
Kẻ đi trộm mùi hương
Nguyên Giác
Thú thiệt, xin thú thiệt. Rằng tôi chỉ là một tên trộm. Nếu không thành khẩn nói ra, lương tâm của tôi sẽ bị cắn rứt, sẽ tự cảm nhận như dường là ăn gian. Đã rất nhiều thập niên, tôi chỉ là một tên trộm, nhưng có khi đã giả vờ (và đã từng khéo léo làm như tự tin) rằng tôi là một người hộ pháp tận lực. Khi có một bạn thắc mắc rằng vì sao tôi có thể viết nhiều và nhanh về Chánh pháp như thế, xin nói thiệt rằng tôi chỉ trộm lời Đức Phật, đã chép lại kinh điển, và đôi khi xào nấu cho có vẻ hiểu biết. Do vậy, những gì có giá trị trong các bài tôi viết ra chỉ là ghi lại từ Kinh Phật; những gì không có giá trị chỉ là những gì tôi đưa vào làm gia vị. Và tôi đã hạnh phúc làm một tên trộm như thế. Và là, học nghề trộm hương của Chánh pháp.
Để cho câu chuyện bớt căng thẳng, bạn thử tạm ngưng đọc một phút, hãy bước ra hàng hiên, và hãy hít vài hơi thở. Có phải hơi thở đó đã trộm một làn gió, đã trộm một mùi hương của cây ngọc lan nhà bên, và toàn thân chúng ta đã trộm một hơi mát buổi sớm? Đâu có ai cho chúng ta tất cả những gì mình tự nhận là ta đâu. Toàn thân chúng ta là mượn từ đất, nước, gió, lửa; tất cả tới rồi đi. Vậy mà nhận làm chi những thứ đó là cái của ta, hay cái của tôi, hay bất kỳ cái tự ngã nào.
Cũng như thời nhỏ (và bây giờ cũng thế), chúng ta làm toán rằng 2 cộng với 3 sẽ có kết quả là 5. Rõ ràng, tất cả công thức là thầy cô dạy, và chúng ta trộm lại y hệt công thức đó, không dám làm sai, mà sai là bị rầy liền. Tương tự, khi ta mở Kinh Phật ra trộm nơi này rồi ghép với nơi kia để thành một bài viết, rồi ký tên mình lên, thì hiển nhiên là trộm trắng trợn. Sau đó lại còn gom lại, in thành sách, đưa đi bán như là "sách của tôi" -- tội này con xin nhận với chư Phật, đành phải làm các trò như thế để hoằng pháp nơi cõi này. Dù vậy, tôi vẫn giữ sự lương thiện cần thiết: ghi rõ lời Đức Phật là dẫn ra từ Kinh, ghi rõ lời bổn sư tôi dạy là lời Thầy dạy, và vân vân, cứ như thế. Tôi hạnh phúc là một tên trộm (rất lương thiện), và ước mơ rằng sẽ có rất nhiều kẻ trộm (rất lương thiện) như thế trong cõi này.
Thời còn thơ ấu, tôi say mê đọc tiểu thuyết kiếm hiệp Anh hùng xạ điêu của nhà văn Kim Dung. Trong truyện có một chàng móc túi tử tế, có tên là Diệu Thủ Thư Sinh (anh học trò có bàn tay vi diệu), người thứ nhì của Giang Nam Thất Quái. Tên thật chàng là Chu Thông, thường xuất hiện dưới hình dạng gã học trò nghèo, mặc áo nho sĩ sờn rách, tay cầm quạt xếp, được cho là tinh thông sách vở, túc trí đa mưu và am hiểu chuyện đời.
Wikipedia ghi rằng, Diệu Thủ Thư Sinh Chu Thông có thể lấy đồ trong người của bất kỳ ai dù võ công cao đến đâu mà địch nhân không hề hay biết. Suy nghĩ hoài về nghệ thuật trộm, tại sao anh trộm này lại vào được nhóm 7 người rất mực thiện lành này, một thời gian sau tôi nhận ra rằng người muốn đóng vai hộ pháp như tôi chỉ nên là một tên trộm, và nên trộm lời Đức Phật, trộm lời kinh, trộm lời các vị thầy để làm sáng tỏ con đường tu học cho mình (trước tiên là cho mình) và cho người (hy vọng như thế). Về sau, tôi cũng lờ mờ nhận ra, kinh điển Đại Thừa và Thiền Tông cũng là từ nghệ thuật trộm lời Đức Phật, và ghi rõ là lời Đức Phật tuyên thuyết (có thể từ cõi trời, hay từ trong thiền định). Đó là những gì tôi nhận ra sau nhiều thập niên bản thân tôi trộm lời Đức Phật để viết đủ thứ (con xin sám hối nếu có gì sai nơi đây). Thế đấy, trộm vì lợi ích cho chúng sinh hiển nhiên là một hạnh hiếm gặp.
Nhờ đóng vai trộm lời Đức Phật, tôi viết rất là nhanh. Có thể vài giờ là xong một bài viết, cẩn thận thì vài ngày, một tuần. Hạnh phúc của một kẻ trộm là phải nghiên cứu đường đi, nước bước, do vậy tôi phải đọc nhiều, đọc các trang Phật học tiếng Anh qua điện thoại để xem các đại sư thế giới đã trộm lời Đức Phật ra sao. Tuy nhiên, tôi bận rất nhiều việc hàng ngày, tuy là đã về hưu. Một phần, vì còn làm bán thời gian, đọc và dịch các bản tin thời sự mà cộng đồng Việt cần đọc. Một phần, tôi cũng đang say mê đọc về lịch sử Phật giáo tại VN theo các phân tích của GS Lê Mạnh Thát, một thiên tài thấy được nhiều chỗ cổ sử chưa làm sáng tỏ. Việc phải làm thì nhiều, mà đời người có thể không chắc đủ dài để làm đủ việc muốn làm. Ai biết được, có thể sáng mai là mình tắt thở rồi.
Trong Kinh Phật cũng từng kể về chuyện trộm. Như trong Kinh Pháp Cú, tích truyện về bài Kệ 63, cho thấy hai tên móc túi theo đám đông tới nghe Đức Phật thuyết pháp. Vậy mà, một anh vào được thánh đạo sau khi nghe pháp. Truyện kể rằng, trong thời gian Đức Phật lưu trú tại tu viện Kỳ Viên (Jetavana), một hôm, hai tên móc túi trà trộn vào một nhóm cư sĩ đang trên đường đến tu viện Kỳ Viên để nghe Đức Phật thuyết pháp. Một trong hai tên chăm chú lắng nghe bài giảng và chẳng bao lâu sau đã chứng đắc quả Tu-đà-hoàn (Sotapatti). Tuy nhiên, tên còn lại không hề chú tâm vào bài pháp mà chỉ chăm chăm tìm cơ hội trộm cắp; hắn đã lẻn lấy được một khoản tiền nhỏ từ một người trong nhóm cư sĩ.
Sau buổi thuyết pháp, cả hai trở về và nấu ăn tại nhà của tên trộm thứ hai – kẻ đã lấy được tiền. Vợ của tên này buông lời chế giễu người bạn kia: "Anh khôn ngoan quá nhỉ, đến nỗi nhà chẳng có lấy thứ gì để nấu ăn cả."
Nghe vậy, người bạn kia thầm nghĩ: "Người đàn bà này thật ngu muội mà cứ tưởng mình khôn ngoan." Sau đó, anh cùng một số người thân đến gặp Đức Phật và kể lại sự việc. Đức Phật đã thuyết bài kệ như sau:
Kệ 63: Kẻ ngu mà biết mình ngu thì nhờ đó có thể trở thành người trí; còn kẻ ngu mà lại tưởng mình khôn ngoan thì quả thực đáng gọi là kẻ ngu.
Kết thúc bài thuyết pháp, tất cả những người thân đi cùng người đàn ông ấy đều chứng đắc quả Tu-đà-hoàn.
Bản dịch của Thầy Minh Châu là:
63. "Người ngu nghĩ mình ngu / Nhờ vậy thành có trí/ Người ngu tưởng có trí / Thật xứng gọi chí ngu."
Có một Kinh, gọi là Kinh Kẻ Trộm Mùi Hương, tức là Gandhatthena Sutta (SN 9.14), kể về việc một vị thần rừng cảnh báo một vị sư vì ngửi hoa sen mà chưa được phép. Kinh kể rằng một vị sư sống trong rừng tại xứ Kosala đi đến một cái ao sau bữa ăn và ngửi một đóa sen đỏ chưa được ai dâng tặng. Vị sư thanh minh rằng sư không làm hư hại hay lấy bông hoa đi, và thắc mắc tại sao mình lại bị quở trách trong khi những kẻ thực sự phá hoại hoa hay đào bới rễ cây lại không bị như vậy.
Vị thần đáp rằng những kẻ thô bạo, xấu xa vốn dĩ sẽ chẳng chịu nghe lời khuyên, nhưng một người trong sạch đang nỗ lực hướng tới sự thanh tịnh thì cần phải nhạy bén nhận ra ngay cả những lỗi lầm nhỏ nhặt nhất. Khi vị sư nhờ vị thần tiếp tục cảnh báo mỗi khi mình sơ suất, vị thần đã từ chối và nói: "Ta không sống để phục vụ ngươi, cũng không làm thay công việc của ngươi. Hỡi nhà sư, chính ngươi phải tự biết cách bước đi trên con đường thiện lành."
Kinh này cho chúng ta lời cảnh giác với từng chuyện nhỏ nhặt, ngay cả khi ngửi một mùi hương (thí dụ, hương hoa rừng, hương hoa trong vườn, hương tóc bay...) hễ sơ suất là kiếp sau có thể sẽ phải trả lại. Sẽ không có một "thiên thần hộ mệnh" nào cho từng chuyện nhỏ như thế.
Cũng trong Pháp Cú, tích truyện bài Kệ 344 kể về một cựu Tỳ-kheo vốn là đệ tử của Đại đức Mahākassapa (Ma-ha Ca-diếp) sau khi ra đời đã trở thành một tên trộm. Truyện kể rằng, là đệ tử của Đại đức Mahākassapa, vị Tỳ-kheo này đã chứng đắc bốn tầng thiền (jhāna). Tuy nhiên, một ngày nọ, khi đi khất thực tại nhà người chú, sư nhìn thấy một người phụ nữ và nảy sinh ham muốn mãnh liệt muốn chiếm hữu nàng. Sau đó, ông đã hoàn tục, rời bỏ Tăng đoàn. Khi trở lại đời sống cư sĩ, ông không chịu làm ăn chăm chỉ nên bị chú đuổi khỏi nhà; về sau, ông giao du với một nhóm trộm cướp. Cả nhóm bị chính quyền bắt giữ và bị giải đến pháp trường ở nghĩa địa để hành quyết. Nghĩa là, chứng đắc tứ thiền vẫn có thế đọa như thường.
Đại sư Mahākassapa nhìn thấy người đệ tử của mình khi anh ta đang bị giải đi và dặn dò: "Này đệ tử, hãy giữ tâm an trú vững chắc vào đề mục thiền định." Làm theo lời dạy, anh tập trung tư tưởng và an trú trong trạng thái thiền định sâu lắng. Tại pháp trường, trong khi các đao phủ đang chuẩn bị hành quyết, vị cựu Tỳ-kheo vẫn giữ thái độ vô cùng điềm tĩnh, không hề lộ vẻ sợ hãi hay lo âu. Các đao phủ và đám đông chứng kiến vô cùng kinh ngạc và ấn tượng trước lòng can đảm cùng sự bình thản của người đàn ông này; họ đã tâu lại sự việc với nhà vua và cũng bạch lên Đức Phật. Nhà vua ra lệnh phóng thích người này. Khi hay tin, Đức Phật đã phóng hào quang và hiện thân trước người tù như thể Ngài đang trực tiếp có mặt tại đó.
Sau đó, Đức Phật thuyết bài kệ như sau:
Kệ 344: Đã thoát khỏi khu rừng dục vọng (tức đời sống gia đình), vị ấy tìm đến khu rừng tu tập (tức đời sống Tỳ-kheo); nhưng khi đã thoát khỏi khu rừng dục vọng, vị ấy lại vội vã quay trở lại chính khu rừng ấy. Hãy nhìn xem người đàn ông kia, sau khi đã được tự do lại vội vã lao mình trở lại chốn trói buộc ấy.
Kết thúc bài thuyết pháp, người tù—vốn đang giữ tâm kiên định quán chiếu sự sinh và diệt của các uẩn—đã thấu hiểu bản chất vô thường, khổ và vô ngã của mọi pháp hữu vi, và chẳng bao lâu sau đã chứng đắc quả vị Tu-đà-hoàn (Sotāpatti). Sau đó, ông đến gặp Đức Phật tại tu viện Kỳ Viên (Jetavana); tại đây, ông lại được Đức Phật cho phép gia nhập Tăng đoàn và lập tức chứng đắc quả A-la-hán.
Bản dịch của Thầy Minh Châu là:
344. "Lìa rừng lại hướng rừng / Thoát rừng chạy theo rừng. / Nên xem người như vậy, / Được thoát khỏi buộc ràng. / Lại chạy theo ràng buộc."
Đặc biệt, bất kỳ tên trộm nào cũng cần phải tỉnh thức. Một tên trộm muốn lấy được của cải mà không bị bắt thì phải luôn tỉnh thức, phải chú ý từng bước chân, từng tiếng động, từng ánh mắt của người chung quanh; chỉ một giây phút lơ là, một sơ suất nhỏ, cũng có thể khiến y bị lộ, và bị bắt giữ. Vì vậy, trong lúc hành nghề, tên trộm buộc phải có một sự chú ý rất cao đối với những gì đang xảy ra trong từng khoảnh khắc. Pháp tu chánh niệm cũng bắt đầu từ sự tỉnh thức như thế, nhưng hướng sự tỉnh thức ấy vào chính thân, tâm và những gì đang diễn ra nơi mình. Nghĩa là, chánh niệm để tịnh hóa thân tâm mình.
Người tu tập chánh niệm học cách nhận biết rõ ràng mình đang làm gì, đang nghĩ gì, đang cảm thọ gì, thay vì để tâm phóng đi trong vô thức. Nếu một tên trộm chỉ cần sơ suất một giây là bị bắt, thì người tu cũng cần thấy rằng chỉ một phút thiếu tỉnh thức, tham, sân, si và những thói quen bất thiện có thể len vào tâm mà mình không hay biết.
Chánh niệm vì thế giống như người canh cửa: luôn tỉnh táo quan sát, không để những điều bất thiện tự do đi vào và chi phối đời sống của mình. Nghĩa là, người tu phải vừa là tên trộm, vừa là kẻ canh gác kẻ trộm. Tuyệt vời là Diệu Thủ Thư Sinh. Hạnh phúc là người có thể trộm đươc hương Chánh pháp trong cõi này.
THAM KHẢO:
Kinh SN 9.14 (Trộm mùi hương): https://suttacentral.net/sn9.14/vi/minh_chau
.


Lý Thuyết Văn Học Thực Hành Phê Bình