Hôm nay,  

Sau Ngày Tang

17/08/201000:00:00(Xem: 6985)

Sau Ngày Tang

Như Quang
Tôi vừa trở về từ một khoá thiền ngắn hạn. Vào diễn đàn nào cũng nghe cáo phó, phân ưu về sự ra đi của sư bà Diệu Từ. Tiểu sử sư bà vừa được các MC đọc, vừa được phổ biến trên màn hình. Chỉ cần nghe một người nào vừa mất mẹ là lòng tôi rưng rưng bởi vì tôi cũng đã từng mất mẹ. Nghe mẹ ra đi mà mình không về được để thọ tang có người con nào không thắt ruột" Tôi muốn gởi đôi lời chia buồn đến những người con côi cút nhưng trong không khí sôi động này tôi nghĩ không khéo lời chia buồn của mình sẽ trở thành lố bịch vì những sáo ngữ.
Sau ngày hỏa táng sư bà Diệu Từ, tôi ngồi lại lắng lòng viết những giòng tâm bút để chia sẻ nỗi đau mất mẹ với toàn thể gia đình sư Giác Giới. Những giòng mực tâm không bao giờ trễ muộn bởi những điều xuất phát tự tâm là những điều không có thời gian tính.
Tôi chưa từng biết sư bà Diệu Từ cũng như không hề biết bà Phạm thị Thu. Tôi chỉ biết Bà Tư, người tu nữ từ hòa tại chùa Siêu Lý Vĩnh Long. Tôi đến chùa Siêu Lý vào một ngày mùa hè 2008 và ở đó một ngày, một đêm. Một đêm an trú ở ngôi chùa này tựa như một đêm an trú trên cõi trời Đạo Lợi. Tôi được nghe kinh, được sư Giác Giới dạy đạo, được hành thiền bất cứ nơi nào tôi muốn. Vị trụ trì chùa Siêu Lý là một vị trụ trì vô cùng đặc biệt, tôi chưa hề gặp một vị trụ trì nào như thế. Sư ít giao tiếp và suốt bao nhiêu năm chỉ có một ngôi chùa mà trụ. Mới gặp tôi lần đầu mà sư đã trao cho tôi quyền … trụ trì. Sư giao quyền cho tôi không cần văn bản mà chỉ bằng một câu nói vô cùng đơn giản: ai cũng có thể làm trụ trì. Cô cũng có thể làm trụ trì: trụ giới và trì giới.  Định nghĩa trụ trì của sư giản dị quá nhưng chắc chắn rất khó hành. Sư cho tôi tham dự vào khóa kinh tối, kinh sáng của chư tăng, chỉ khi chư tăng tụng giới bổn sư mới mời tôi ra ngoài.


Buổi chiều trong khi chờ lên chánh điện học giới với sư Giác Giới, tôi ngồi trò chuyện với bà Tư. Bà ngồi nơi ngưỡng cửa trước cốc của bà, hai bàn chân sưng phồng. Tôi nói bà để con xoa bóp cho. Tôi dùng kỷ thuật xoa bóp chân mà người bạn Đông y sỹ người Trung Hoa đã dạy, bấm nhẹ các huyệt dưới lòng bàn chân và xoay cổ chân cho bà. Gương mặt bà hiện ra nét thư giãn và bà hỏi tôi một câu hỏi mà tôi nghĩ là bà đợi chờ để hỏi cả ngày nay vì bà biết tôi ở nước ngoài về: “Cô có ở gần sư Trí Tịnh không"” Câu hỏi của bà làm tôi xúc động vì trước mắt tôi là một bà mẹ quê tiêu biểu. Một bà mẹ ngồi nơi ngưỡng cửa mong con, thấy ai cũng tưởng con về, thấy ai cũng tưởng có quen biết với con mình. Tôi không dám thú thực với bà tôi không hề biết sư Trí Tịnh, chỉ nghe nói sư Giác Đẳng có người em là sư Trí Tịnh nhưng sư ở đâu tôi không được biết. Tôi chỉ biết sư Giác Giới, mà gia đình quen gọi là sư Ba, sư Giác Đẳng, sư Giác Nguyên và sư Pháp Nhiên. Nhưng tại sao bà chỉ hỏi thăm sư Trí Tịnh mà không hỏi thăm sư Giác Nguyên hay sư Giác Đẳng" Có lẻ trong lòng bà mẹ nào đứa con út ít cũng là đứa con chiếm vị trí quan trọng nhất. Tôi định bụng khi trở về Canada sẽ hỏi thêm về sư Trí Tịnh nhưng công việc bề bộn khiến tôi quên. Điều này làm tâm tôi luôn trạo hối.
Ngày bà Tư mất, nếu không nghe thông báo bà có 7 người con, tôi nghĩ số con của bà đông hơn con số bảy kỳ diệu. Xem qua các hình ảnh trên mạng Internet, tôi thấy một người luôn có mặt bên cạnh quan tài bà, luôn đứng cạnh sư Giác Giới. Nếu không biết rõ vị này tôi có thể nghĩ đây là trưởng nam của bà Tư. Và người đặc biệt này chính là vị trụ trì chùa Siêu Lý. Thêm một người con nữa ngay khi nghe tin bà Tư từ trần đã vội vàng bay về từ một trường thiền tại Miến Điện. Một giờ sáng sư đã có mặt tại sân bay Tân Sơn Nhất để kịp về Vĩnh Long kính viếng bà Tư. Có lẻ còn nhiều người con nữa không do bà Tư sanh ra cũng đã vội vàng về nhìn người mẹ từ bi lần sau cuối. Điều này nói lên được tánh hạnh của người đã chết. Cung cách sống suốt quãng đời hộ tăng của của bà đã đem lại sự tôn kính từ nhiều người khi bà nằm xuống. 
Sau ngày tang của bà Tư tôi nghĩ tôi cần phải thắp nén nhang lòng để kính viếng bà và để chuộc cái lỗi đã không cho bà được một niềm vui nhỏ nhoi về đứa con út ít của bà. Tôi tin tưởng cảnh giới bà đang ở là một cảnh giới vô cùng an vui, ngợp bóng y vàng của những người con yêu quý. Tôi không tạo được phước báu gì lớn lao ngoài chút phước xuất gia gieo duyên, hành thiền vừa qua để hồi hướng đến cho bà. Và do những lời chân thật này, nguyện cho sự an lạc hằng đến với bà.
Như Quang
Canada, Mùa Vu Lan, 2010
Phật lịch 2554

Năm 1964, anh Phạm Công Thiện được mời vào Sài Gòn để dạy triết Tây tại Viện cao đẳng Phật học vừa được mở tại chùa Pháp Hội (tiền thân của Viện Đại học Vạn Hạnh sau này), tôi được anh cho đi theo. Tôi nhớ anh đã dẫn tôi đến thăm Bùi Giáng vào một buổi chiều, trong một căn nhà ở hẻm Trương Minh Giảng, căn nhà rất ẩm thấp, chật hẹp, gần như không có chỗ cho khách ngồi.
Cố nhớ kỹ lại, tôi vẫn không nghĩ ra là tôi đã gặp thầy Phước An lần đầu vào dịp nào (dĩ nhiên là ở Vạn Hạnh, trong năm 1972, nhưng trong hoàn cảnh nào?). Chỉ nhớ rằng quen nhiều và thân với thầy lắm. Phòng 317 Nội Xá Vạn Hạnh là phòng ở của quý thầy trẻ, là những người tôi rất thân, và đây là một phòng mà tôi có thể ra vào bất cứ lúc nào.
Ba bà Mai kể trên thuộc hai thế hệ. Cả ba đều đã trải qua một kiếp nhân sinh mà “phẩm giá” người dân bị chà đạp một cách rất tự nhiên.” Nếu may mắn mà “CNXH có thể hoàn thiện ở Việt Nam” vào cuối thế kỷ này, như kỳ vọng của ông TBT Nguyễn Phú Trọng, chả hiểu sẽ cần thêm bao nhiêu bà Mai phải (tiếp tục) sống “với tâm thức khốn cùng” như thế nữa?
Và bây giờ, tất cả chỉ còn là kỷ niệm! Hôm nay, tôi xin viết những dòng chữ này để chia sẻ cùng quý vị khán thính giả và anh chị em nghệ sĩ, hầu tưởng nhớ đến người con gái Pleiku “mà đỏ, môi hồng” tên là Phi Nhung, một ca sĩ với tấm lòng nhân hậu dành cho tha nhân, cho cuộc đời và cho quê hương, đất nước.
Không biết trăm, ngàn năm nữa, nhân loại còn có cơ may gặp lại một thiên tài như Albert Einstein? Cụ là bậc thần thánh trong ngành Vật lý học, ngàn năm một thủa giáng trần để nâng cao tầm hiểu biết của con người lên một tầng cao chót vót. Vậy mà kẻ phàm phu này, có một thời gian dài, cứ nghi ông cụ vì vô tình, hoặc đãng trí, đã tỏ ra thiếu tinh thần trách nhiệm. Trách nhiệm với chính một sản phẩm của mình, với những ai tin dùng nó. Sau khi lập thuyết Tương Đối Đặc Biệt (TĐĐB), Einstein đã có nhiều cơ hội để thấy những chỗ bất ổn, sai lầm nghiêm trọng, khiến thuyết không thể sống sót.
Nhằm đạt mục tiêu giáo dục chất lượng cho tất cả mọi đối tượng, cần phát triển tầm nhìn và mở rộng các mục tiêu giáo dục, tạo điều kiện thuận lợi cho những phương pháp tiếp cận toàn diện, tái cấu trúc nội dung giáo dục và xây dựng năng lực quốc gia trong việc phát triển các năng lực chính cần có của người học, thông qua đổi mới chương trình giảng dạy dựa trên tri thức mới của thế kỷ 21.
Như vậy rõ ràng đã có những xung đột về quan niệm sáng tác của các Văn nghệ sỹ yêu chuộng tự do chống lại chủ trương kiểm soát, viết theo chỉ thị, hát theo viết sẵn của Tuyên giáo và của Tổng cực Chính trị quân đội. Hai lối đi này sẽ không bao giờ gặp nhau, dù đảng có quanh co, lèo lái thế nào cũng khó mà giữ chân được các Văn nghệ sỹ cấp tiến không bỏ đảng chạy lấy người.
Cũng vào ngày này, bà Angela Merkel sẽ từ giả chính trường, sau 16 năm làm Thủ tướng và 31 năm làm dân biểu. Nhưng một vấn đề là bà sẽ để lại những gì cho nước Đức? Liệu Đức sẽ có một khởi đầu mới đầy hứa hẹn hay lại trở thành kẻ ốm yếu của châu Âu trong 4 năm kế tiếp? Hầu hết các quan sát viên quốc tế đều có những các bình luận khác nhau mà sau đây là bản dịch những ý kiến tiêu biểu.
Mô hình phát triển của Trung Quốc có thể được tóm tắt như sau: (1) hạn chế tiêu thụ trong nước để (2) gom góp tiết kiệm trong dân chúng nhằm (3) hỗ trợ cho đầu tư. Nếu so sánh cho dễ hiểu thì mô hình này cũng giống kiểu nhà nghèo bớt tiêu xài (hạn chế tiêu thụ) để dành tiền (tăng tiết kiệm) đầu tư cho tương lai (giáo dục con cái, mở cửa hàng buôn bán).
“Mẹ nó bán ruộng, bán vườn để chung tiền cho nó đi, cứ mong nó mang đôla về chuộc đất, xây nhà như những người có thân nhân Việt kiều. Bây giờ nó chết, chưa kịp nhìn thấy tờ đôla xanh. Trước khi chết nó tựa vai em lầm bầm 'Mẹ ơi! Con không muốn làm Việt kiều. Con muốn về nhà. Con muốn cơ cực ở nhà với mẹ suốt đời.' Giọng nó như đứa trẻ con ba tuổi.” (Tâm Thanh. “Người Rơm”. Thế Kỷ 21, Jul. 2010). Đối với nhiều người dân Việt thì muốn sống như một ngư dân nghèo nơi vùng biển quê hương (như ông Dang) hay mong “muốn cơ cực ở nhà gần mẹ suốt đời” (như cô Tuyết) e đều chỉ là thứ ước mộng rất xa vời trong chế độ hiện hành.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.