Hôm nay,  

Không Độc Lập, Chẳng Tự Do

17/12/200700:00:00(Xem: 9018)

Mấy ngày qua trên Internet đã có nhiều hình ảnh và tin tức về các cuộc biểu tình của thanh niên Hà Nội, thanh niên Sài Gòn, xuống đường phản đối Trung Cộng xâm chiếm Hoàng Sa, Trường Sa.

Đây là lần đầu tiên mọi người thấy tại Việt Nam, dưới chế độ công an kìm kẹp từ mấy chục năm nay, đã có một cảnh tượng khá hiếm hoi, khá lạ mắt. Đó là các cuộc  “biểu tình»,  với những cánh tay giơ lên, những tiếng hô «đả đảo», những biểu ngữ «phản đối» …

Mặc dầu có giả thuyết cho rằng đây là sự dàn dựng, do xung đột phe phái trong nội bộ kẻ cầm quyền, nhưng phải nói nhiệt huyết của thanh niên Việt Nam, của tuổi trẻ trong nước, hình như vẫn còn tồn tại, còn tiềm tàng, và đã có dịp bùng lên trước nỗi nhục ngoại xâm.

Thật vậy, người dân đã phải đứng lên, phản đối ngoại bang và thực sự bất bình trước cảnh đớn hèn nhu nhược, quị lụy thần phục quan thầy Bắc Kinh của tập đoàn Cộng Sản Hà Nội. Họ đã nhận chân được khẩu hiệu rỗng tuếch «Không có gì quí hơn Độc Lập-Tự Do» chỉ là sự lừa bịp của Hồ Chí Minh và đồng bọn. Sau bao nhiêu thảm kịch gây ra cho đất nước, người dân chẳng hề thấy Tự do. Còn Độc lập thì chưa bao giờ Cộng Sản Việt thoát ra khỏi cảnh lệ thuộc ngoại bang Phương Bắc. Ải Nam Quan đã mất. Thác Bản Giốc chẳng còn. Rồi đến Hoàng Sa, Trường Sa… Ngày Việt Nam trở thành quận lỵ của Trung Cộng chắc cũng không xa!

Thành ra, sau nửa thế kỷ đau thương chết chóc, Tự do chẳng hề có, mà Độc lập cũng chẳng còn! Thật là mỉa mai! Không biết giới trẻ Việt Nam có ý thức được điều nghịch lý này.

Nhiệt huyết xuống đường của thanh niên trong nước phải chăng là chỉ dấu báo hiệu, cho thấy một niềm hy vọng chưa tắt hẳn"

Niềm hy vọng đó là sự nhịn nhục của người dân Việt không phải là vô hạn định. Họ đã biết bất bình trước cảnh ngoại xâm. Hy vọng rằng rồi đây họ cũng sẽ biết bất bình trước cảnh «nội xâm». Sẽ vùng lên, không nhẫn nhục chịu đựng mãi, cảnh hàng ngày bị đè đầu cưỡi cổ, bị tước đoạt hết mọi quyền tự do cơ bản của con người. Không chấp nhận mãi, một tập đoàn cầm quyền độc tài tham nhũng bất lực, gồm vài chục tên có quyền có thế, tự tung tự tác, tự phong quyền sinh sát vĩnh viễn lên tám chục triệu dân.

Trong khi người dân Việt nhẫn nhục chịu đựng độc tài công an trị từ mấy chục năm nay, thì nhìn quanh thế giới gần đây, tại các quốc gia mà dân trí chẳng hơn gì Việt Nam, người dân của họ đã biết vùng lên, không chấp nhận kẻ cầm quyền độc đoán.

Phải chăng họ can đảm hơn người Việt Nam"

Thực vậy, ai cũng phấn khởi khi thấy người dân tại những nước này đã dũng cảm, rần rộ xuống đường, phản đối chống trả, bất chấp sự đàn áp của các tập đoàn thống trị. Nhưng lại không khỏi buồn tủi bất nhẫn, khi chạnh nghĩ đến số phận người dân Việt, cho đến nay vẫn im lìm, an phận cam chịu, trước sự đè nén của bạo quyền. 

Trước hết là hình ảnh hàng ngàn sư sãi Miến Điện đi biểu tình như thác lũ, phản đối đám quân phiệt thống trị. Mặc dù sau đó họ bị đàn áp đẫm máu, lòng can đảm của họ đã khiến cả thế giới phải cảm phục. Cộng đồng quốc tế đồng thanh lên án, cô lập chế độ độc tài.

Rồi đến cảnh tượng dân chúng tại Pakistan, tại Nga, tại Venezuela … xuống đường hò hét, phản đối, chống lại kẻ cầm quyền. Họ chưa thành công nhưng các chế độ toàn trị tại đây đã phải trùn bước, không dám thẳng tay, tự tung tự tác.

Tướng Musharraf phải bãi bỏ thiết quân luật tại Pakistan, rời khỏi quân đội để có thể tái ứng cử. Trùm Mật vụ Nga Putin không dám thẳng tay đàn áp đối lập, phải thả lãnh tụ phản kháng Kasparov, dẹp bỏ tham vọng ngồi lì thêm một nhiệm kỳ. Tại Venezuela, người dân đã xuống đường, không chấp nhận mưu toan làm «tổng thống suốt đời» của  Hugo Chavez.

Các thể chế độc tài không khi nào có thiện chí thực thi Dân chủ. Chúng chỉ nhượng bộ trước áp lực của đường phố, trước phản kháng của toàn dân. Người dân tại các nước vừa kể đã chứng tỏ sự quyết tâm của họ. Lòng dũng cảm đã bột phát mặc dầu bị kẻ thống trị đè nén lâu dài.

Sau này, nếu họ có cuộc sống xứng đáng, có Tự do, Dân chủ, là dĩ nhiên, là kết quả gặt hái được do lòng quả cảm của họ.

Câu thành ngữ tiếng Anh càng thấm thía!  “Freedom is not free!». Tự Do phải trả giá, không thể được “cho không”!

Vậy thì so sánh với các dân tộc vừa kể, phải chăng người dân Việt chưa chịu “trả giá”, chưa dám nổi dậy lật đổ độc tài vì thiếu can đảm"

Phân tích tâm lý của quần chúng nổi dậy, dĩ nhiên yếu tố “can đảm” là cần thiết. Nhưng một yếu tố khác không kém quan trọng cũng góp phần. Đó là sự “ý thức”. Phải ý thức được tính “cần thiết” của Dân chủ. Phải ý thức được “sự nhục nhã” khi bị tước đoạt hết các quyền cơ bản của con người, như tự do phát biểu, hội họp, như tự do báo chí, công đoàn …. Không nhận thấy Dân chủ là cần thiết, không cảm thấy nhục nhã khi bị tước đoạt hết quyền Tự do, thì cũng rất khó khơi dậy “lòng can đảm”.

Người dân dưới các thể chế toàn trị, đôi khi không thiếu can đảm, mà chỉ vì chẳng có khái niệm gì về Dân Chủ, về Tự Do, những điều hoàn toàn xa lạ đối với họ. Tâm lý quần chúng như vậy đã là những môi trường rất béo bở cho tập đoàn độc tài kéo dài ách thống trị.

Tại những nước Phương Tây, sở dĩ nền Dân chủ được bảo toàn lâu dài, là vì người dân có ý thức rất cao về các quyền tự do cơ bản của con người. Họ quyết tâm gìn giữ, không chấp nhận cho kẻ nào xâm phạm các quyền căn bản này. Họ ý thức được rằng đây là quyền tối thiểu phải có, và cảm thấy nhục nhã nếu bị tước đoạt.

Từ chỗ biết “ý thức”, biết “nhục nhã”, mới dẫn đến sự quyết tâm, mới dẫn đến lòng can đảm.

Những tập đoàn thống trị tại Trung Hoa, Việt Nam, ngoài việc dùng công an nhà tù gây sợ hãi trong quần chúng, còn áp dụng chính sách giáo dục ngu dân, bưng bít thông tin, để người dân chẳng còn ý thức được những quyền lợi cơ bản chính đáng của mình. Từ đó chẳng thể khơi dậy sự quyết tâm, lòng can đảm, để vùng lên tháo gỡ gông cùm.

Cho nên, đánh động ý thức Dân chủ nơi người dân, vạch trần, tố cáo, các vi phạm Nhân quyền của chế độ, vẫn là những bước quan trọng, trong tiến trình dẫn đến sự trút bỏ ách độc tài.

Hiện thời, với các phương tiện truyền thông điện tử hiện đại chưa từng có, đây là cơ hội ngàn vàng để thông tin, để thức tỉnh người dân dưới các thể chế độc tài. Đây là vũ khí sắc bén nhất để chọc thủng “bức tường dối trá, ngu dân” mà các chế độ toàn trị dựng lên giam hãm người dân.

Ngày nay người dân Việt trong nước đang bị trấn áp, bị bịt miệng, chưa thể lên tiếng. Cộng Đồng hải ngoại có bổn phận phải hỗ trợ, phải lên tiếng thay họ. Sự chống đối tập đoàn độc tài Hà Nội của người Việt hải ngoại, sự tố cáo liên tục, phanh phui trước quốc tế, là những hành động khôn ngoan, sáng suốt, cần duy trì.

Trái với sự chê bai, chỉ trích của một số người ác ý, hiện nay, hơn lúc nào hết, chưa bao giờ việc “Chống Cộng bằng mồm” lại hữu hiệu, lại cần thiết như vậy!

Thụy Sĩ, Tháng 12. 2007

Giáo hội xin tán thán tinh thần hộ đạo và tu đạo của quí Thiện nam Tín nữ trong hoàn cảnh tai ương đầy kinh hãi hiện nay. Tất cả năng lực và công đức lớn lao này của người đệ tử, chúng con xin dâng lên cúng dường đức Thế Tôn trong ngày Đản sinh. Hàng trăm ngàn trái tim, hàng vạn ngàn bàn tay siết chặt giữa những thương đau tràn ngập của nhân loại, chúng con nguyện quán chiếu thật sâu sự khổ nạn hiện nay để kiên nhẫn mà vượt qua.
Có lẽ cả Trung Cộng lẫn Hoa Kỳ đều không mong muốn việc khơi mào cho một cuộc xung đột vũ trang, nhưng trước thái độ xác quyết của tổng thống Joe Biden, Trung Cộng hiểu rằng họ đang đối đầu với một đối thủ nguy hiểm gấp bội lần so với những năm qua.
Với chế độ độc đảng toàn trị hiện hành, với bộ máy tam trùng hiện tại, với văn hoá tham nhũng hiện nay, và với chủ trương cấm tự do báo chí cố hữu … thì chuyện sống được bằng lương mãi mãi chỉ là một kỳ vọng xa vời. Vô phương thực hiện!
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
Khách đến Việt Nam ngày nay thấy nhiều nhà cao cửa rộng, xe chạy chật đường hơn xưa. Nhưng đa số người Việt Nam có vẻ không có cái nhu cầu dân chủ của người Myanmar hay người Hồng Kông. Hay là họ có, nhưng 20 năm chiến tranh đã làm họ mệt mỏi, xuôi xị chấp nhận chút đầy đủ vật chất, nhắm mắt với tương lai? Và Đảng Cộng sản Việt Nam có thể hy vọng người Việt sẽ ngoan ngoãn như người dân Bắc Hàn, không cần dự phần tự quyết cho tương lai của mình và con cháu mình?
Ngày 30/4 năm thứ 46 sau 1975 đặt ra câu hỏi: Còn bao nhiêu năm nữa thì người Việt Nam ở hai đầu chiến tuyến trong chiến tranh mới “hòa giải, hòa hợp” được với nhau để thành “Một Người Việt Nam”? Hỏi chơi vậy thôi chứ cứ như tình hình bây giờ thì còn mút mùa lệ thủy. Nhưng tại sao?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.