Hôm nay,  

Tín Hiệu Xanh

04/12/200700:00:00(Xem: 9729)

Từ giữa năm 2006 đến cuối năm 2007, Hà Nội đã tạo được nhiều thành công trên lãnh vực thương mại và bang giao quốc tế. Khởi đầu với sự thành công của Thượng Đỉnh APEC, sau đó là trở thành hội viên của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới, rồi gần đây nhất là việc thành công trong nỗ lực để trở thành thành viên Không Thường Trực của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc.

Với những thành công như thế, Hà Nội một mặt phải tiếp tục tô vẽ cho một chế độ đang trên đà băng hoại với tệ nạn tham nhũng, cường hào ác bá, bóc lột dân nghèo của giới lãnh đạo Cộng Sản, một mặt phải tìm cách bứng rễ một phong trào tranh đấu non trẻ nhưng không kém phần cương quyết vừa mới xuất hiện tại Việt Nam.

Năm 2006 là thời điểm khởi động của những phong trào tranh đấu cho dân chủ tại Việt Nam. Từ là những cá thể hoạt động riêng biệt, những nhà tranh đấu cho dân chủ đã tụ hợp lại. Lần đầu tiên, họ hoạt động trong tổ chức, và trong khoảng thời gian rất ngắn đã tạo được sự hậu thuẫn của thế giới đối với một phong trào dân chủ vừa chớm nở tại Việt Nam. Từ là những người không ai biết đến, nay cả thế giới đều biết đến Khối 8406 như là một tổ chức tranh đấu cho dân chủ tại Việt Nam.

Song song với sự xuất hiện của phong trào tranh đấu cho dân chủ bằng phương pháp bất bạo động, giới công nhân Việt Nam cũng dần dần ý thức được quyền của họ. Những cuộc đình công lan rộng của công nhân Việt Nam trong năm đã làm cho Hà Nội lúng túng không biết giải quyết ra sao. Theo đà phát triển của phong trào công nhân đình công lan rộng từ Nam ra Bắc, lần đầu tiên, tại Việt Nam xuất hiện những nhà hoạt động công đoàn độc lập, và họ tranh đấu đòi hỏi quyền tự do lập hội để bảo vệ quyền người lao động. Vì không biết giải quyết vấn đề như thế nào, Hà Nội đã dùng vũ lực để đàn áp và giam giữ những nhà hoạt động công đoàn độc lập. Tuy luôn bị Hà Nội dùng côn đồ và công an đe dọa, giới công nhân tại Việt Nam vẫn tiếp tục tổ chức đình công để đòi hỏi sự công bằng trong lương bổng và quyền được đối xử với đầy đủ nhân phẩm. Điều đáng xấu hổ cho Hà Nội là khi những giám đốc hoặc quản lý ngoại quốc ra tay đánh đập công nhân Việt Nam tàn nhẫn, thì cả guồng máy cai trị đã im lặng.

Chính giới Hoa Kỳ đã gọi lãnh đạo Hà Nội như là những kẻ lừa dối vì trước khi được trở thành hội viên của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới, Hà Nội đã hứa hẹn rằng sẽ tôn trọng nhân quyền và đối kháng. Thế nhưng Hà Nội đã bung ra một chiến dịch bức hại các nhà hoạt động dân chủ có quy mô mà tổ chức Human Rights Watch đã cho là "một cuộc đàn áp tệ hại nhất". Những quốc gia tự do có tòa đại sứ tại Việt Nam đã cùng một lúc lên án hành động này của Hà Nội.

Hoa Kỳ tuy có nhiều triển vọng hợp tác kinh tế và quân sự với Việt Nam, nhưng chính quyền Hoa Kỳ cũng đã phản ứng mạnh mẽ trước sự dối trá của Hà Nội. Tháng 10 năm 2007, Hạ Viện Hoa Kỳ đã thông qua và chuyển lên Thượng Viện dự luật Nhân Quyền cho Việt Nam 2007.

Ngoài Hoa Kỳ, Liên Minh Âu Châu cũng đã có hành động để lên án những hành động bạo lực của Hà Nội đối với đối kháng và tôn giáo tại Việt Nam. Vào ngày 15 tháng 11 năm 2007, Liên Minh Âu Châu đã công bố Nghị Quyết lên án vị phạm tự do tôn giáo tại Việt Nam và một số quốc gia khác.

Để tỏ thái độ ủng hộ phong trào tranh đấu cho tự do và dân chủ tại Việt Nam của đồng bào tại quốc nội và hải ngoại, Tổng Thống Hoa Kỳ George Bush, Chủ Tịch Quốc Hội Hoa Kỳ đã gặp gỡ đại diện của những tổ chức tranh đấu của người Việt để bày tỏ sự ủng hộ của họ trước khi chính quyền Hoa Kỳ tiếp đón Nguyễn Minh Triết.

Với những bạo lực trong tay, Hà Nội luôn sẵn sàng trừng phạt những con người Việt Nam can đảm nói lên tiếng nói của sự thật để lật tẩy những cái hào nhoáng dối trá của chế độ. Thế nhưng bạo lực đã không làm chùn tấm lòng của những con người Việt Nam thuộc nhiều thành phần tôn giáo và xã hội đứng lên đòi lại quyền làm người.

Với những chiến dịch đàn áp và giam giữ những nhà đối kháng tại Việt Nam, Hà Nội nhiều phần tự tin là họ sẽ nhổ tận gốc rễ phong trào tranh đấu còn non trẻ, nhưng tin tức về việc Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân, nhà báo Nguyễn Thị Thanh Vân và Ông Trương Văn Ba bị bắt khi họ trở về để hoạt động tại quốc nội từ Hoa Kỳ và Pháp đã mở thêm một cái nhìn mới về công cuộc tranh đấu giải phóng cho dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam.

Cả thế giới, và ngay cả chính Hà Nội, có lẽ đã quen thuộc và cho là bình thường khi những nhà hoạt động dân chủ tại Việt Nam bị đàn áp vì họ đang sinh sống dưới sự cai trị của chế độ, nhưng khi con dân Việt Nam từ hải ngoại trở về để hoạt động trong lòng kẻ thù của dân tộc đã hóa giải những âm mưu độc ác của Hà Nội nhằm tạo sự hận thù giữa đồng bào tại quốc nội và hải ngoại.

Trong nhiều năm qua, Hà Nội luôn luôn nỗ lực tuyên truyền rằng người Việt Nam tại hải ngoại là phản bội tổ quốc với mục đích tạo sự thù hận giữa các thành phần dân tộc Việt. Sự trở về của Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân, nhà báo Nguyễn Thị Thanh Vân và ông Trương Văn Ba đã bắc một nhịp cầu liên kết giữa người Việt Nam với người Việt Nam mà không cần phải qua tay chế độ. Nói một cách khác, hành động anh dũng của 3 nhân sự kể trên đã tước đi quyền lực của Hà Nội vì Hà Nội xưa nay phải nhất định kiểm soát và chi phối tất cả các sinh hoạt trong mọi lãnh vực và khía cạnh của xã hội Việt Nam.

Ý nghĩa thứ hai của việc trở về của 3 nhân sự kể trên cũng là một sự xác quyết hùng hồn nhất đối với nhân dân Việt Nam và các nhà tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam rằng các đảng viên Việt Tân luôn luôn sẵn sàng sát cánh với họ để cùng chung lực tranh đấu vì một tương lai tươi sáng cho Việt Nam.

Hà Nội đã bỏ nhiều nỗ lực để dán nhãn "khủng bố" cho Việt Tân và những tổ chức tranh đấu cho dân chủ của người Việt tại hải ngoại, nhưng khi truyền thông quốc tế cho thấy đảng viên Việt Tân bị chế độ bắt giữ khi họ chỉ đơn thuần hoạt động với những phương tiện bất bạo động, thì chính Hà Nội sẽ bị cả thế giới xem như là kẻ bức áp phong trào bất bạo động.

Vậy điều gì thôi thúc những con người dũng cảm kia sẵn sàng từ bỏ sự an nguy của bản thân để cùng với đồng bào của họ tại quốc nội cùng chung xây dựng một ước mơ cho ngày mai" Điều gì khiến cả một chế độ có quân đội, công an, báo chí và được quốc tế công nhận như Hà Nội lại phải lo sợ trước sự xuất hiện của những con người ấy"

Câu trả lời được diễn tả bởi Luật sư Lê Quốc Quân khi ông viết: "Người quyết định việc nắm bắt hay không cơ hội đó là tuổi trẻ chúng ta. Thang giá trị sống bị đảo lộn thì chúng ta phải lập lại. Khi phong bì tràn ngập công sở, đổ bộ vào cả giảng đường và bệnh viện, thì lớp trẻ chúng ta cùng siết tay, dồn đuổi tệ nạn đến tận cùng. Khi đâu đó có bạn đang mệt mỏi buông xuôi, thì nơi đây những ngọn lửa của màu xanh yêu thương và hi vọng sẽ thắp lên, động viên nhau giữ vững tinh thần. Khi xu hướng vọng ngoại đang lên cao, thì nơi đây chúng ta truyền cho nhau tinh thần tự tôn dân tộc và ý thức về dòng máu Việt vinh quang... Tuổi trẻ chúng ta sẽ tự làm những sứ giả, với trái tim nóng và cái đầu đầy lý trí, lần tìm nhau, giục giã nhau tiến bước dựng xây đất nước mình".

Cùng chung nhịp cầu của tình tự dân tộc với Lê Quốc Quân, và cùng chung một niềm tin mãnh liệt vào con người Việt Nam với một xác tín vững chãi vào một tương lai tươi sáng của dân tộc, Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân, nhà báo Nguyễn Thị Thanh Vân và ông Trương Văn Ba và nhiều đảng viên Việt Tân khác từ hải ngoại đã lần tìm nhau và họ đang tự làm những sứ giả để gửi đi những tín hiệu màu xanh của yêu thương và hy vọng để cùng tiến bước dựng xây đất nước họ.

Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
Ôn dịch Vũ Hán gây nên một cơn khủng hoảng chưa từng thấy trong khối các nước nghèo khó khiến 100 quốc gia trong số 189 thành viên IMF hiện đang cầu cứu cơ quan quốc tế này viện trợ khẩn cấp. Tưởng cần nên tìm hiểu bối cảnh của những quốc gia đang phát triển song song với các phân tích về tác động của khủng hoảng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.