng xinh xắn, kiến trúc kiểu thời thuộc địa vẫn còn giữ nguyên vẹn, dù đã tu bổ sửa sang nhiều lần. Steven đứng tựa ban công nhìn quanh quất, đột nhiên thấy cái ghế bập bênh chuyển động như thể có người đang ngồi, lúc đâu Steven không thấy lạ, nhưng chừng giây lát là chột dạ ngay:

“Quái lạ, sao cái ghế tự nhiên bập bênh?” nghĩ thế rỗi Steven quan sát xem thử gió hay có lực nào tác động vào không, tuyệt nhiên không có gì tác động vào cả, gió hiu hiu rất nhẹ không thể làm cho hai cái ghế lắc lư được. Bây giờ thì Steven thấy hơi rờn rợn, quay qua nhìn thẳng vào hai cái ghế thì nó ngưng hẳn lại. Từ bên trong ngôi nhà ánh đèn chợt tắt sáng mấy lần. Steven dán mắt qua lớp cửa kiếng, bên trong cảnh vật bày trí vẫn bình thường, những con thú nhồi bông bày biện khắp nơi. Ngôi nhà của ông Huie năm xưa giờ đã là một phòng trưng bày những tiêu bản các loài động vật và thực vật của vùng đất này.

 Một con cú to lớn màu trắng, đột nhiên quay đầu nhìn Steven, đôi mắt nó tròn đen như hai hột nhãn, cứ như ai đó gắn vào cái mặt bẹt của nó, cái nhìn lạnh tanh mà xoáy vào lòng người ta. Steven nổi da gà, nỗi sợ bắt đầu len lỏi từng tế bào, luồng sóng lạnh lan tỏa từ thần kinh trung ương đi khắp thân. Steven thoáng nghĩ: ”Con cú  nhồi bông không thể cử động được? mình đã nhìn nó bao nhiêu năm nay rồi cơ mà”. Lòng tự nhủ nhưng vẫn nán lại xem thử sao, vả lại trời bắt đầu mưa to nên không thể ra bãi đậu xe được. Steven cũng có ý nghĩ hay là mình hoa mắt hoang tưởng? Có khi nào vì chạy bộ mệt lại gặp thời tiết xáo trộn nên sanh ảo giác chăng? Không cần nghĩ ngợi lâu, trước mắt Steven thấy rõ mồm một, con rắn đen với những khoanh vằn vện to bằng cườm tay, nó đang trườn và quấn quýt quanh cành cây khô, nơi mà nó được định vị vào từ lâu. Mắt nó cũng đen nhưng cái màu đen bóng và hun  hút như lỗ đen, cái lưỡi nó phì phò le ra dài và chẻ hai. Trông con rắn đầy vẻ đe dọa. Steven lùi lại một chút, chỉ trong phút chốc là tất cả những tiêu bản rắn khác đồng loạt ngo ngoe vung vít  dường như chúng muốn thoát khỏi những cái giá trưng bày.

 Steven thật sự sợ, lùi tí nữa thì dừng vì nếu lùi nữa thì vượt ra khỏi mái hiên và sẽ ướt mưa. Trời mưa to như trút nước, bầu trời đen kịt, nước mưa ào ạt xối xả, gió thổi rần rật, gió cuốn nước mưa quất những luồng roi ràn rạt, sấm động ầm ì vọng xuống rền rĩ, những lằn chớp rạch trên nền trời, những tia chớp phóng thẳng xuống đỉnh đồi xa xa. Một con quạ đen to lớn bay vần vũ kêu quang quác đậu trên mái nhà. Steven nổi gai ốc cùng mình, giờ thì nó biết chắc là không phải hoang tưởng hay ảo giác, giờ này cả công viên không có một bóng người, từ hàng hiên này đến bãi đậu xe cũng khá xa. Steven toan chạy ra xe, theo thói quen, nó thọc tay vào túi quần để lấy chìa khóa để khởi động máy xe từ xa, khốn thay, túi quần trống trơn, mấy ngón tay chạm phải đùi của mình, thì ra túi quần bị rách từ khi nào mà Steven không biết, và chìa khóa xe đã rơi tự khi nào. Steven bấn loạn lên, cái sợ xâm nhập tâm tư, tay nó bắt đầu run rẩy, môi lắp bắp:” Chết tiệt, sao lại đễnh đoảng để rơi chìa khóa xe thế này!”. Giây phút thật cân não, biết tính sao đây? Đứng lại thì ghê quá mà chạy ra xe thì không có chìa khóa xe, trời thì mưa như trút nước. Còn quýnh quáng chưa biết làm sao thì ánh đèn trong căn nhà lại chớp tắt liên hồi, qua ánh sáng chớp tắt ấy, Steven thấy bóng dáng một người đàn ông đứng tuổi, mặc bộ complet đuôi tôm kiểu quý tộc thời xa xưa, bộ mặt như làm bằng sáp, bộ ria rậm rạp nhưng tỉa tót cẩn thận, hai chóp ria cong vút lên, bộ râu rìa dày và dài. Cái bóng người đàn ông ấy nhìn Steven chằm chặp. Steven vốn quen biết với mấy người phụ trách ở công viên này đã lâu, chưa bao giờ nhìn thấy người đàn ông này, khi không lại xuất hiện trong căn phòng trưng bày những tiêu bản động thực vật ở đây? Cái bóng dáng người đàn ông này có vẻ quen quen, dù không nhớ ra nổi. Nỗi sợ đang làm cứng người nhưng Steven liên tưởng ngay “Đất cũ người xưa”. Steven chợt nghĩ đến tấm biển lịch sử của Huie Reynald có ghi tiểu sử và hình ảnh ông Huie mà Steven đã đọc và thuộc lòng. Không còn nghi ngờ gì nữa, co giò chạy thục mạng, mặc cho nước mưa quất vào mặt, mặc cho sấm đì đùng trên đầu. Steven quyết phải chạy ra tới bãi đậu xe cho bằng được, mọi việc tới đâu thì tới chứ không thể đứng trú mưa ở hàng hiên này. Chạy không ngoái đầu lại nhưng cảm giác rờn rợn như thể cái bóng ông già có bộ ria mép cong vểnh ấy vẫn ở sau lưng, Một con nai phóng vụt qua trước mặt Steven, làm cho Steven phải khựng lại, xa xa một quãng bên tay phải là khu nhà kho bằng gỗ to lớn lù lù, ngày thường nó  vẫn ở đó, rất hiền hòa thân thuộc, nó đã trải qua bao mưa nắng dãi dầu tháng năm. Nó đơn sơ nhưng đầy nét dâu bể hằn in. Nó  dễ gây thích thú và thiện cảm cho những người hoài cổ, ấy vậy mà giờ trông nó dễ sợ và đầy đe dọa như thế. Nó đen kịt to lù lù dưới ánh chớp lóe lên, những máy móc nông cụ bỏ hoang hoen rỉ hàng trăm năm nay. Steven và bao người khác cũng từng ngồi lên chiếc máy cày này để chụp hình, tất cả quen thuộc đến độ nhắm mắt cũng mô tả đúng từng chi tiết, ấy vậy mà giờ sao trông dễ sợ và kinh khủng quá. Cắm đầu chạy mà Steven  thấy chiếc máy cày ấy vung cái giàn lưỡi cày lên thật cao, nó hoạt động được sau khi bỏ chỏng chơ ngoài trời hàng trăm năm, dường như nó đuổi theo và muốn bổ xuống đầu mình, nó muốn cày nát mình ra. Vẫn chạy không ngừng, nước mưa ràn rạt trên mặt không kịp gạt đi, bãi đậu xe đã gần lắm rồi, cả bãi xe vắng teo, chỉ còn có mỗi xe của Steven mà thôi. Trời đất tối sầm, một tia chớp rạch nát bầu trời, phóng xẹt xuống mặt đất, qua ánh chớp, chiếc xe màu xám bạc quen thuộc nằm dưới làn nước mưa xối xả. Steven hy vọng tới được xe và vào được bên trong là ổn, Steven hoảng quá nên quên khuấy đi là chìa khóa xe đã đánh rơi rồi, dấn thêm vài mươi bộ nữa, Steven chụp được tay nắm cửa xe và giật thật mạnh, cửa xe trơ trơ. Steven quýnh quáng giật cửa xe vừa gào to:” Mở cửa. Mở cửa, làm ơn mở ra” tiếng gào của nó tan loãng trong tiếng mưa dông ào ạt, nước mưa cuốn trôi đi, gió thổi bạt giọng và tiếng sấm ùng oàng không ngừng nghỉ làm cho tiếng gào tan loãng trong âm thanh đầy uy lực đó. Càng hoảng loạn, càng giật cửa xe, trong khi ấy chiếc máy cày đang lừ lừ tiến lại gần. Chiếc máy cày hoen rỉ gần như mục nát hết các bộ phận, thế mà nó vẫn lặng lẽ lù lù lết đến, giàn lười cày đã gãy vài lưỡi, trông nó như hàm răng lởm chởm cái còn cái mất của người già, cái thế của nó có lẽ muốn bổ ập xuống. Steven bấn loạn tột độ, vẫn giật mạnh cửa xe dù nó trơ trơ.

 Một tia sét phóng xuống bãi xe, kế là tiếng sấm kinh hồn rền cả đất trời. Ánh sáng trong ngôi nhà ông Huie vẫn chớp tắt liên hồi, nó thấp thoáng hiện trong màn mưa trắng trời, những tia chớp dường như nối tiếp ngôi nhà với nền trời đen thẫm kia. Ánh sáng chớp liên hồi, bóng dáng người đàn ông mặc complet với bộ ria mép vểnh đứng sát cửa kiếng nhìn y chằm chặp. Sau lưng người đàn ông ấy là cả một bầy cú vọ vỗ cánh, ngúc ngoắc cái đầu, trông chúng như những con rối đang diễn trên sân khấu. Steven há hốc mồm nhìn cảnh tượng đằng sau khung cửa kiếng ấy. Cái sợ làm cho nó cứng đơ cả người và đứng sững dưới cơn mưa, ngay khoảnh khắc ấy, chiếc máy cày bổ sập dàn lưỡi cày xuống đầu  . Nó hét lên với tất cả sự kinh hoàng và sức lực có được.

 Steven choàng tỉnh, mở mắt ra thấy mình đang ngồi trên chiếc ghế bập bênh bên hiên, khu vườn đang rộn ràng với tiếng chim muông. Bất giác Steven nhìn vào trong nhà ông Huie, những con chim cú và rắn nhồi bông vẫn bất động trên giá định vị, Hình ông Huie trên bảng tiểu sử vẫn ở trên tường,  nhìn ra xa xa ngôi nhà kho vẫn lặng lẽ dưới nắng ở giữa mảnh đất trống, xung quanh là những cỗ máy nông cụ rỉ hoen với thời gian.  


TIỂU LỤC THẦN PHONG

Ất Lăng thành, 09/2021

 

Sau mấy tháng hè, hôm nay cô Thúy chào đón học trò lớp Rồng Bay trở lại trường Việt Ngữ Suối Mở. Cô giáo mời học trò kể lại những sinh hoạt trong những ngày nghỉ hè và viết lá thư trong ngày khai trường như lời cảm ơn đến cha mẹ, gia đình. Lớp Rồng Bay rộn ràng kể chuyện. Học trò được cùng ba mẹ, anh, chị, em đi chơi đó đây trong kỳ nghỉ hè. Vài trò theo ba mẹ về Á Châu như Việt Nam, Thái Lan, Đại Hàn. Vài trò khác đi Ý, Hòa Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Mỹ, Thụy Sĩ. Nhân tiện học trò kể chuyện về thăm ông bà nội ngoại ở Việt Nam, cô giáo hướng dẫn cả lớp ôn lại cách gọi họ hàng. Tiếng Đức chỉ đơn giản Onkel và Tante. Còn tiếng Việt, anh, chị, em của cha được gọi khác với anh, chị, em của mẹ. Sau mấy câu hỏi, đáp, học trò phân biệt rành rẽ họ hàng nội, ngoại: cô, chú, bác, dì, cậu...
Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.