Hôm nay,  

Ngày Nhớ Ơn Cha

13/06/200900:00:00(Xem: 6205)
NGÀY NHỚ ƠN CHA
Tuyết Mai
Theo truyền thống văn hóa Việt Nam nói riêng và của Á Đông nói chung , con cái được cha mẹ  và nhà trường dạy dỗ từ thuở ấu thơ:
 “Công cha như núi Thái  Sơn,
Nghĩa Mẹ như knước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.
 Những tình cảm thương yêu, quý trọng , hiếu thảo với cha mẹ của người Á Đông được bộc lộ một cách thầm lặng,  quanh năm suốt tháng chứ không chỉ có một ngày trong năm. 
Còn Tây Phuơng và Hoa Kỳ, có Ngày Cho Mẹ (Mother’s Day),  Ngày  Cho Cha (Father’s Day) vì thường ngày mọi người rất  bận rộn với việc học hành, công việc làm ăn sinh sống, tình cảm thương yêu cha mẹ được đặt ở trạng thái thụ động, nên cần có một ngày đặc biệt để nhắc nhở con cái nhớ đến công ơn  cha mẹ, đây cũng là một truyền thống tốt đẹp.
Nếu so sánh  “Ngày cho Mẹ” và “Ngày cho Cha” thì chúng ta thấy có một sự khác biệt. Ngày Cho Mẹ được nhiều đoàn thể cũng như nhiều cá nhân  tổ chức để vinh danh hiền mẫu hơn Ngày Cho Cha.
Trong văn thơ, ca dao Việt Nam cũng có không biết bao nhiêu bài ca ngợi tình mẹ thiêng liêng, bao la như trời cao, bể rộng.  Còn thi nhạc ca ngợi tình cha thì rất hiếm hoi, gần như không tìm thấy trong những tập thơ của những nhà thơ nổi tiếng trong  văn đàn VN.
Tại sao" Có phải vì Cha không thương yêu, không lo lắng cho con cái như người mẹ" Hay vì Cha   là  đàn ông, tính tình trầm lặng, ít  bộc lộ,  không gần gũi với con cái nên con  cái  ít cảm nhận đựơc tình thương như từ trái tim của mẹ - một kỳ quan của vũ trụ"
Sự thực thì trong sự sinh thành  dưỡng dục con cái, công lao cũng như lòng thương yêu lo lắng cho con của người cha cũng bao la như của người mẹ.
Tưởng cũng nên nhắc lại lịch sử và ý nghĩa của “Ngày Cho Cha” ở Hoa Kỳ. Theo tài liệu thì người đề xướng “ Ngày Cho Cha”  (Father’s Day) là bà Sonora Smart Dodd ở Spokane, Washington State. Bà có ý nghĩ nên có một ngày  đặc biệt cho cha trong lúc nghe thuyết giảng về Ngày  Cho Mẹ năm 1909.
Mẹ của Bà đã mất khi sinh đứa con thứ sáu.  Bà được nuôi dưỡng bởi người cha là Ông William Jackson Smart , một cựu chiến binh của Civil War. Ông Smart  đã nuôi dưỡng sáu đứa con  ở vùng nông trại phía Tây tiểu bang Washignton. Khi lớn lên Bà Dodd mới nhận thức được sự hy sinh vô cùng của cha,  Bà muốn cha của Bà biết ông là người rất đặc biệt đối với bà. 

Cha của bà sinh vào Tháng Sáu nên bà đã chọn  “Ngày  Cho Cha”  đầu tiên  vào ngày 19  Tháng 6, 1910 ở Spokane, Washignton State.  Cùng lúc đó nhiều người ở nhiều nơi trong tỉnh và các thành phố ở Mỹ bắt đầu tổ chức ngày cho cha. Năm 1924 Tổng Thống Calvin Coolidge ủng hộ việc công nhận ngày cho cha trên toàn quốc.
Năm 1926 “A National Father’s Day Commitee” được thành lập ở New York. Ngày này được công nhận bởi  “A Joint Resolution of Congress”  vào năm 1956. Năm 1966 Tổng Thống Lyndon Johnson ký  bản văn thư  công nhận Chủ Nhật thứ ba của Tháng Sáu là ngày”Father’s Day”. Ngày này không phải chỉ để vinh danh người cha, mà bất cứ người nào đã thay thế vai trò của ngừơi cha trong sự nuôi dưỡng, giáo dục con cái như cha nuôi, chú bác, ông nội, ông ngoại…
Ngày nhớ ơn Cha được hình thành từ sự biết ơn của một người con gái đã nghĩ đến công lao của cha mình. Tất cả những người cha đáng được con cái nhớ ơn vinh danh trong ngày đặc biệt này.
Đất nước Việt Nam chìm đắm trong  chiến tranh bao nhiêu năm, theo sau là những năm tháng bị đọa đày trong ngục tù Cộng sản,  Hoa Sơn đã nhớ lại  hình ảnh người cha qua mấy vần thơ:
“Vẽ mặt trầm tư đượm nét buồn
Thường ngồi lặng lẻ lúc mưa tuôn
Bao nhiêu u ần chìm trong mắt
Sầu héo lên nhau tựa sóng cuồng
Ngày trước cha tôi rất đẹp trai
Phiêu lưu mạo hiểm những năm dài
Bốn vùng chiến thuật giày in gót
Nào biết giờ đây phải đắng cay
Cha tôi buồn lắm nhưng người dấu
Tối tối bên tôi cố mĩm cười
Kể lại tôi nghe ngày tháng cũ
Kỷ niệm buồn đau chốn ngục tù.”
(Cha tôi – Hoa Sơn)
Trong hoàn cảnh ly hương, lưu lạc phương trời,  nhiều người Việt Nam đã  không đựơc kề cận  mẹ  cha lúc tuổi già. Ước muốn cuối đời của cha mẹ  là được gặp mặt lại tất cả các con trước khi nhắm mắt. Đó là một ước mơ nhỏ bé, đơn giản nhưng nhiều người không thể thực hiện đựơc, đã để lại  niềm đau không nguôi  trong lòng không biết bao nhiêu nguời tha hương nhất là trong ngày nhớ ơn cha:
“Van cha, cứ thế, con ngồi lặng
Nói sao, hà cớ chẳng về thăm
Thâm ân cha mẹ cho đời sống
Cân thước đâu đo nỗi vô cùng
Lỡ có là chim, còn hiểu được
Vì đâu biền biệt tận chân mây
Làm kiếp người sao con chọn nghiệp
Dang cánh bay tít tắp đường dài"
Sớm nay tin vội: Cha yên ngủ
Nhắm mắt rồi chưa thấy mặt con
Mơ hồ nghe tiếng cha trong gió
Con con ơi  bất hiếu chưa từng!
Cố dõi mắt trông  ngoài vô tận
Thấy gì đâu người khuất núi xa
Chỉ thấy bóng con đầu cúi xuống
Tay run run bưng mặt đầm đìa
Hồn thương tiếc gữi cùng nhang khói
Tro bụi: cha, vừa rắc xuống sông
Nước chảy dòng xuôi hay ngược lại
Cha còn nghe tiếng thở dài con"
“Cha Còn Nghe Tiếng Thở Dài Con"”  ( Nguyên Nghĩa)

Cùng thời điểm, các nước trong vùng như Ấn độ, Mã lai, Phi luật tân,...bị Tây phương đô hộ, đều lần lược thu hồi độc lập, tổ chức đất nước theo thể chế tự do dân chủ và nhờ đó, đất nước phát triển mà không phải có hơn 10 triệu dân chết oan uổng như Việt nam. Chỉ vì họ không có hiện tượng Hồ Chí Minh!
NHững người trẻ sẽ không còn là “không chịu lớn.” Họ đã trưởng thành trong suy nghĩ của riêng họ. Và khi phải xuống đường bày tỏ những ước muốn của mình. Họ biết họ phải làm gì. Không thể nào ai đó bảo họ phải làm cái này hay phải làm cái kia. Họ không còn cần phải có lãnh tụ. Đất nước cần những con em như thế.
Hiệp Định Geneve, cũng như Hiệp Định Paris, đối với Bác và Đảng – rõ ràng – đều chỉ là một mớ giấy lộn. Tổng Tuyển Cử (1956) hay Đình Chiến (1973) cũng thế. Hoà bình là từ ngữ không hề có trong tự điển của những người cộng sản. Họ nhất định phải nhuộm đỏ hết cả nước VN (bằng mọi giá và mọi cách) thì mới thoả lòng.
Lần đầu tiên tôi đi thăm Huynh Trưởng Huy Phương đang bệnh già. Đây là chuyến "thoát ly" đặc biệt sau hơn một năm tự giam mình. Trong suốt thời gian Huynh Trưởng bị bệnh, nằm nhà thương dài dài trong bao nhiêu ngày có đại dịch, tuy không phải bị con virus mắc dịch hành hạ, nhưng là một bệnh ngặt nghèo phát sinh theo tuổi tác.
Mùa an cư năm nay không có Thông Điệp giáo giới của Tôn Sư Tòng lâm Tông tượng sách tấn bốn chúng như pháp như luật hành trì. Những tiếng kêu của lừa dê chồn cáo không thay thế được tiếng rống của sư tử chấn động ma quân. Vậy, không gì hơn chúng ta cùng đọc lại “Huấn thị an cư Phật lịch 2548” của Đức Đệ Tứ Tăng Thống Trưởng lão Hòa thượng Thích Huyền Quang. Huấn thị không nói gì nhiều hơn ngoài những kim ngôn Thánh giáo mà Đức Thích Tôn đã truyền dạy trên 25 thế kỷ. Tụng đọc và suy niệm kỹ.
Nhìn chung, vấn đề hoàn toàn bế tắc khi cả hai phe đều vi phạm pháp luật, tận dụng bạo lực để duy trì mọi yêu sách và không có thiện chí hiếu hoà để giải quyết tranh chấp. Các nỗ lực quốc tế, đặc biệt nhất là qua nhiểu tổng thống Mỹ, không mang lại kết quả. Các chương trình viện trợ tái thiết của các định chế quốc tế không tô điểm cho cuộc sống của dân chúng tốt đẹp hơn. Tình trạng thảm hại chung là thực tế đau thương.
Càng lớn tuổi, tôi càng tin vào thuyết Nhân Quả của nhà Phật, người nào làm việc xấu thì gặp việc xấu đến, người nào làm việc tốt thì mọi sự tốt lành sẽ đến. Sống làm sao được bình yên trong tâm hồn là đủ, giàu nghèo sang hèn đâu có gì quan trọng, sống mình biết đủ là đủ. Hãy nhìn tính tốt của người khác, người nào cũng có tính tốt, tại chúng ta không nhìn thấy mà thôi?
Những bộ óc siêu đẳng của con người tạo ra trí tuệ nhân tạo được thể hiện qua máy móc. Những ứng dụng của trí tuệ nhân tạo đã phục vụ đời sống con người ngày càng tốt đẹp hơn. Khoa học thần kỳ nầy đã được áp dụng trong mọi sinh hoạt của con người hầu hết trong mọi lãnh vực.
Trước sự kiện lịch sử sau hơn một ngàn năm Bắc thuộc mà Việt Nam, một nước nhỏ so với Trung Quốc hùng mạnh, rộng lớn với dân số đông gấp trăm lần đã không bị đồng hóa mà vẫn giữ được độc lập, nên một số sử gia Việt Nam và ngoại quốc đã rất ngạc nhiên. Theo họ, có lẽ nước ta đã nhờ nhiều lý do như ngôn ngữ, tôn giáo, địa thế và dân Việt có một truyền thống và nghị lực vững mạnh, v.v. Riêng G.S. Ngô Nhân Dụng, trong tác phẩm nghiên cứu lịch sử “Đứng Vững Ngàn Năm” đã cho rằng: “Sau ngàn năm Bắc thuộc mà dân tộc Việt Nam không bị đồng hóa, sau cùng lại dựng được một quốc gia độc lập; đó là một phép lạ lịch sử”.
GS-TS Nguyễn Mạnh Hùng: ”Nó (bài viết) không giải thich rõ được làm sao có nhà nươc pháp quyền khi tư pháp không độc lập; làm sao có dân chủ nếu chỉ có một đảng, không có cạnh tranh chính trị và dân không có quyền chọn lưa người đại diện…”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.