Hôm nay,  

Ai Văn Môn Đồ Pháp Quyến

08/07/200800:00:00(Xem: 9711)
(LGT: Bản văn naỳ đọc tại lễ truy niệm Đức Đệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang. Lúc 3 giờ chiều ngày 6-7-2008, tại Chùa Bảo Quang đã cử hành lễ truy niệm và thọ tang Cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang, Đệ Tứ Tăng Thống GHPGVNTN.  Trong buổi lễ này, vị đệ tử xuất gia của Đức Đệ Tứ Tăng Thống là Thượng Tọa Thích Minh Dung, Trú Trì Chùa Quang Thiện, Ontario, Cali, đã tuyên đọc Ai Văn để cung tiễn Giác Linh bậc tôn sư.  Sau đây là nội dung bài Ai  Văn.)

Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật

Kính bạch Giác Linh Thầy,

Từ nơi xa xăm xứ người, chúng con vọng về quê hương  đồi núi Nguyên Thiều Tu Viện,  thành kính đảnh lễ Giác Linh Thầy, trong giờ phút tử biệt ngàn năm. Chúng con phủ phục vào đất, để nghe đất mẹ đang thổn thức thương đau. Cả đất trời dưòng như tịch lặng, khi ngưng đập rồi một con tim vĩ đại, băng rồi một vì sao rạng ngời, khép lại rồi, một đời người bất diệt thiên thu.

Nghĩ đến Thầy, chúng con liên tưởng đến nhiều bài học lớn mà Thầy đã dạy chúng con qua cuộc sống của một Đạo sư.

Một là:  Xin đừng Thù hận khi phải sống giữa những người thù hận quanh ta. Bao nhiêu năm tù trong một  chế độ. Hàng chục năm dài lưu đày  trong ngôi chùa nhỏ xa xăm. Thầy không khởi tâm thù hận, sân si dù cửa trước, ngõ sau đều  có người chực chờ hăm hở, mắt nhìn Thầy, một tội đồ dân tộc còn đây. Ai giam Thầy giữa ruộng đồng Hội Phước. Ai nhốt Thầy những ngày tháng Phan Đăng Lưu. Ai gông Thầy trong cuộc tìm độc lập cho non sông. Ai ném Thầy vào nhà giam vì đòi hỏi bình đẳng giữa các Tôn Giáo. Kệ, muôn vạn lần Thầy vẫn kệ, dù người đó là ai, súng dí vào Thầy, hay trăm lời nguyền rủa, Thầy vẫn trải lòng “ Từ” đến  kẻ cuồng si. Thầy đã cảm hóa nhiều người nhìn Thầy, một kẻ thù của chế độ, và nơi Thầy, Thầy chỉ thấy có vô minh mà không có người cuồng nộ.  

Hai là:  Ai trói buộc ai. Bằng trí tuệ viễn chiếu, Thầy chẳng  thấy mình bị trói buộc bỡi ai. Nếu được đi lại thì Thầy sống đời du hóa, độ sanh. Nếu bị giam thì Thầy biến nhà giam thành nơi Thiền Thất, ngày đêm đọc đại tạng và  quán chiếu nỗi khổ của dân sinh. Hơn trăm ngàn trang kinh trong đại tạng, Thầy đã đọc qua, trong những năm dài bị nhốt.  Sách Ngài được viết, Sớ Ngài được soạn giữa lúc đày ải này đây. Thầy đã thong dong trong bốn bức tường cô lập. Trí Ngài rực sáng giữa ruộng đồng hiu quạnh, tịch liêu. Chẳng có nhà tù cho một tù nhân bị nhốt. Chẳng trói đuợc người dù người bị trói ngày đêm. Thầy đã sống và thong dong trong sự sống của một tù nhân nhiều thập kỷ. 

Ba là:  Xin đừng có gì cho  riêng Ta. Nhiều lần thầy  khuyên dạy chúng con. Thầy không muốn có gì riêng cho Thầy, dù đó là chùa hay tử  đệ. Thầy cho rằng, hãy dốc lòng lo cho Giáo hội và  Phật pháp mà thôi. Từ tuổi  đôi mươi cho đến ngày tàn hơi thở, tiếng thác đổ   trong tâm thức của Thầy là sự tử sinh của Giáo hội. Là sự  an bình của Tăng Ni. Là sự vực dậy của hai ngàn năm Phật giáo Việt. “Đây là kinh xin hãy học; Đây là Đạo xin hãy sống; Đây là dân tộc xin hãy cưu mang”, Thầy đã nhiều lần lập đi lập lại thông bạch này trong nỗi đắn niềm cay. Cho đến giờ phút này, nhiều lần huynh đệ chúng con thưa Thầy xây tháp để lúc Thầy viên tịch có chỗ di quan. Nhưng Thầy đều từ chối. Thầy dạy chúng con, xin để đời Thầy về với hai bàn tay trắng cùng vài bộ đồ củ kỹ đơn sơ. Tháp rồi cũng mòn hư theo  năm tháng, thầy dạy, dùng tiền ấy lo tăng chúng tu học thì hơn. Chỉ có một khoảnh đất nhỏ hoang sơ ven triền núi Tu Viện sẽ làm nơi an nghỉ của Thầy thiên thu.  Thầy yếu, nhưng sâm Thầy chẳng uống, Thầy sợ tốn kém của đàn na. Trời nóng, thấy không cho mở máy lạnh vì Thầy nói  còn lắm kẻ lầm than. Đời Thầy là vậy. Sự sống của Thầy là vậy, cho dù đương vị  của Thầy như hôm nay.

Bốn là: Vì ai và cho ai" Kính lạy giác linh Thầy. Vì đại bi Tâm mà Thầy gánh gồng Giáo hội. Thầy đã làm bia cho kẻ bắn, người đâm. Thầy là bức tường để che chở cho Đạo Phật Việt nam. Thầy không thấy có hố ngăn giữa những  màu  cà sa được khoát. Vì ai" Thầy đi  đảnh lễ  những người đồng môn từ Bắc vào Nam. Vì ai" Thầy đứng giữa  trời quê hương, dang tay mời gọi:  “Hãy xít lại gần nhau, hỡi những người huynh đệ chúng  ta”. “Hãy vì Phật giáo Việt Nam và Cho Phật Giáo Việt Nam, đừng để một thế lực nào chi phối chúng ta”. Ai có nghe chăng tiếng rống của một con Sư tử già cuối đời vọng lên giữa ba đào nghiệt ngã.

Rồi hôm nay Thầy ra đi, Thầy còn để lại gì cho chúng con, và đây một bài thơ, Thầy viết cách  ba mươi năm trước:

Tuổi sáu mươi dư cũng đã già

Thân danh sự nghiệp chuyện ngày qua

Mai về cõi Phật lòng thanh  thót

Để lại trần gian chút bóng ta.

Cái bóng mà Thầy để lại cho chúng con là Tuệ Giác nhìn xa, là vững tay chèo giữa sóng vỗ cuồng si, là mở rộng lòng cho muôn sông cùng đổ về biển, là đơn sơ như mảnh vụn của chiếc cà sa.

Thầy ơi, Thầy còn đó hay Thầy không còn đó, nhưng lòng con, con nghe rõ tiếng “Gọi Về”.  Về đâu  rồi  đi đâu"

Thành kính đảnh lễ Giác Linh Thầy.

 NHẤT TÂM ĐẢNH LỄ: GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT, ĐỆ TỨ TĂNG THỐNG KIÊM GIÁM VIỆN TU VIỆN NGUYÊN THIỀU, THƯỢNG HUYỀN HẠ QUANG ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG TÂN VIÊN TỊCH  CHI  GIÁC LINH.

Ontario ngày 6 tháng 7 năm 2008

Tỳ Kheo Thích Minh Dung

Tiểu bang Louisiana của Mỹ đã mừng 300 năm di sản văn hóa Pháp tại Mỹ. New Orleans, tên đặt từ thành phố Orléans bên Pháp, vốn nổi tiếng với những nét Pháp
Tuổi thọ (longévité) trong điều kiện sức khoẻ bình thường, không ngừng gia tăng thêm mãi tại các quốc gia kỹ nghệ giàu có...
Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang thế danh là Lê Đình Nhàn, sinh năm Canh Thân, ngày 19-9-1920 (tức ngày mồng 8 tháng 8 năm Canh Thân),
Tình cờ, lật một trang sách, bắt gặp hai câu thơ của thi sỹ Seamus Heaney, người đoạt giải Nobel văn chương năm 1995:
(Chỉ một câu nói của Ngài : thời thế thế thời, Chú còn nhỏ, cố gắng nghe, Thầy rất thương Chú. Câu nói đó vẫn canh cánh bên lòng, ngồi ở đây, một chốn xa xôi, xin viết dâng Ngài.
Khi viết bài này, tôi biết có thể sẽ có nhiều bạn không đồng ý và cho rằng người viết bênh vực nhóm thân Mỹ Triết và Dũng.
Từng là một quân nhân tác chiến trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đã ba lần bị thương tích ở chiến trường.
Thật khó có thể tin được rằng, trong thiên niên kỷ thứ ba, khi nền văn minh khoa học kỹ thuật và nhiều lãnh vực hoạt động khác của nhân loại đạt đến đỉnh cao nhất
Sự tức giận và hận thù là hai ác tính độc hại nhất đối với người thực hành Tâm Bồ Đề. Chư vị Bồ Tát không bao giờ sanh tâm sân hận mà các ngài luôn luôn tìm cách khống chế
Chúng ta có thể dễ dàng gặp Thầy Đặng Thông Phong ở rất nhiều nơi. Không chỉ là ở những thành quả võ thuật mà Thầy đã đạt được qua trọn một đời
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.