Hôm nay,  

Bứng Gốc Dân Chủ

12/09/200900:00:00(Xem: 6899)
BỨNG GỐC DÂN CHỦ
Quốc Văn phỏng dịch
(Tác giả: Jennifer Windsor, Jeffrey Gedmin, và Libby Liu.)
Các chế độ toàn trị khôn ngoan xảo quyệt hơn bao giờ hết
Từ nay chúng ta hãy gọi những chế độ toàn trị là "Độc Tài Thế Hệ 2". Ngày nay họ sử dụng nhiều sách lược tinh vi hiện đại cộng thêm một nguồn tài chánh thật dồi dào. Và hẳn nhiên họ đã đặt ra những thách thức nghiêm trọng với xã hội dân sự cởi mở, pháp trị và tôn trọng nhân quyền.
Hãy thử nhìn lại thập niên 90 khi Liên Bang Sô Viết sụp đổ, tưởng chừng như lúc đó tư tưởng dân chủ sẽ toàn thắng ở khắp nơi trên thế giới. Vào thời kỳ đầu những cuộc cách mạng "mầu" làm hoảng kinh các nhà độc tài, tiếp hơi cho cách mạng suốt từ Trung Á đến Trung Đông. Thế nhưng, một phần vì để kịp thời đối phó với tiến trình đó, những chế độ toàn trị đã tổ chức lại và hiện đại hóa những phương cách đàn áp của họ.
Tổ chức của chúng tôi đã triệu tập các chuyên gia để phân tích những sách lược của năm quốc gia tiêu biểu -Trung Quốc, Pakistan, Iran, Nga, và Venezuela - đã áp dụng nhằm chặn đứng cao trào dân chủ trong và bên ngoài nước của họ. Mục đích của chúng tôi nhằm tìm ra những điểm tương đồng của họ và coi xem làm thế nào họ có thể đạt được những thành công trong việc triệt hạ phong trào dân chủ trên thế giới.
Trước tiên họ đều áp dụng phối hợp những công cụ "truyền thống" như khuynh đảo hệ thống pháp luật, kiểm soát báo chí, và gieo truyền sợ hãi. Họ bảo vệ chế độ bằng cách thăng thưởng những kẻ trung thành và trừng phạt thật nặng những người chống đối. Điều này không có gì mới mẻ.
Điều mới là họ biết sử dụng những biện pháp để chuyển hướng những trao đổi thông tin trên mạng. Biết rằng không thể kiểm soát hoàn toàn mạng lưới thông tin toàn cầu được, họ dùng một đội ngũ đông đảo nhân sự thường xuyên lên mạng góp bài góp ý để xoay chiều hoặc xuyên tạc trong những trao đổi bàn bạc trên đó.
Những chế độ này cũng biết lợi dụng thị trường tự do để củng cố thêm sách lược của họ. Thí dụ như Trung Quốc đã thương mại hóa việc kiểm duyệt thông tin báo chí. Họ khuyến khích phóng viên nhà báo chỉ viết về những đề tài linh tinh hấp dẫn quần chúng và phải tránh xa những gì liên quan đến chính trị. Trung Quốc còn đi hàng đầu trong việc mướn các công ty tư nhân để làm công việc kiểm duyệt và theo dõi những trao đổi thông tin. Những động thái này khiến người ta nghi ngờ quan điểm cho rằng mạng lưới thông tin sẽ là khí cụ tốt nhất giúp xiển dương dân chủ.
Những chế độ toàn trị ngày nay còn khéo hướng dẫn dư luận quần chúng và tạo dựng hình ảnh tốt đẹp về họ qua những tập đoàn rộng lớn hùng hậu về tài chánh. Điện Kremlin đã thiết lập tập đoàn TV hàng triệu đô-la Russia Today để phát sóng qua Bắc Mỹ, Châu Âu, và Châu Á. Năm 2007 Iran thiết lập đài Press TV phát sóng Anh ngữ từ vệ tinh với cả trăm nhân viên gồm đủ các quốc tịch. Còn Trung Quốc thì để ra một ngân sách khổng lồ phát triển hoạt động thông tin ra nước ngoài hầu đánh bóng hình ảnh chế độ. Họ đã bỏ ra ít nhất 6 tỉ đô-la cho các dự án này.

Mặt khác các chế độ đó không ngần ngại trong việc đầu tư vào lãnh vực thông tin. Họ hào phóng chi viện hàng tỉ đô-la với điều kiện thật dễ dãi; hành động này vô hiệu hóa các nỗ lực của quốc tế trong việc cải thiện tình trạng tham nhũng tại một số quốc gia thông qua viện trợ. Trên phương diện ngoại giao lãnh đạo Trung Quốc chủ trương chính sách "cùng có lợi", thiết lập với các quốc gia ở Châu Mỹ La Tinh, Phi Châu, Á Châu và các nước Ả Rập những quan hệ dựa trên nguyên tắc "không can thiệp". Khi mà Bắc Kinh tỏ ra hào phóng những viện trợ kiểu này rất hấp dẫn, đến nỗi World Bank cho là Trung Quốc hiện là nhà viện trợ lớn nhất cho các nước Phi Châu. Tương tự như thế Nga, Iran, và Venezuela dùng dầu hỏa để tạo liên minh với các nước khác và sẵn sàng hỗ trợ cho các đồng minh khi cần.
Trên bình diện rộng lớn hơn các chế độ này tìm cách chi phối các định chế quốc tế về nhân quyền và dân chủ bao gồm cả tổ chức An Ninh và Hợp Tác Châu Âu, tổ chức Các Quốc Gia Châu Mỹ, và Nghị Hội Châu Âu. Tại Liên Hiệp Quốc họ liên minh với nhau vô hiệu hóa những phê phán hay các biện pháp trừng phạt của quốc tế, và thay vào đó là những đề nghị rất phản dân chủ.
Nhưng điều đáng ngạc nhiên hơn cả là những việc họ không làm.
Ngày nay họ biết rằng sự cấm đoán trao đổi thông tin hay ngăn trở các hoạt động kinh tế là bất khả thi, hơn nữa cũng không cần thiết. Cơ chế trấn áp thô bạo trước đây được thay bằng những biện pháp tinh vi khéo léo hơn. Dư luận, báo chí hay những trao đổi về chính trị được "điều hướng", thay vì cưỡng chế, qua việc áp đặt thông tin có chọn lựa. Và mặc dù chế độ kinh tế chỉ huy đã không còn nữa, các định chế kinh tế hàng đầu vẫn chủ quản bởi nhà nước. Người dân được ban phát tự do cá nhân -kể cả việc du lịch nước ngoài hay mua sắm hàng ngoại - đây là điều không ai dám nghĩ tới dưới thời của Mao hay Brezhnev.
Trong thời gian Chiến Tranh Lạnh, bản chất và mục tiêu của những chế độ toàn trị rất rõ ràng. Ngày nay, kết hợp với kinh tế toàn cầu và có chân trong các định chế tài chính và chính trị quốc tế, các chế độ độc tài đã đặt ra những vấn nạn lắt léo hơn nhiều. Các nhà hoạch định chính sách của các thể chế dân chủ đang bóp đầu suy nghĩ một đối sách. Cái khó là vấn đề còn mù mờ lắm, thái độ lại không rõ ràng dứt khoát - dân chủ là mù mờ hơn cả trong bốn nguyên tắc ngoại giao của Hoa Kỳ gồm quốc phòng, đối ngoại, phát triển, và dân chủ.
Và không gì làm hài lòng các chế độ độc tài hơn nếu chữ Dân Chủ bị loại khỏi thuật ngữ của nhân loại.
Các tác giả là Giám Đốc của Fredom House, Radio Free Europe/Radio Liberty và Radio Free Asia (theo thứ tự). "Undermining Democracy: 21st-Century Authoritarians" xuất bản ngày 4 tháng 6 tại Washington, D.C.

Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.