Hôm nay,  

Ngày Nhớ Ơn Cha

13/06/200900:00:00(Xem: 6174)
NGÀY NHỚ ƠN CHA
Tuyết Mai
Theo truyền thống văn hóa Việt Nam nói riêng và của Á Đông nói chung , con cái được cha mẹ  và nhà trường dạy dỗ từ thuở ấu thơ:
 “Công cha như núi Thái  Sơn,
Nghĩa Mẹ như knước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.
 Những tình cảm thương yêu, quý trọng , hiếu thảo với cha mẹ của người Á Đông được bộc lộ một cách thầm lặng,  quanh năm suốt tháng chứ không chỉ có một ngày trong năm. 
Còn Tây Phuơng và Hoa Kỳ, có Ngày Cho Mẹ (Mother’s Day),  Ngày  Cho Cha (Father’s Day) vì thường ngày mọi người rất  bận rộn với việc học hành, công việc làm ăn sinh sống, tình cảm thương yêu cha mẹ được đặt ở trạng thái thụ động, nên cần có một ngày đặc biệt để nhắc nhở con cái nhớ đến công ơn  cha mẹ, đây cũng là một truyền thống tốt đẹp.
Nếu so sánh  “Ngày cho Mẹ” và “Ngày cho Cha” thì chúng ta thấy có một sự khác biệt. Ngày Cho Mẹ được nhiều đoàn thể cũng như nhiều cá nhân  tổ chức để vinh danh hiền mẫu hơn Ngày Cho Cha.
Trong văn thơ, ca dao Việt Nam cũng có không biết bao nhiêu bài ca ngợi tình mẹ thiêng liêng, bao la như trời cao, bể rộng.  Còn thi nhạc ca ngợi tình cha thì rất hiếm hoi, gần như không tìm thấy trong những tập thơ của những nhà thơ nổi tiếng trong  văn đàn VN.
Tại sao" Có phải vì Cha không thương yêu, không lo lắng cho con cái như người mẹ" Hay vì Cha   là  đàn ông, tính tình trầm lặng, ít  bộc lộ,  không gần gũi với con cái nên con  cái  ít cảm nhận đựơc tình thương như từ trái tim của mẹ - một kỳ quan của vũ trụ"
Sự thực thì trong sự sinh thành  dưỡng dục con cái, công lao cũng như lòng thương yêu lo lắng cho con của người cha cũng bao la như của người mẹ.
Tưởng cũng nên nhắc lại lịch sử và ý nghĩa của “Ngày Cho Cha” ở Hoa Kỳ. Theo tài liệu thì người đề xướng “ Ngày Cho Cha”  (Father’s Day) là bà Sonora Smart Dodd ở Spokane, Washington State. Bà có ý nghĩ nên có một ngày  đặc biệt cho cha trong lúc nghe thuyết giảng về Ngày  Cho Mẹ năm 1909.
Mẹ của Bà đã mất khi sinh đứa con thứ sáu.  Bà được nuôi dưỡng bởi người cha là Ông William Jackson Smart , một cựu chiến binh của Civil War. Ông Smart  đã nuôi dưỡng sáu đứa con  ở vùng nông trại phía Tây tiểu bang Washignton. Khi lớn lên Bà Dodd mới nhận thức được sự hy sinh vô cùng của cha,  Bà muốn cha của Bà biết ông là người rất đặc biệt đối với bà. 

Cha của bà sinh vào Tháng Sáu nên bà đã chọn  “Ngày  Cho Cha”  đầu tiên  vào ngày 19  Tháng 6, 1910 ở Spokane, Washignton State.  Cùng lúc đó nhiều người ở nhiều nơi trong tỉnh và các thành phố ở Mỹ bắt đầu tổ chức ngày cho cha. Năm 1924 Tổng Thống Calvin Coolidge ủng hộ việc công nhận ngày cho cha trên toàn quốc.
Năm 1926 “A National Father’s Day Commitee” được thành lập ở New York. Ngày này được công nhận bởi  “A Joint Resolution of Congress”  vào năm 1956. Năm 1966 Tổng Thống Lyndon Johnson ký  bản văn thư  công nhận Chủ Nhật thứ ba của Tháng Sáu là ngày”Father’s Day”. Ngày này không phải chỉ để vinh danh người cha, mà bất cứ người nào đã thay thế vai trò của ngừơi cha trong sự nuôi dưỡng, giáo dục con cái như cha nuôi, chú bác, ông nội, ông ngoại…
Ngày nhớ ơn Cha được hình thành từ sự biết ơn của một người con gái đã nghĩ đến công lao của cha mình. Tất cả những người cha đáng được con cái nhớ ơn vinh danh trong ngày đặc biệt này.
Đất nước Việt Nam chìm đắm trong  chiến tranh bao nhiêu năm, theo sau là những năm tháng bị đọa đày trong ngục tù Cộng sản,  Hoa Sơn đã nhớ lại  hình ảnh người cha qua mấy vần thơ:
“Vẽ mặt trầm tư đượm nét buồn
Thường ngồi lặng lẻ lúc mưa tuôn
Bao nhiêu u ần chìm trong mắt
Sầu héo lên nhau tựa sóng cuồng
Ngày trước cha tôi rất đẹp trai
Phiêu lưu mạo hiểm những năm dài
Bốn vùng chiến thuật giày in gót
Nào biết giờ đây phải đắng cay
Cha tôi buồn lắm nhưng người dấu
Tối tối bên tôi cố mĩm cười
Kể lại tôi nghe ngày tháng cũ
Kỷ niệm buồn đau chốn ngục tù.”
(Cha tôi – Hoa Sơn)
Trong hoàn cảnh ly hương, lưu lạc phương trời,  nhiều người Việt Nam đã  không đựơc kề cận  mẹ  cha lúc tuổi già. Ước muốn cuối đời của cha mẹ  là được gặp mặt lại tất cả các con trước khi nhắm mắt. Đó là một ước mơ nhỏ bé, đơn giản nhưng nhiều người không thể thực hiện đựơc, đã để lại  niềm đau không nguôi  trong lòng không biết bao nhiêu nguời tha hương nhất là trong ngày nhớ ơn cha:
“Van cha, cứ thế, con ngồi lặng
Nói sao, hà cớ chẳng về thăm
Thâm ân cha mẹ cho đời sống
Cân thước đâu đo nỗi vô cùng
Lỡ có là chim, còn hiểu được
Vì đâu biền biệt tận chân mây
Làm kiếp người sao con chọn nghiệp
Dang cánh bay tít tắp đường dài"
Sớm nay tin vội: Cha yên ngủ
Nhắm mắt rồi chưa thấy mặt con
Mơ hồ nghe tiếng cha trong gió
Con con ơi  bất hiếu chưa từng!
Cố dõi mắt trông  ngoài vô tận
Thấy gì đâu người khuất núi xa
Chỉ thấy bóng con đầu cúi xuống
Tay run run bưng mặt đầm đìa
Hồn thương tiếc gữi cùng nhang khói
Tro bụi: cha, vừa rắc xuống sông
Nước chảy dòng xuôi hay ngược lại
Cha còn nghe tiếng thở dài con"
“Cha Còn Nghe Tiếng Thở Dài Con"”  ( Nguyên Nghĩa)

Cơn mưa phùn đêm qua còn đọng nước trên đường. Gió thu đã về. Lá vàng theo gió lác đác vài chiếc cuốn vào tận thềm hiên. Cây phong đầu ngõ lại chuẩn bị trổ sắc đỏ ối như mọi năm. Người đi xa từ những mùa thu trước, sẽ không trở về. Những người bạn lâu không gặp, thư gửi đi bị trả lại, nhắn tin điện thoại không thấy trả lời. Có lẽ cũng đã ra đi, không lời từ biệt. Đã có những cuộc ra đi rất lặng lẽ từ gần hai năm qua, không chỉ ở nơi đây, mà ở khắp toàn cầu. Ra đi bất ngờ, ra đi nhanh chóng. Không hoa tang. Không lễ nghi tôn giáo. Không lời ai điếu. Những túi bọc thi thể chất vội vào những thùng xe đông lạnh. Những thi hài quấn vải hoặc cuộn trong manh chiếu được chất trên những giàn củi, hỏa thiêu. Những chiếc quan tài được chôn lấp vội vàng trên đất công, với bia mộ đơn giản, không hình ảnh, ghi tên tuổi của một người già bệnh hay một người trẻ cường tráng, một người quyền quý hay một người bần cùng vô danh… Tất cả những người ra đi ấy, từ những nơi chốn khác nhau, thành thị hay
Hoá ra không phải chùm khế nào cũng ngọt. Quê hương, đôi khi, cũng thế. Cũng chua chát và đắng nghét đối với rất nhiều người mà tôi (chả may) là một. Cùng cả triệu dân Việt khác, tôi cũng đã có lúc hốt hoảng đâm sầm ra biển (dù không biết bơi) khi tóc hãy còn xanh. May mắn, tôi thoát chết. Lên lại được bờ, tôi đi lang thang tứ xứ cho mãi đến khi tóc đã đổi mầu nhưng vẫn chưa bao giờ trở về cố lý. Có kẻ tưởng là tôi chảnh, có mới nới cũ, có trăng quên đèn, quên cả cố hương. Không dám chảnh đâu. Tôi bị chúng “cấm cửa” mà!
Dù vậy, tôi vẫn cũng còn có đôi chút suy nghĩ lăn tăn. Hay nói theo ngôn ngữ của thi ca là vẫn (nghe) “sao có tiếng sóng ở trong lòng.” Chúng ta có nhất thiết phải đốt cả dẫy Trường Sơn, phải hy sinh đến cái lai quần, và hàng chục triệu mạng người – thuộc mấy thế hệ kế tiếp nhau – chỉ để tạo nên một đống bùn bẩn thỉu nhầy nhụa như hiện tại không?
Một sự trùng hợp về thời gian 20 năm trong chiến tranh Việt Nam đã lập lại ở Afghanistan vào ngày 15/08/2021 với hình ảnh chiếc trực thăng di tản người Mỹ chạy thoát từ nóc Tòa Đại sứ Mỹ trong lúc phiến quân Taliban đã chiếm dinh Tổng thống không tốn một viên đạn, ngay sau khi Tổng thống Ashraf Ghani bỏ trốn ra nước ngoài.
Mùa Vu Lan hiếu hạnh – báo ân cha mẹ – là truyền thống lâu đời của người con hiếu thảo nhưng làm sao tạo được một cơ hội chia sẻ, an ủi và liên tưởng đến mặt phản diện của những đứa con bất hiếu chưa gặp duyên lành để biết ăn năn sám hối trở về với cha mẹ.
Nhận định của một số giới chức quân sự và chính trị cho đó là thất bại về tình báo từ phía Hoa Kỳ đã đánh giá sai về bộ đội cộng sản Bắc Việt trong chiến tranh Việt Nam, nay lại sai về quân Taliban ở Afghanistan khiến Mỹ phải vội vàng di tản. Hình ảnh máy bay trực thăng di tản người Mỹ và những người đã hợp tác với Hoa Kỳ ra khỏi Sài Gòn cuối tháng Tư 1975 và ngày 15/8 vừa qua ra khỏi Kabul sẽ còn in dấu trong tâm thức người Mỹ và dư luận thế giới trong nhiều năm.
Trên Bloomberg Opinion ngày 26 tháng 04 năm 2021, một trong hai tác giả là Cựu Đô đốc James G. Stavridis, trình bày kịch bản này trong bài “Four Ways a China-US War at Sea Could Play Out” mà bản dịch sau đây sẽ giới thiệu. Theo Stavridis,“bốn điểm nóng” mà Hải quân Trung Quốc có khả năng tấn công là eo biển Đài Loan, Nhật Bản và Biển Hoa Đông, Biển Hoa Nam và các vùng biển xa hơn xung quanh các nước Indonesia, Singapore, Australia và Ấn Độ. Nhưng nguy cơ cao nhất là Đài Loan.
Đó là lý do cần nhắc sơ lại Hòa Ước Doha 2020, bởi nếu xem chính phủ Afghanistan là một "đồng minh" của Hoa Kỳ thì đồng minh này đã bị phản bội và bức tử ngay tháng Hai năm 2020 theo sau Hòa Ước Doha của nội các Donald Trump ký với Taliban chứ không phải hôm nay. Liệu có cần nhắc lại hòa đàm Paris vào năm 1973 đã dẫn đến sự sụp đổ báo trước của miền Nam Việt Nam vào tháng Tư năm 1975? Và giới sử gia thường nhắc lại vai trò của tổng thống Richard Nixon và Ngoại trưởng Henry Kissinger trong việc bỏ rơi Nam Việt Nam chứ không phải tổng thống Gerald Ford, vị tổng thống Mỹ đương nhiệm năm 1975.
Theo dõi tin tức từ quốc gia này, tấm lòng của chúng tôi hướng về người dân Afghanistan và những người tị nạn đang bị buộc phải bỏ trốn để giữ mạng sống. Hơn nữa, chúng tôi tha thiết quan ngại đến số phận của hàng triệu phụ nữ và trẻ em gái của xứ sở này, vì họ phải đối diện với một tương lai đen tối khi gặp trở lại sự đối xử tàn tệ của nhà nước Taliban.
Vốn ham vui, và rất chóng quên nên mẹ tôi ở lại luôn trong Nam cả năm trời. Hệ quả (hay hậu quả) là tôi cất tiếng khóc chào đời tại Sài Gòn. Khi hiệp định đình chiến được ký kết tại Geneve, vào ngày 20 tháng 7 năm 1954, tôi mới vừa lẫm chẫm biết đi. Cũng mãi đến lúc này bà má mới “chợt nhớ” ra rằng mình còn mấy đứa con nữa, đang sống với ông bà ngoại, ở tuốt luốt bên kia vỹ tuyến. Thế là tôi được bế ra ngoài Bắc, rồi lại được gồng gánh vào Nam (cùng với hai người chị) không lâu sau đó. Nhờ vậy (nhờ ra đời trước cái đám Bắc Kỳ con sinh trong Nam đôi ba năm) nên từ thuở ấu thơ tôi đã được nghe nhiều bài hát ca ngợi tình bắc duyên nam – qua radio – vào thời điểm đó
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.