
ĐỌC “TỔ QUỐC TRĂM NĂM”
Phan Tấn Hải
Tổ Quốc Trăm Năm của nhà văn Lê Lạc Giao – người bạn học cùng thời Đại Học Văn Khoa hơn nửa thế kỷ trước – xuất hiện trước mắt tôi không chỉ là một tác phẩm văn học, mà còn là một mảng ký ức đầy tâm sự của nhiều người cùng thế hệ. Tác giả gọi đây là một "tiểu thuyết hồi ký". Gọi là tiểu thuyết, có lẽ bởi sau nửa thế kỷ dâu bể, ký ức đôi chỗ đã mờ nhạt khó nhớ chính xác, nhưng bản chất của những dòng chữ ghi lại thực tế là một pho hồi ký chân thực rất buồn. Làm sao có thể là hư cấu được, khi lật mở từng trang sách, tôi gặp lại những gương mặt quen thuộc của Khoa Triết năm xưa: Tuệ, Hiền, Kỳ, Tân... Họ là những người bạn học nhiều tài năng và hoài bão, sau bước ngoặt của năm 1975, đã cùng Lê Lạc Giao bước vào những trại tù cải tạo dưới danh phận các sĩ quan của một Miền Nam tự do vừa sụp đổ.
Qua lời kể của nhân vật chính – có tên là Hảo -- người đọc nhìn thấy một thế giới tù ngục nơi nhìn đâu cũng là những hình ảnh bất như ý. Đó là một bức tranh chân thực đến trần trụi, về một thế giới không vui trong các trại tù. Nơi đó, họ suy nghĩ về bản thân và vận mệnh dân tộc. Họ đau đớn, nhưng vẫn rất mực yêu thương nơi họ cùng chia sẻ một tổ quốc chung với những người vùi dập họ. Xin trích lại một đoạn trong Chương 5 của Tổ Quốc Trăm Năm, như lời tự sự của tác giả Lê Lạc Giao: “Tổ quốc trăm năm là thứ tình cảm một đời của những người mang nặng trên vai gánh nợ Việt Nam tự do dân chủ, nhưng lại là những kẻ ngụy quân ngụy quyền của một ngụy tổ quốc đối với kẻ thù chiến thắng họ. Việt Nam chỉ có một, lịch sử Việt Nam cũng chỉ có một thì làm gì có hai tổ quốc. Chỉ có một tổ quốc trăm năm là tổ quốc của một đời người mang tính trường tồn vĩnh cửu. Bất kỳ một người Việt Nam nào lớn lên cũng phải có bổn phận và trách nhiệm đối với tổ quốc trong suốt cuộc đời họ.”
Khi bị đẩy vào thế giới tù ngục truy bức, Hảo và nhiều bạn tù vẫn thường dựa vào một thế giới của ký ức về Truyện Kiều và các truyện võ hiệp của Kim Dung. Họ nhớ tới, và họ kể cho nhau nghe. Chi tiết làm tôi suy nghĩ nhiều nhất là hình ảnh Hảo thường mượn cụ Nguyễn Mạnh Nhụ – một bạn tù vong niên – cuốn Tự Điển Truyện Kiều của Đào Duy Anh để đọc. Giữa chốn ngục tù lạnh lẽo, khi tự do bị tước đoạt, tại sao một cuốn truyện thơ của ba thế kỷ trước lại trở thành một người bạn giấy mực vô hình? Phải chăng Hảo, cũng như nhiều người sĩ quan sau năm 1975, đang bị ám ảnh bởi nỗi cô đơn vạn cổ trong bài thơ Độc Tiểu Thanh Ký của Nguyễn Du:
Cổ kim hận sự thiên nan vấn / Phong vận kỳ oan ngã tự cư.
(Khối hận cổ kim trời khó hỏi / Cái án phong lưu tớ tự mang)
Tại sao những người sĩ quan miền Nam trong những ngày tháng lao lung lại tìm về với Truyện Kiều? Câu trả lời có lẽ nằm ở sự đồng vọng của số phận. Nguyễn Du sinh ra và lớn lên trong một thời nội chiến, gia đình ly tán đôi bờ cung kiếm, bản thân nhà thơ phải nếm trải mười năm gió bụi, có những năm phải trốn sang Trung Hoa. Những người sĩ quan cải tạo sau năm 1975 nhìn vào Nguyễn Du và chợt nhận ra chính bóng hình mình trong cuộc bể dâu ấy.
Ngôn ngữ của Truyện Kiều là ngôn ngữ của vết thương, của những thân phận bất như ý, của ly hương và bị phản bội. Vào trại cải tạo, mất đi chính thể, danh dự bị vùi dập, tương lai mịt mờ không hẹn ngày về, họ thấy mình cũng đang dấn bước vào một thập niên lưu lạc. Các dòng thơ trong Truyện Kiều – những âm vang họ được nghe từ lời ru của mẹ, được ngâm vịnh bên hiên nhà thuở niên thiếu, hay học dưới mái trường xưa – nay như dường trở thành liều thuốc xoa dịu vết thương:
Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa
Bên cạnh những câu thơ trong Truyện Kiều, Tổ Quốc Trăm Năm còn ghi nhận về một không gian văn hóa đặc biệt khác trong tù: tiếng thì thầm kể cho nhau nghe những pho truyện võ hiệp của Kim Dung.
Tại sao lại là Kim Dung giữa bốn bức tường giam? Bởi vì những người sĩ quan thất thế ấy đã tìm thấy hình ảnh mình trong các hiệp khách bước ra từ trang sách. Họ thấy mình trong một Kiều Phong cô độc giữa thù hận triều đình, một Trương Vô Kỵ đứng giữa lằn ranh chính-tà khó phân, một Lệnh Hồ Xung lãng tử bị môn phái ruồng bỏ, hay một Dương Quá, một Tạ Tốn đầy vết thương nhưng ngạo nghễ với đời. Họ đều là những bậc anh hùng tài hoa, mang tài năng lớn nhưng bị bánh xe lịch sử vùi dập, rồi trở thành những kẻ lưu vong, bị triều đình truy đuổi.
Trong không gian truy bức đầy gian nan của trại giam, những câu chuyện về tình huynh đệ của Nhậm Ngã Hành và Hướng Vấn Thiên, hay khí phách xem cái chết nhẹ tựa lông hồng của các hiệp khách đã trở thành một vùng tự do mới. Nơi đó, cai ngục không thể chen vào, và quản giáo không thể tước đoạt. Đó là cách họ lưu giữ ký ức về tình chiến hữu, về danh dự quân ngũ và khí tiết của những chàng trai Miền Nam yêu thương tự do.
Điều nhìn thấy rõ nhất ở những người bạn của tôi trong Tổ Quốc Trăm Năm là họ không nuôi dưỡng lòng căm thù. Giữa dòng thác lịch sử vùi dập mình xuống tận đáy các đợt sóng đau buồn, họ vẫn rất mực yêu thương miền đất và dân tộc đã nuôi lớn họ. Họ nhận ra lịch sử trăm năm của dân tộc dài rộng hơn rất nhiều so với những năm tháng tù đày của cá nhân.
Trong tác phẩm của Lê Lạc Giao, cả Truyện Kiều và thế giới võ hiệp Kim Dung hiện lên như một ký ức văn hóa song song với đời thực. Cả hai thế giới ấy đều nói về thời loạn, nơi quyền lực chính trị và triều đình thường đại diện cho sự bất công, gian ác. Sự tương đồng ấy chạm đúng vào tâm trạng của những người tù sau một cuộc chiến huynh đệ tương tàn kéo dài nhiều thập niên.
Với hầu hết (xin nói rằng hầu hết) các nhân vật trong Tổ Quốc Trăm Năm, đọc Kiều hay kể chuyện Kim Dung trong tù không đơn thuần là hoài niệm văn chương cho vui. Đó là một nghi thức tự nhìn thấy mình đang giữ gìn phẩm giá, là ngôn ngữ ẩn kín để diễn đạt nỗi đau, và là phương cách duy nhất để sống sót về mặt tinh thần.
Thực sự, tôi đã nhìn thấy những năm trong trại cải tạo của các bạn tôi qua lời kể trong tiểu thuyết hồi ký Tổ Quốc Trăm Năm của Lê Lạc Giao: y hệt như thân phận bất như ý của Nguyễn Du sau nhiều thập niên nội chiến và ly tán đã ngồi xuống viết những dòng thơ trong Truyện Kiều. Và tôi nhìn thấy các bạn tôi qua lời kể của các trang sách này cũng y hệt như các nhân vật trong truyện võ hiệp Kim Dung: với nhiều tài năng và hoài bão, họ đã yêu thương say đắm dân tộc mình và đã chọn xông vào một cuộc nội chiến rất mực đau đớn để rồi bị lịch sử vùi dập. Các trang sách của Lê Lạc Giao đã ghi lại những năm trong tù bi thương đó, và đã kể lại trọn vẹn mối tình say đắm và đau đớn của các sĩ quan Miền Nam với tổ quốc của họ.
.
SƠ LƯỢC TIỂU SỬ NHÀ VĂN LÊ LẠC GIAO:
Bút hiệu: Lê Lạc Giao -Tên thật : Lê Tấn Hà. Sinh năm 1951 tại Khánh Hòa Việt Nam. Đại học Văn Khoa ban Triết 1970-1974. Công chức chế độ cũ, sau 30-4-1975 đi tù cải tạo 8 năm. Sang định cư Hoa Kỳ tháng 3/1993. Chuyên viên Dữ Liệu công ty Boeing 22 năm. Về hưu 2017. Cư trú tại Orange County, California. Các bút hiệu khác: Hồ Lạc Hồng, Lê Diên Thủy.
.
Sách đã xuất bản:
- Một Thời Điêu Linh (tập truyện/2013)
- Nửa Vầng Trăng Ký Ức (tập truyện/2015)
- Có Một Thời Nhân Chứng (truyện dài/2018)
- Nụ Cười Buồn Mùa Hè (tập truyện/2020)
- Mùa Địa Ngục (tập truyện 2022)
- Dòng Đời (truyện dài 2023)
- Tổ Quốc Trăm Năm (hồi ký tiểu thuyết 2026)
Tổ Quốc Trăm Năm đã lưu hành ở Barnes & Noble:
.
Thiệp Mời tham dự giới thiệu sách:
TỔ QUỐC TRĂM NĂM
Hồi Ký Tiểu Thuyết
Lê Lạc Giao
Ngày 19 tháng 9 năm 2026 lúc 4:00 pm
Tại Coffee Factory
15582 Brookhurst St. Westminster, CA 714-418-0757
Thân mời các bạn hữu, văn hữu tham dự buổi giới thiệu sách bắt đầu lúc 4 giờ chiều ngày thứ Bảy, 19 tháng 9 dưới sự điều phối chương trình của MC ThụyVy. Tác giả sẽ ký tặng sách và nói về đề tài “Tổ Quốc Trăm Năm“ như là Ý Thức Tổ quốc đặc thù của con người Việt Nam truyền thống. Buổi ra giới thiệu sách với các diễn giả: Vũ Hoàng Thư, Tô Đăng Khoa và Phan Tấn Hải. Âm nhạc giúp vui qua tiếng hát ca sĩ Thương Linh, Thái Hoàng, Lại Tôn Dũng, Băng Tâm (đoàn Lạc Hồng).
Buổi giới thiệu có thức ăn nhẹ, cà phê và wine.
RSVP to [email protected]
PHOTO: Từ trái qua: Lê Lạc Giao, Vương Quang Tuệ, Lê Lạc Giao, Phan Nhật Tân. Ba bạn này cùng học Đại Học Văn Khoa SG trước 1975, cùng là viên chức VNCH, cùng đi tù cải tạo và có mặt trong tiểu thuyết hồi ký Tổ Quốc Trăm Năm.


Lý Thuyết Văn Học Thực Hành Phê Bình