Hôm nay,  

Sau Ngày Tang

17/08/201000:00:00(Xem: 6762)

Sau Ngày Tang

Như Quang
Tôi vừa trở về từ một khoá thiền ngắn hạn. Vào diễn đàn nào cũng nghe cáo phó, phân ưu về sự ra đi của sư bà Diệu Từ. Tiểu sử sư bà vừa được các MC đọc, vừa được phổ biến trên màn hình. Chỉ cần nghe một người nào vừa mất mẹ là lòng tôi rưng rưng bởi vì tôi cũng đã từng mất mẹ. Nghe mẹ ra đi mà mình không về được để thọ tang có người con nào không thắt ruột" Tôi muốn gởi đôi lời chia buồn đến những người con côi cút nhưng trong không khí sôi động này tôi nghĩ không khéo lời chia buồn của mình sẽ trở thành lố bịch vì những sáo ngữ.
Sau ngày hỏa táng sư bà Diệu Từ, tôi ngồi lại lắng lòng viết những giòng tâm bút để chia sẻ nỗi đau mất mẹ với toàn thể gia đình sư Giác Giới. Những giòng mực tâm không bao giờ trễ muộn bởi những điều xuất phát tự tâm là những điều không có thời gian tính.
Tôi chưa từng biết sư bà Diệu Từ cũng như không hề biết bà Phạm thị Thu. Tôi chỉ biết Bà Tư, người tu nữ từ hòa tại chùa Siêu Lý Vĩnh Long. Tôi đến chùa Siêu Lý vào một ngày mùa hè 2008 và ở đó một ngày, một đêm. Một đêm an trú ở ngôi chùa này tựa như một đêm an trú trên cõi trời Đạo Lợi. Tôi được nghe kinh, được sư Giác Giới dạy đạo, được hành thiền bất cứ nơi nào tôi muốn. Vị trụ trì chùa Siêu Lý là một vị trụ trì vô cùng đặc biệt, tôi chưa hề gặp một vị trụ trì nào như thế. Sư ít giao tiếp và suốt bao nhiêu năm chỉ có một ngôi chùa mà trụ. Mới gặp tôi lần đầu mà sư đã trao cho tôi quyền … trụ trì. Sư giao quyền cho tôi không cần văn bản mà chỉ bằng một câu nói vô cùng đơn giản: ai cũng có thể làm trụ trì. Cô cũng có thể làm trụ trì: trụ giới và trì giới.  Định nghĩa trụ trì của sư giản dị quá nhưng chắc chắn rất khó hành. Sư cho tôi tham dự vào khóa kinh tối, kinh sáng của chư tăng, chỉ khi chư tăng tụng giới bổn sư mới mời tôi ra ngoài.


Buổi chiều trong khi chờ lên chánh điện học giới với sư Giác Giới, tôi ngồi trò chuyện với bà Tư. Bà ngồi nơi ngưỡng cửa trước cốc của bà, hai bàn chân sưng phồng. Tôi nói bà để con xoa bóp cho. Tôi dùng kỷ thuật xoa bóp chân mà người bạn Đông y sỹ người Trung Hoa đã dạy, bấm nhẹ các huyệt dưới lòng bàn chân và xoay cổ chân cho bà. Gương mặt bà hiện ra nét thư giãn và bà hỏi tôi một câu hỏi mà tôi nghĩ là bà đợi chờ để hỏi cả ngày nay vì bà biết tôi ở nước ngoài về: “Cô có ở gần sư Trí Tịnh không"” Câu hỏi của bà làm tôi xúc động vì trước mắt tôi là một bà mẹ quê tiêu biểu. Một bà mẹ ngồi nơi ngưỡng cửa mong con, thấy ai cũng tưởng con về, thấy ai cũng tưởng có quen biết với con mình. Tôi không dám thú thực với bà tôi không hề biết sư Trí Tịnh, chỉ nghe nói sư Giác Đẳng có người em là sư Trí Tịnh nhưng sư ở đâu tôi không được biết. Tôi chỉ biết sư Giác Giới, mà gia đình quen gọi là sư Ba, sư Giác Đẳng, sư Giác Nguyên và sư Pháp Nhiên. Nhưng tại sao bà chỉ hỏi thăm sư Trí Tịnh mà không hỏi thăm sư Giác Nguyên hay sư Giác Đẳng" Có lẻ trong lòng bà mẹ nào đứa con út ít cũng là đứa con chiếm vị trí quan trọng nhất. Tôi định bụng khi trở về Canada sẽ hỏi thêm về sư Trí Tịnh nhưng công việc bề bộn khiến tôi quên. Điều này làm tâm tôi luôn trạo hối.
Ngày bà Tư mất, nếu không nghe thông báo bà có 7 người con, tôi nghĩ số con của bà đông hơn con số bảy kỳ diệu. Xem qua các hình ảnh trên mạng Internet, tôi thấy một người luôn có mặt bên cạnh quan tài bà, luôn đứng cạnh sư Giác Giới. Nếu không biết rõ vị này tôi có thể nghĩ đây là trưởng nam của bà Tư. Và người đặc biệt này chính là vị trụ trì chùa Siêu Lý. Thêm một người con nữa ngay khi nghe tin bà Tư từ trần đã vội vàng bay về từ một trường thiền tại Miến Điện. Một giờ sáng sư đã có mặt tại sân bay Tân Sơn Nhất để kịp về Vĩnh Long kính viếng bà Tư. Có lẻ còn nhiều người con nữa không do bà Tư sanh ra cũng đã vội vàng về nhìn người mẹ từ bi lần sau cuối. Điều này nói lên được tánh hạnh của người đã chết. Cung cách sống suốt quãng đời hộ tăng của của bà đã đem lại sự tôn kính từ nhiều người khi bà nằm xuống. 
Sau ngày tang của bà Tư tôi nghĩ tôi cần phải thắp nén nhang lòng để kính viếng bà và để chuộc cái lỗi đã không cho bà được một niềm vui nhỏ nhoi về đứa con út ít của bà. Tôi tin tưởng cảnh giới bà đang ở là một cảnh giới vô cùng an vui, ngợp bóng y vàng của những người con yêu quý. Tôi không tạo được phước báu gì lớn lao ngoài chút phước xuất gia gieo duyên, hành thiền vừa qua để hồi hướng đến cho bà. Và do những lời chân thật này, nguyện cho sự an lạc hằng đến với bà.
Như Quang
Canada, Mùa Vu Lan, 2010
Phật lịch 2554

Mục tiêu chính của phái đoàn thương mại Hoa kỳ ngồi thương thuyết với phái đoàn cộng sản Việt nam là làm sao đạt được những đòi hỏi có lợi cho tư bản Hoa kỳ với những đặc quyền, đặc lợi ở thị trường Việt Nam. Đó là cái gía mà cộng sản Việt Nam phải trả để
Nghệ thuật mượn sức đôi khi là nghệ thuật mệt sức. Trong mọi cuộc thương thảo, người ta chỉ đạt kết quả khi đôi bên cùng nhượng bộ… một phần. Khi cần nhượng bộ, nhà thương thuyết phải nói với đối phương: "đây là cố gắng tột cùng của chúng tôi, chúng tôi mà lùi thêm một bước nữa thì… chúng ta cùng chết." Sau đấy, khi trở về trình bày với đồng chí,
Thế giới đang e ngại nguy cơ suy trầm kinh tế thì đúng một tuần sau khi Bắc Hàn phóng hỏa tiễn tại Đông Bắc Á, quân khủng bố lại đánh bom tại Mumbai của Ấn Độ; thế rồi xung đột vừa bùng nổ tại Trung Đông và có thể suy đồi thành chiến tranh lan rộng. Diễn đàn Kinh tế Đài RFA sẽ tìm hiểu về hậu quả của cuộc chiến đối với kinh tế
Việc Bắc Hàn gây rối sẽ còn kéo dài, với hậu quả bất lợi cho kinh tế Đông Á. Trước mắt thì xăng dầu và lạm phát sẽ càng khiến kinh tế của khu vực dễ bị suy trầm. Việc Bắc Hàn phóng hỏa tiễn vào tuần qua sẽ ảnh hưởng thế nào đến kinh tế Đông Á trong viễn ảnh kinh tế Á châu có thể bị suy trầm vào năm tới" Diễn đàn Kinh tế đài RFA nêu
Có thể thấy một mối liên hệ dù gián tiếp nhưng vẫn đáng kể giữa thành quả trong giải World Cup với thành tích kinh tế của một xứ mở cửa... Trong suốt một tháng, thế giới lên cơn sốt với giải vô địch bóng đá thế giới World Cup. Với không khí nhộn nhịp tưng bừng ấy, Diễn đàn Kinh tế đài RFA sẽ tìm hiểu khiá cạnh kinh tế của hiện tượng
Vì sao Hồ Cẩm Đào trở lại bài bản Mao Trạch Đông" Ngày xưa, hơn hai mươi năm trước, Đặng Tiểu Bình đánh giá Mao Trạch Đông theo tỷ lệ "tứ-lục". Bốn phần tiêu cực, sáu phần tích cực. Ngày nay, Hồ Cẩm Đào lại có cái nhìn khác. Chưa khi nào Hồ Cẩm Đào công khai phê phán Mao Trạch Đông. Năm 2003, nhân lễ kỷ niệm 110 
Những việc cải cách về chính trị, cơ chế và luật pháp lẫn sách lược kinh tế vẫn là đòi hỏi khách quan...Phải trả lại đất nước cho người dân, trả lại quyền định đoạt về đời sống cho người dân
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.