Hôm nay,  

Vốn Con Người

30/03/201000:00:00(Xem: 13455)

Vốn Con Người

Ts. Nguyễn Đình Thắng

Vốn con người, khác với những loại vốn khác, có ba đặc tính.
Trước hết là đặc tính độc đáo. Không như hai đồng tiền có thể đổi chác, con người không ai giống ai. Do đó, thay đổi nhân sự nhất thiết ảnh hưởng đến sự vận hành của cả tập thể, không giống như thay bù lon, đinh ốc, hay cơ phận trong một cỗ máy. Do đặc tính độc đáo này mà hầu như luôn luôn có sự bất cập giữa nhân sự mong muốn và nhân sự có được. Ít khi nào có sẵn người đầy đủ năng khiếu và kinh nghiệm đúng hoàn toàn với nhu cầu của công việc.
Thứ hai là đặc tính toàn diện. Mỗi con người là tổng thể về tâm sinh lý; về con người cá nhân, gia đình và xã hội; về kinh nghiệm chồng chất từ quá khứ đến hiện tại; về cá tính, nhu cầu, và khả năng. Khi tìm nhân sự chúng ta không thể chỉ xét về năng khiếu mà không quan tâm đến tâm tính, về sở trường mà không nghĩ đến hạn chế, hay về công việc mà quên mất đời sống cá nhân.
Thứ ba là đặc tính tự tăng trưởng. Khác với các loại vốn khác, chỉ tăng trưởng do được tác động, con người tự mình phát triển và liên tục tích luỹ kiến thức, khả năng, kinh nghiệm để đáp ứng với tình thế mới. Con người có khả năng phối hợp, tổng hợp, phán đoán và tưởng tượng-những yếu tố cần thiết để tự tăng trưởng. Chính vì đặc tính này mà không thể thiếu con người trong những công việc phức tạp đòi hỏi sự định hướng, lập kế hoạch, hay quyền biến.      
Muốn sử dụng vốn con người, chúng ta cần có kế hoạch và chương trình đào tạo nhân sự để phát triển khả năng và bản lãnh, cần phân bổ nhân sự vào những vai trò và chức năng khác nhau cho phù hợp với sở trường, cần tạo môi trường và phương tiện để nhân sự tăng trưởng về kinh nghiệm và thăng tiến trong công tác, và nhiều khi cần sắp xếp công việc cho phù hợp với nhân sự thay vì gò ép nhân sự vào khuôn khổ của công việc đã định sẵn. Chúng ta còn phải quan tâm đến sự phát triển toàn diện và hài hoà của nhân sự. Đó là ý nghĩa của “dụng nhân như dụng mộc.”


Đối với cộng đồng, chúng ta nói nhiều về trao truyền ngọn đuốc cho lớp người đi sau nhưng không có kế hoạch để đào tạo và chuẩn bị cho họ, chúng ta kêu gọi người trẻ dấn thân nhưng chưa có nỗ lực nào đáng kể để tạo cơ sở và phương tiện cho họ “dụng võ”, chúng ta hy vọng rằng thế hệ thứ hai và thứ ba lớn lên ở Hoa Kỳ sẽ giỏi giang nhưng lại không có chương trình để lôi cuốn họ đến và giữ họ ở lại với cộng đồng. 
Đối với Việt Nam, cũng vậy, chúng ta hoan nghênh những người dấn thân tranh đấu cho công lý và dân chủ nhưng cũng không có kế hoạch để tạo cơ hội cho họ phát triển năng khiếu, tiếp thu tri thức, mở rộng tầm nhìn, và tích luỹ kinh nghiệm về hoạt động xã hội dân sư ngày hôm nay và nắm vận mạng đất nước mai này. 
Trong 20 năm qua, từ khi còn là một tổ chức nhỏ bé nhưng phải đương đầu với chính sách quốc tế về cưỡng bách hồi hương thuyền nhân, BPSOS đã bắt đầu đào tạo nhân sự qua chương trình thực tập. Qua đó, nhiều người trẻ đã học hỏi về nguồn gốc, phát triển khả năng, và tích luỹ kinh nghiệu qua những công tác cụ thể. Một sốû cho đến nay vẫn tiếp tục con đường phục vụ cộng đồng, dân tộc, và xã hội. Dân Biểu Liên Bang Cao Quang Ánh là trường hợp điển hình nhưng không phải độc nhất. Từ 5 năm qua, BPSOS cũng thực hiện một nỗ lực tương tự cho Việt Nam.
Một vài tổ chức khác cũng có những nỗ lực cùng chiều hướng ấyï. Tuy nhiên, tất cả những cố gắng cho đến nay, kể cả của BPSOS, còn quá khiêm nhường so với nhu cầu gầy dựng vốn nhân sự cho cộng đồng và cho Việt Nam.  Đã đến lúc chúng ta phải có một kế hoạch rộng lớn và dài hạn để đào tạo thế hệ tiếp nối, tạo cơ sở và phương tiện cho họ phát huy năng lực, và chuẩn bị cho họ thay thế chúng ta trong việc lèo lái cộng đồng và đóng góp cho đất nước.
Chúng ta chỉ có 10 đến 15 năm để hoàn tất công trình to lớn ấy, truớc khi lớp người năng động ngày hôm nay lui vào bóng tối. Đó là trách nhiệm thiêng liêng của chúng ta đối với thế hệ đi sau và đối với cộng đồng,

Qua bản tường trình và một buổi họp gần đây, BPSOS đã cung cấp cho Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ nhiều chứng cớ về tình trạng buôn người lồng trong chương trình xuất khẩu lao động của chính quyền Việt Nam,
*Dựng lại khúc phim “Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền của Những Người Cùng Khổ” ngày 23 tháng Tư 1977. “Cộng sản kỵ nhất hai mẫu người: lỗi lạc trong đảng và bất khuất trong tù. Lỗi lạc sẽ tái hiện một Gorbachev, bất khuất sẽ tái hiện một Mandela. Cả hai mẫu người này đều có ở Việt Nam .” (LKT)
Từ cuối tháng Ba 2012, tôi đã khởi sự chuyến viễn du Mùa Xuân Nhâm Thìn được dự trù kéo dài trong 3 tháng. Để bắt đầu tôi rời khỏi nhà ở miền Nam California vào ngày 27 để đi tới thành phố Denver thủ phủ của tiểu bang Colorado.
Mỗi năm, hễ tháng tư đến là lòng mình lại bồi hồi, xót xa... Mình cố quên nhưng vẫn phải nhớ!
Tính theo thời gian, tôi và Nhà văn, Nhà Thơ Hà Bỉnh Trung đã quen nhau ngót nửa Thế kỷ.
Sáng hôm nay, 24/4, tỉnh dậy tôi vào xem tin trên mạng và đập mắt nhất, làm cho tôi tỉnh hẳn là tấm hình trên BBC Vietnamese lấy từ xuandienhannomblog:
Vào đề: Đây là chuyện thật ngoài đời với tên gọi nhân vật và địa danh thay đổi. Chuyện viết đầu tiên vào tháng 9 năm 1998 sau khi tác giả đi thăm bà Linh tại Âu châu dưới nhan đề “Người Chị Dâu”.
Chưa bao giờ vấn đề nông dân Việt Nam đặt ra một cách cấp thiết trước phong trào dân chủ nước ta như hiện nay. Nông dân là khối người đông đảo chiếm đến trên 70% dân số cả nước. Bằng lao động cực nhọc của mình, từ nghìn xưa cho đến ngày nay họ đã và đang nuôi sống dân ta.
Sau Thế Chiến Hai, biến cố trọng đại nhất trong lịch sử thế giới là việc hình thành các quốc gia đã thoát ra được ách thực dân của người phương Tây.
Hậu quả xã hội là người dân nghèo, thu nhập ít lại bị lạm phát bóc lột nhiều nhất...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.