Hôm nay,  

Khung Đời Treo Lệch

09/06/202223:59:00(Xem: 2788)



 

“Chưa ngủ à?” Người đàn ông ngưng gõ, những đầu ngón tay nằm hờ trên bàn phím máy điện toán. Đọc lại dòng chữ vừa hiện lên trên màn hình, anh bấm nút gửi và ngồi dựa ra lưng ghế, chờ.

 

“Chưa ngủ mới nói chuyện với anh. Hỏi gì mà ngớ ngẩn.” Câu trả lời hiện ra thật nhanh.

 

Anh loay hoay tìm những nút bấm để gửi đi cái hình khuôn mặt đang cười. Rồi anh nhanh tay gõ dòng chữ, “Em chưa buồn ngủ à?”

 

Anh hỏi vậy bởi giờ này bên cô đã quá nửa đêm rồi.

 

“Buồn ngủ rồi.” Ở đâu đó thật xa, câu trả lời của cô gái bay về, đáp xuống màn hình.

 

“Buồn ngủ sao còn thức?”

 

“Em đi ngủ đây.” Cô gái trả lời, cụt ngủn. Chỉ là những dòng chữ nhưng người đàn ông cũng nghe ra được cái giọng giận dỗi của cô. 

 

Anh gõ vội bàn phím, “Khoan, thức nói chuyện với anh một chút.”

 

“Nói chuyện với anh chán chết.” Cô đáp.

 

Hình dung cái mũi cô chun lại, môi cô trề ra, giận dỗi, anh ghẹo, “Chán mà vẫn cứ phải nói chuyện với anh mới ngủ được.”

 

Hai người vẫn vậy. Thuốc an thần và thuốc ngủ. Hai người là như thế của nhau. Khi trong lòng cô bất an, anh là thuốc an thần cho cô; khi anh mất ngủ, cô là những viên thuốc ngủ cho anh.

 

Bây giờ đang là chiều nơi anh, nhưng đêm đã khuya ở chỗ cô. Lẽ ra giờ này cô đã phải ngủ được mấy giấc rồi mới đúng. Nhưng bị cái tật nhiều chuyện. Họ cứ qua lại như thế. Cho đến khi câu chuyện đang sôi nổi bỗng lắng xuống. Câu anh hỏi hiện lên. Những con chữ đứng một mình. Không có những con chữ từ phía cô quấn quýt, mời chào, níu kéo nhau, lũ chữ của anh chợt bơ vơ. Và lúc ấy người đàn ông biết ở nơi xa lắc xa lơ kia cô gái của anh vừa mới ngủ thiếp đi. Anh hình dung cái Ipad nằm một bên chiếc gối bông, đầu cô nghiêng về phía ấy. Tóc trải loang mặt gối.

 

Anh vẫn thường mơ ước có một lần được đứng bên giường ngắm cô ngủ quên và nhẹ nhàng cúi xuống, kéo tấm chăn đắp cho cô.

 

Hôm nay cô tỉnh táo. Cô kể cho nghe đủ thứ chuyện. Chuyện trong nhà. Bố, mẹ, và bầy em. Chuyện chỗ làm. Ông giám đốc, bà phó giám đốc, mấy con bé nhi nhô ra vào phòng làm việc của ông chủ như đi chợ. Rồi những câu đối thoại qua lại chậm dần. Rồi cô lại ngủ quên như đã nhiều lần ngủ quên. Người đàn ông vẫn để nguyên màn hình với những câu đối thoại dang dở. Cả những câu anh nói một mình. Và anh xoay qua công việc dở dang buổi sáng trong sở làm. Những con số trương mục cuốn lấy nhau rối cả mắt. Tháng này công ty đã sa thải vài nhân viên vì tình hình tài chánh không mấy sáng sủa. Thỉnh thoảng anh cũng thoáng lo âu, không biết khi nào thì tới phiên mình mất việc. Nỗi lo âu ấy không biết chia sẻ với ai. May mà quen được cô.

 

Chợt điện thoại reo vang. Góc màn hình chớp nháy. Cô gọi anh qua messenger. Chuyện này hiếm khi xảy ra. Chắc có chuyện gì bực bội trong chỗ làm khiến cô không ngủ được. Anh cảm thấy như thế. Dù hai người ở cách xa mấy múi giờ, anh vẫn cảm nhận được khi có điều gì đó bất ổn nơi cô. Anh bấm nút nhận. Và khuôn mặt trái soan của cô hiện ra trên màn hình máy điện toán của anh. Hai con mắt nhắm hờ, ngái ngủ.

 

Cô ngồi trên ghế, trước bàn làm việc, đầu hơi cúi ra phía trước, tóc thả xuôi hai bên vai.

 

“Hey!” anh nói, kéo dài cái giọng reo vui.

 

Cô nói ngay, “Em không ngủ được.”

 

“Có chuyện gì phải không?” Anh hỏi và nhìn chăm chú khoảng trống căn phòng phía sau lưng cô. Bức tranh chân dung một cô gái có nét giống cô treo trên tường phía đầu giường. Vách tường vôi màu xanh nhạt hơi tối dưới ánh sáng ngọn đèn bàn nơi cô đang ngồi. Ánh sáng nhá nhem nhưng anh cũng nhìn ra được đôi mắt cô gái trong bức tranh. Đẹp và sáng long lanh, hệt đôi mắt của cô.

 

“Không có chuyện gì hết.” Cô lắc đầu, rồi cô nói loanh quanh chuyện ở chỗ làm. Chuyện đi shopping hôm cuối tuần với con nhỏ bạn lâu lắm mới gặp lại. Và chuyện những con chim thường sà xuống quanh cô khi cô lên sân thượng, mang theo những mẩu bánh mì vụn. Những chuyện ban nãy đã kể cho anh nghe trên tin nhắn.

 

Anh ngồi im lắng nghe cô nói. Chợt trong khoảng nhập nhoạng sau lưng cô lờ mờ một vạt khói đen. Anh ngểnh cổ, nheo mắt nhìn cho rõ. Vệt khói đen cuộn lại rồi xoay vòng. Cháy nhà chăng. Anh nghĩ. Nhưng cũng có thể từ sáng đến giờ, nhìn mãi màn hình mắt anh bị ảo giác. Anh chùi mắt nhìn cho rõ. Chất màu xám tối của khoảng không gian thiếu ánh đèn lập lờ như khói thuốc gom lại dần và tụ lại thành hình dạng. Ô trời, cái bóng mang hình dạng con người. Anh lại dụi mắt, săm soi nhìn. Ai thế này. Quen thân mấy năm trời anh biết chắc không phải chồng của cô. Cô làm gì đã có chồng. Thôi rồi, chắc cô thức khuya nên người nhà của cô lên phòng nhắc đi ngủ sớm, ngày mai còn đi làm đây chăng. Anh lặng im, nhướng cặp lông mày, nhìn chăm chú cái bóng vừa mới lướt qua phía sau lưng cô. Và anh nhận ra bóng một người đàn ông. Ông ta bước đi khập khiễng như thể bị trật khớp cổ chân bên phải. Ánh sáng ngọn đèn chụp thu gọn vào khoảng bàn học của cô nên anh không nhìn rõ được khuôn mặt của gã.

 

Tim anh thắt lại trong lồng ngực.

\

“Em à,” anh ngắt lời cô. Anh muốn nhắc cho cô biết bố hay anh ruột của cô đang có mặt trong phòng, để cô đừng kể ra những chuyện riêng của hai người. Nhưng cô không để ý đến cái nháy mắt, cái nheo mày, cái lắc đầu như của con bệnh động kinh đang biểu hiện nơi anh.

 

Bóng người đàn ông đến sau lưng cô, khuôn mặt và thân hình chìm sâu trong vũng tối, anh cố nheo mắt nhìn nhưng không nhận ra được nét nào quen thuộc của cái hình hài lạ lẫm ấy. Gã đứng tần ngần nhìn cô. Cô vẫn thao thao kể chuyện ăn hàng hôm cuối tuần với con nhỏ bạn lâu lắm không gặp. Cô kể cho anh nghe chuyện con bạn khác đính hôn với người yêu nhỏ hơn nó cả chục tuổi nhưng giàu có nhất nhì thành phố. Giọng cô reo vui. Như thể cô chính là vị hôn thê của gã thanh niên nhà giàu ấy. Anh đưa ngón tay lên miệng, ngúc ngoắc ra dấu cho cô. Cô vẫn không để ý. Trong lúc ấy cái bóng đàn ông khập khiễng lướt qua phía vách tường, gã đứng lại bên bức tranh, nghiêng đầu ngắm nghía. Rồi gã đưa tay sửa cho bức tranh lệch nghiêng qua bên trái. Gã nghiêng đầu theo chiều nghiêng bức tranh rồi gật gù vẻ hài lòng.

 

“Bức tranh trên tường giống em quá!” Anh buột miệng, nhắc nhở.

 

Cô như bừng tỉnh, “Ồ, em đó. Anh thấy giống không?”

 

Anh nhìn cái bóng người đàn ông - phía sau lưng cô - đang nghiêng đầu ngắm nghía bức tranh, rồi những ngón tay mờ đục đưa lên rờ rẫm viền con mắt cô gái trong tranh. Anh nín thở, nói vội, “Giống lắm, nhất là hai con mắt.”

 

Cô ngước lên, với tay bật thêm nút bấm ở ngọn đèn, căn phòng chợt chan hòa ánh sáng. Cái bóng người đàn ông sau lưng cô tan loãng ngay vào vùng ánh sáng trắng xanh ấy. Ở đầu này, anh suýt bật lên một tiếng kêu thảng thốt.

 

Tim anh đập rộn ràng trong lồng ngực. Rõ ràng cái bóng người đàn ông ấy vừa mới đứng nghiêng đầu ngắm bức tranh. Vẻ say mê ấy khiến trong phút giây anh nghĩ đấy là bố hay anh ruột của cô, và người ấy mới nhìn thấy bức tranh lần đầu đã bị cuốn hút bởi ánh mắt con gái hay cô em ruột của mình trong tranh.

 

“Anh thấy giống em không?” cô nhắc, và đẩy ghế, xoay người nhìn về phía bức tranh.

 

“Giống, giống lắm, nhất là đôi mắt... nhưng mà...”

 

“Ông họa sĩ vẽ em đó.”

 

Cô nhắc tên một ông họa sĩ nổi tiếng. Ông này thì anh biết. Nổi tiếng cả trong và ngoài nước. Thiên hạ vẫn ví von ông là Picasso của Việt Nam.

 

“Em ngồi mẫu cho ông ấy vẽ à?” Anh hỏi.

 

Cô đẩy ghế đứng dậy, bước về phía vách tường. Cô đứng ngay chỗ bóng người đàn ông vừa mới đứng. Anh có cảm tưởng nếu không có mái tóc thả ngang lưng, cô chính là cái bóng đàn ông ban nãy. Cô vừa đưa tay sửa cho bức tranh ngay ngắn lại, vừa lắc đầu nói một mình, “Sửa hoài mà nó cứ lệch qua một bên.” Rồi cô chỉ tay vào những chữ nhỏ li ti ở góc khung tranh. “Ông ấy đề tặng em rồi ký tên ở đây nè.”

 

Tim vẫn xốn xang trong lồng ngực, anh lập lại câu hỏi, “Em ngồi làm mẫu cho ông ấy vẽ à?”

 

“Không có đâu.”

 

“Sao giống thế.”

 

“Ông ấy lấy hình em trên Facebook đó.”

 

“Giống quá chừng.”

 

“Ông ấy quý bức tranh lắm. Ông bảo ông ấy vẽ trong phút xuất thần, và có muốn vẽ lại cũng không thể được như vậy nữa. Ông ấy bảo thương em lắm mới cho em bức tranh này. Ông ấy kỳ lắm nghe, lúc tặng tranh ông ấy nhất định bảo phải treo lệch qua một bên bức tranh mới có hồn. Em chẳng hiểu tại sao.” Cô chậm rãi nói, và cô bước trở lại phía bàn học, giọng bỗng dưng buồn thiu, “Em đang buồn chuyện ông ấy đấy.”

 

“Sao vậy?” Anh hỏi, lòng vẫn xớn xác vì cái bóng đàn ông ban nãy trong phòng cô. Những câu hỏi hò hét, xô đẩy nhau trong đầu chỉ chực bung ra cửa miệng. Nhưng anh không dám hỏi. Anh không muốn cô lo lắng. Nên anh lặp lại câu hỏi, “Sao vậy?”

 

Cô ngần ngừ một lúc. Anh kiên nhẫn nhìn sâu vào nét buồn trong đôi mắt. Mắt cô biết nói, và thường thì đôi mắt ấy - như đôi mắt trong bức tranh treo trên tường kia - đầy ắp tin yêu, nhưng hôm nay, giờ này, trong mắt cô u uất nỗi niềm nào đó khó đặt tên.

 

“Chuyện ông ấy... sao hở em?” Giọng anh nôn nóng. Anh nghĩ đến những chuyện trái luân lý vẫn thường xảy ra giữa đàn ông và đàn bà; đến những đòi hỏi ngược ngạo đám nghệ sĩ hay ném cho nhân gian.

 

“Ông ấy bị tai nạn, què một chân, phải ngồi xe lăn, rồi lại dồn dập thêm đủ thứ bệnh, ông ấy bảo khi nhắm mắt, muốn nhìn thấy em, muốn thấy em cười với ông ấy trong phút giây cuối đời, để ông ấy yên tâm ra đi.” Cô thong thả kể cho anh nghe bằng giọng rầu rĩ.

 

Ở nơi này, cách cô mấy múi giờ, anh cảm thấy như có bàn tay lạnh ngắt siết chặt lấy cổ mình. Giọng cô vẫn đều đều như đang rì rầm kinh nguyện, “Ông ấy làm em sợ.”

 

Anh nôn nóng, “Nhưng em có hứa...” 

 

“Không có đâu,” cô ngắt lời anh. “Sợ muốn chết, ai mà dám.”

 

“Không thì thôi, có sao đâu.” Anh trấn an.

 

“Nhưng mà ông ấy vừa mới chết rồi!” Cô nói, nhẹ như đứt hơi.

 

Tim anh chồm lên trong lồng ngực, “Chết rồi à?”

 

“Mới đây thôi. Em mới đọc tin trên Facebook. Mới cách đây hai hôm ông ấy còn gọi điện cho em bảo nhớ treo bức tranh lệch qua bên trái một tí mới được. Ông ấy bảo khung bức tranh cũng như khung đời người, hoặc khung tình ái, phải treo lệch đi một tí, cuộc đời, cuộc tình mới suôn sẻ. Bây giờ em áy náy quá, không biết phải làm sao nữa.”

 

Chủ Nhật 29 tháng 05, 2022

 

Link YouTube: https://youtu.be/8om2V9ZT5PY

 

Sau mấy tháng hè, hôm nay cô Thúy chào đón học trò lớp Rồng Bay trở lại trường Việt Ngữ Suối Mở. Cô giáo mời học trò kể lại những sinh hoạt trong những ngày nghỉ hè và viết lá thư trong ngày khai trường như lời cảm ơn đến cha mẹ, gia đình. Lớp Rồng Bay rộn ràng kể chuyện. Học trò được cùng ba mẹ, anh, chị, em đi chơi đó đây trong kỳ nghỉ hè. Vài trò theo ba mẹ về Á Châu như Việt Nam, Thái Lan, Đại Hàn. Vài trò khác đi Ý, Hòa Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Mỹ, Thụy Sĩ. Nhân tiện học trò kể chuyện về thăm ông bà nội ngoại ở Việt Nam, cô giáo hướng dẫn cả lớp ôn lại cách gọi họ hàng. Tiếng Đức chỉ đơn giản Onkel và Tante. Còn tiếng Việt, anh, chị, em của cha được gọi khác với anh, chị, em của mẹ. Sau mấy câu hỏi, đáp, học trò phân biệt rành rẽ họ hàng nội, ngoại: cô, chú, bác, dì, cậu...
Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.