Hôm nay,  

Võ Đình (1933-2009)

23/06/200900:00:00(Xem: 9281)

VÕ ĐÌNH (1933-2009)

TIỂU SỬ và SỰ NGHIỆP

1933, 14 tháng 11:  Sinh tại Huyện Hương Trà, Thừa Thiên. 
Con của Ông Ngô Đình Thảng và Bà Đỗ thị Hạnh.  Mẹ cưu mang tại
Nghệ An là nơi Thầy làm việc tại Bưu điện.  Thầy gửi Mẹ về Huế để sinh
chốn đế đô. Sau đó Mẹ lại ra Nghệ An.
Tên khai sinh là Ngô Đình Sung, tên gọi ở nhà là Cu Đô. Còn có tên khác là Phó Rèn 
Gia đình mang họ Ngô Đình vì là con nuôi của nhà Ngô Đình (không liên hệ gia đình Ngô Đình Diệm) về sau đổi lại lấy họ nguyên thủy là Võ Đình
1936              
Thầy được đổi về Đà Nẵng.
Mẹ sinh em gái Ngô thị Nga
1943 
Thầy đổi sang làm việc bên Lào.  Mẹ và các con về Huế, cư ngụ tại đường
Mã Khái, thành nội Huế. Học trường tiểu học Thành nội
1945               Vua Bảo Đại thoái vị.
Việt Minh nêu cao trào kháng chiến chống Pháp
1946               Thầy lại đổi về Nghệ An.  Gia đình ra Nghệ An. Ngô Đình Sung đau thương hàn suýt chết.  Thầy nghỉ việc đem gia đình về Huế
1947               Tản cư về quê
1948               Hồi cư.  Học Trung học Khải Định Huế, nay là Quốc học.  Thời đó Khải Định bị Pháp chiếm đóng làm đồn.  Trường học tại khu Chuồng Bò.
1950               Cùng các bạn đồng môn làm báo viết tay Hồn Trẻ, viết truyện ngắn có minh họa, ký tên Thiếu Dũng (theo nhân vật Dũng trong Đôi Bạn của Nhất Linh). 
Bị bắt giam hai lần vì tham gia cao trào Học sinh Kháng chiến, tổ chức biểu tình, ném lựu đan,  truyền đơn … chống Pháp. 
Thầy Mẹ quyết định gửi du học Pháp dưới tên Ngô Đình Thiếu Dũng.
 Chuyến tàu vượt Thái Bình dương nhặt được một sách nhỏ tranh Picasso.
1950-52          Em họ Phan Nhật Nam đến ở với Cậu Mợ để có con trai trong nhà, vì anh lớn theo kháng chiến ra Bắc
1950-53          Trung học Compiègne thuộc quận Oise, 80 cây số Bắc Paris.  Tú tài I. Xuống Lyon Rhône học tiếp.
1954               Hiệp định Genève chia đôi Việt Nam ngang sông Bến Hải.  Đậu Tú tài II tại Paris
1954-55          Ghi danh hoc Luật/Sorbone. 
1956               Văn khoa Sorbone.  Bắt đầu say mê theo dõi sinh hoạt văn học, viếng thăm Viện Bảo tàng, Thư viện, xưởng vẽ…
1957               Không theo lời dặn của Thầy Mẹ muốn con học Y khoa.  Quyết tâm theo đuổi hội họa.  Vào Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật nhưng chỉ say mê những tay tổ Gauguin, Matisse, Modigliani, Picasso, Renoir, Van Gogh… nên theo học Académie de la Grande Chaumière, xưởng vẽ dạy tư nổi tiếng tại Paris.
1958               Gia đình vị hôn thê Alice Webb bạn học tại Paris mời qua Long Island, New York mùa hè.  Kết hôn cùng Alice (gia đình đặt tên Việt là Loan, theo nhân vật Dũng và Loan trong Đôi Bạn của Nhất Linh)
1959               Sinh gái đầu lòng Katherine Phượng Nam tại Paris, tạm ngụ nhà Bà Thầy tại Ville d’Avray, Seine sur Oise và vẫn theo học Mỹ thuật Chaumìère
Gia đình lấy lại họ nguyên thủy Võ Đình.  Tên Mai do Thầy Mẹ chọn để nhớ gốc Mai vàng cổ thụ trước sân nhà. Hoàng Mai. Anh lớn là Võ Đình Hoàng, về sau đổi là Võ Thế Dũng
Từ đây vẽ và viết ký Võ Đình, tên trong thẻ thông hành là Mai Võ Đình
1960              Giã từ Pháp sang Hoa Kỳ, sống tại Maryland.  Cộng tác với Galerie Félix Vercel tai New York.  Di cư sang San Francisco, California ngụ khu xóm nghèo Mission District
1961              Triển lãm cá nhân (one-man show) đầu đời tại Galerie Felix Vercel, New York
1962               Rời California sang Nevada
1963               Triển lãm cá nhân Galerie Felix Vercel, Paris và Galerie Romanet, New York. 
Thiệp Wind Play, United Nations, New York, vẽ con gái Phượng Nam chơi chong chóng.  Phát hành lại 1976
Ly dị Alice Webb
1964               Ngụ tại Kingston, upstate New York.  Gà trống nuôi con.
riển lãm cá nhân Valley House Gallery, Dallas, Texas; Galerie Romanet-Vercel, New York và Palm Beach, Florida
1965               Triển lãm cá nhân Galerie Achard de Souza và Galerie Romanet-Vercel, New York.
Kết hôn với Helen Webb, em ruột Alice (Helen có tên Việt là Huệ Liên, do Thích Nhất Hạnh đặt sau này khi đến thăm Thạch lũng). 
Đoạn tuyệt art gallery cũ.  Di cư đến Matamoras, Pennsylvania. 
1966               Triển lãm cá nhân The Teak Chest Gallery, Montclair
1967               Triển lãm cá nhân Emile Walter Galleries, New York
Sinh gái thứ nhì Hannah Linh Giang tại Port Jervis, New York.
Gặp Thích Nhất Hạnh tại New York
 Thiệp Unicorn, New York
Minh họa Birds, Frogs, and Moonlight, thơ hài cú Nhật, do Sylvia Cassedy và Kunni Suetake dịch ra tiếng Anh
1968               Tết Mậu Thân.  Thảm sát tại Huế
Dịch  và minh họa The Cry of VietNam, thơ Thích Nhất Hạnh, Unicorn Press, Santa Barbara, California
The Crimson Silk Folio, VDM Editions, Pennsylvania
All Year Long , calligraphy, Unicorn Press
Doãn Quốc Sỹ du học Mỹ, từ Tennessee lên thăm. 
1969               Thiệp The Kite, vẽ Phượng Nam thả diều, United Nation, New York
 Triển lãm cá nhân Ligoa Duncan Gallery, New York và Galeries Raymond Duncan, Paris
Dịch và minh họa The Return Path of Thoughts/Nẻo Về Của Ý của Thích Nhất Hạnh, Unicorn Journal #3, Unicorn Press
Unicorn Broadsheet #4, thư pháp, Unicorn Press
1970               Triển lãm cá nhân tại Viện Đại học Vạn Hạnh, Saigon; tại Southern Illinois University, Illinois; tại Undercroft Gallery, Pittsburgh, Pennsylvania; và tại Cornell University, Ithaca
Xuất bản The Jade Song and other Fables of Old VietNam (Chelsea House, New York)
 Xuất bản The Toad is the Emperor’s Uncle, Animal Folktales from VietNam  (Doubleday & Co., New York)
1970-71          Triển lãm cá nhân tại Margo Feiden Gallery, New York
 Dịch và minh họa The Stranded Fish/ Con Cá Mắc Cạn của Doãn Quốc Sỹ, Sáng Tạo xuất bản tại Saigon, Làng Văn Toronto tái bản 1988
1971 và 72      Triển lãm cá nhân tại International House, Denver, Colorado
Triển lãm Vo Dinh, Recent Works, Suzuki Gallery & Margo Feiden Galleries, New York
Aspects of Vietnamese Culture, cùng nhiều tác giả khác, Southern Illinois University, Center for Vietnamese Studies
1972               Di cư về Stonevale (Thạch Lũng), Burkittville, Maryland.  Có biệt danh là Thạch lũng Chân nhân, thư từ hoặc làm thơ có khi ký Thạch Mai
1973               Hiệp định Paris
 Minh họa The Magic Drum, của James Kirkup, Alfred A. Knopf, Inc.
1974               The Woodcuts of Vo Dinh, HB Press, New York
Minh họa First Snow của Helen Coutant, Alfred A. Knopf Inc., New York
Về thăm ViệtNam sau 24 năm xa cách. 
Triển lãm tại Huế và Saigon cùng Đinh Cường
Vẽ tủ thờ nhà Doãn Quốc Sỹ ở Saigon bằng ba màu sở thích đen đỏ vàng
1975               Được giải Christopher Award cuốn First Snow do Helen Coutant viết, Võ
Đình minh họa, Afred A. Knopf Inc., New York
Minh họa The Raft is not the Shore, Conversations toward a Budhist/Christian Awareness, đối thoai giữa Thích Nhất Hạnh và Daniel Berrigan, S.J., Beacon Press, Boston, Massachusetts
1975, 30 tháng 4:  Miền Nam rơi vào tay Cộng sản Bắc Việt. 
1976               Qua Paris cùng Phượng Nam, nhân đám tang bạn Trương Bính
Dịch Zen Poems của Thích Nhất Hạnh, Unicorn Press, North Carolina
1977               Viết thư pháp The Way of Everyday Life, calligraphy for the Shobogenzo Genjokoan, Zen Center of Los Angeles
1978               Minh họa One Thousand Pails of Water của Ronald Roy,  Alfred A. Knopf, New York.
1977-78          Cộng tác Văn học Nghệ thuật của Võ Phiến.
 1980               Xuất bản Xứ Sấm Sét, Lá Bối, Paris.
1981               Dịch sang Việt và Anh ngữ, minh họa và trình bày thư pháp 18 bài thơ thiền xưa từ chữ Hán Hương Thiền/ Fragrance of Zen, Center of Buddhist Culture, Los Angeles.
Xuất bản Tuyết Đầu Mùa, dịch First Snow của Helen Coutant, Lá Bối Paris.
1982               Minh họa The Brocaded Slipper của  Lynette Dyer Vuong, Addison-Wesley, Massachusetts.
Minh họa The Land I Lost của Lynette Dyer Duong, Harper & Row, New York
Minh họa The Happy Funeral của Eve Bunting, Harper & Row Publishers.
1983               Minh họa A Sudden Flash of Lightning, Sư cô Gesshin Myoko Midwer và Thượng tọa Thích Mãn Giác, International Zen Institute of America, Los Angeles
Minh họa Angel Child, Dragon Child của Michelle Maria Surat, Carnival Press, Minneapolis.
Xuất bản A Flower for You, cùng dịch với Helen Coutant, Nam Tuyền Temple, Virginia


1984     .          Litterature Program Fellowship từ National Endowment for the Art, Washington, D.C.
Minh họa The Gift của  Helen Coutant, Alfred A. Knopf, New York.
1985               Mẹ qua đời tại Việt Nam.
Ly dị Helen. 
Qua Pháp mấy tháng tại Làng Hồng do Thầy Nhất Hạnh sáng lập.  Vẽ thiệp Làng Hồng.
Dịch Landscape and Exile cùng nhiều dịch giả khác, Rowan Tree Press, Boston, Massachusetts.
Mở lớp dạy vẽ cho một nhóm nghệ sĩ, trong số có Calvin Edward Ramsburg, đệ tử ruột, sau này thành công và lại mở lớp dạy vẽ, hướng dẫn đặc biệt những người khuyết tật.
1986               Thầy qua đời tại Việt Nam
Dọn nhà  qua Brunswick, Maryland.  Ở một mình.
1987               Triển lãm tại Đại học George Mason, Virginia, đánh dấu 30 năm cầm cọ
Ra mắt Xứ Sấm Sét, Văn nghệ in lại với một số bài viết sau 1980.
1988               Minh họa The Miracle of Mindfulness của Thích Nhất Hạnh, Beacon
Press, Boston, Massachusetts.
1989               Xuất bản Yoga Căn bản, Văn nghệ, California.
Dịch và minh họa The Moon Bamboo của Thích Nhất Hạnh, Parallax
Press, Berkeley, California.
Dịch The Pine Gate của Thích Nhất Hạnh, White Pine Press, New York.
Minh họa và dịch 7 trong 16 truyện/thơ War and Exile của nhiều tác giả,
Văn Bút Miền Đông, Vietnamese PEN, East Coast, USA.
Minh họa Trường ca Lời Mẹ Ru thơ Trương Anh Thụy, Nguyễn Ngọc Bích dich tiếng Anh, Cành Nam Publishers, Virginia.
1990               Xuất bản Đóa Sen và Nụ Cười, Văn Nghệ, California.
1991               Xuất bản Sao Có Tiếng Sóng, Văn Nghệ, California.
Minh họa Tết, The New Year của  Trần thị Kim Lan, Modern Curiculum
Press, Ohio.
1992               Dịch Literature of South Vietnam, 1954-1975, Vietnamese Language &
Culture  Publications, Melbourne, Australia.
Triển lãm tại Montréal, Canada, đánh dấu 35 năm nghệ thuật Võ Đình
Gửi tặng tranh Cánh Hồng  mừng nhân dịp Sắc Lụa của Trần thị LaiHồng triển lãm Áo Dài Việt Nam lần đầu tiên tại Mỹ, Wing Luke Museum,
Seattle, Washington. 
1993               Về thăm Việt Nam.
Minh họa Sky Legends of VietNam của  Lynette Dyer Duong,  Harper
Collins, New York.
1994               Kết hôn cùng Trần thị LaiHồng.
1995               Mừng Võ Phiến “thất thập cổ lai hy” Họp bạn Võ đường Tây Sơn Virginia.
Dịch và minh họa The Stone Boy của Thích Nhất Hạnh, Parallax Press,
Berkeley, California.
1996               Cùng LaiHồng về thăm Việt Nam. 
Di cư về the Sunshine State, Florida, Hoa bang. Tạm trú trại Cây Nhiệt đới của Hoàng Ngọc Hòa.
 1997               Dọn vào nhà mới 12593  82nd Street North, West Palm Beach, FL 33412
Vẽ Chim về tổ trên kính cửa vào nhà, và trồng một Hoàng Mai sân trước Nhà nhỏ đất rộng trồng cây trái hoa rau Việt Nam
Xuất bản Lầu Xép, Văn Nghệ, California
Dịch và minh họa The Pine Gate của Thích Nhất Hạnh, White Pine Press,
New York
1998               Minh họa The Miracle of Mindfulness, a Manual on Meditation của
Thích Nhất Hạnh, Beacon Press, Boston, Massachusetts
1999               Thăm Paris và Amsterdam cùng LaiHồng
2000               Xuất bản Rừng Mắm Văn Nghệ, Văn Nghệ, California
Triển lãm tại Pháp cùng Phan Nguyên, kỷ niệm 50 năm trước đặt chân tới Paris
2002               Xuất bản Huyệt Tuyết, Văn Nghệ, California.
Nguyễn Hưng Quốc từ Úc liên lạc emails về “thư từ” Võ Phiến
2003               Mừng Võ Đình “thất thập cổ lai hi!” 
Cùng LaiHồng về thăm Việt nam.
LH đi HàNội một mình, mang về một cồng cao nguyên và trống đồng Ngọc Lũ sao đúc lại.
Minh họa The Hemit and the Well của Thích Nhất Hạnh, Parallax Press,
Berkeley, California.
2004               Xuất bản Mây Chó do Tổ hợp Xuất bản Miền Đông.  Ra mắt sách tại
Đại học George Mason, Virginia.
2005               Mừng LaiHồng  “bảy chục cái Xuân!”
Xuất bản Một Cành Mai gồm 30 bài thơ Thiền và Kệ của các Thiền sư  Việt Nam, Võ Đình sưu tập, dịch ra tiếng Việt và minh họa, dịch ra tiếng Anh cùng  Công Huyền Tôn nữ Nha Trang,  Hạnh Cơ viết chữ Hán, An
Tiêm Paris/San Jose, California.
Minh họa The Coconut Monk của Thích Nhất Hạnh, Plum Blossom
Books, Parallax Press, Berkeley, California.
Mổ mắt cườm cataracts.  Đi đứng khó khăn. Bắt đầu chống gậy. 
2007, đầu tháng 7, họp mặt mấy o Gió-o tại nhà VĐ/LH, Hoa bang Minh họa Đồng dao và Trò chơi Trẻ con, biên khảo của Trần thị LaiHồng,
 đăng www.gio-o.com/
Minh họa Nhi đồng trong Ca dao, biên khảo của Trần thị LaiHồng, đăng 
www.gio-o.com/
2008              Xuất bản Trời Đất, gồm 10 truyện và 10 chuyện, Tổ hợp Xuất bản Miền
Đông Hoa Kỳ .  Ra mắt sách tại tư gia Hồ Thùy, Oakton, Virginia, có phần phụ diễn Y Phục Phụ nữ Việt Nam Xưa và Nay của Trần thị LaiHồng, kỷ niệm 15 năm phối ngẫu  Châu về Hiệp Phố.
2008              Tháng 10, đi đứng khó khăn, ngã tại phòng mạch Bác sĩ Tâm lý, phải vào
 Bệnh viện cấp cứu, sau đó nhập Trung tâm Phục hồi  ManorCare Health Services Center .
2009, tháng 2,  Bác sĩ chuyên khoa thần kinh hệ khám phá bệnh Progressive Supranuclear Palsy/ suy thoái não, một bệnh rất hiếm, tỷ lệ 1/100,000.
2009, 22 tháng 5, Ni sư Anh Hương đại diện Thích Nhất Hạnh từ Virginia về thăm và
làm lễ Cầu An.
2009, 28 tháng 5, rời ManorCare Center về nhà theo ước nguyện, có Hồng Phúc con gái họa sĩ Dương Phước Luyến giúp đón đệ tử ruột Eddie từ Maryland về thăm. 
2009, 31 tháng 5, 6:20 chiều, qua đời sau bốn ngày tại nhà, có đông đủ vợ, con, và một số thân hữu.
2009, 6 tháng 6, Tang lễ. Hỏa thiêu.  Ngoài vợ, các con và em họ Phan Nhật Nam, có
đệ tử ruột Calvin Edward Ramsburg từ Maryland về chịu tang. 
Một nửa TRO TÀN đem về Việt Nam nơi sinh trưởng, bên kia bờ Thái Bình dương.  Một nửa rải Đại Tây dương nơi từng sinh sống, thành đạt trong văn học nghệ thuật
ẤN PHẨM VÕ ĐÌNH
SÁNG TÁC
Thiệp Wind Play, United Nation, New York, 1963- 1976
Thiệp The Kite, United Nations, New York, 1969
The Crimson Silk Folio, VDM Editions, Pennsylvania, 1968
The Jade Song, Chelsea House, New York, 1970
The Toad is the Emperor’s Uncle, Doubleday, New York, 1970
Aspect  of Vietnamese Culture (with other authors), Southern Illinois University, Center for Vietnamese Studies, 1972
Vo Dinh, Recent Works, Suzuki Gallery & Margo Feiden Galleries, New York, 1972
The Woodcuts of Vo Dinh, HB Press. New York, 1974
Xứ Sấm Sét, Lá Bối Paris 1980; Văn nghệ California, 1987
Yoga Căn bản, Văn Nghệ, California, 1989
Đóa Sen và Nụ Cười, Văn Nghệ, California, 1990
Sao Có Tiếng Sóng, Văn Nghệ, California, 1991
Lầu Xép, Văn Nghệ, California, 1997
Rừng Mắm Văn Nghệ, Văn Nghệ, California, 2000
Huyệt Tuyết, Văn Nghệ, California, 2002
Mây Chó, Tổ hợp Xuất bản Miền Đông Hoa Kỳ, Virginia, 2004
Tuyển tập, Văn Mới, California, 2007
Trời Đất, Tổ hợp Xuất bản Miền Đông Hoa Kỳ, 2008
Tuyển tập II, dự định xuất bản 2010
DỊCH THUẬT
The Return Path of Thoughts, Unicorn Journal #3, 1969
The Stranged Fish, Sáng Tạo, Saigon, 1971; Làng Văn, Toronto, 1988
Zen Poems of Thich Nhat Hanh, Unicorn Press, North Carolina, 1976
Hương Thiền, Trung tâm Văn hóa Phật giáo, Los Angeles, 1981
Tuyết Đầu Mùa, Lá Bối, Paris, 1981
A Flower for You, cùng Helen Coutant Webb, Nam Tuyền Temple, Virginia, 1983
Landscape and Exile, cùng nhiều dịch giả khác, Rowan Tree Press, Boston, Massachusetts, 1985
The Moon Bamboo, Thích Nhất Hạnh, Parallax Press, Berkeley, California, 1989
The Pine Gate, Thích Nhất Hạnh, White Pine  Press, New York, 1989
War and Exile, cùng nhiều dịch giả khác, Vietnamese PEN, East Coast, USA, 1989
Literature of South Vietnam, 1954-1975, Vietnamese Language and Culture Publications, Melbourne, Australia, 1992
The Stone Boy, Thích Nhất Hạnh, Parallax Press, Berkeley, California, 1995
A Branch of Plum Blossom, An Tiêm Paris, California, 2005
 MINH HỌA
Birds, Frogs, and Moonlight, Doubleday, New York, 1967
The Cry of Vietnam, Unicorn Press, Santa Barbara, California, 1968
All Year Long, calligraphy, Unicorn Press, 1968
The Magic Drum, Alfred A. Knopf, New York, 1973
First Snow, Alfred A. Knopf, New York, 1974
The Raft is not the Shore, Beacon Press, Boston, Massachusetts, 1975
The Way of Everyday Life, calligraphy for the Shobogenzo Genjokoan, Zen Center of Los Angeles, California, 1978
One Thousand Pails of Water, Alfred A, Knopf, New Yprk, 1978
Fragrance of Zen, Center for Buddhist Culture, Los Angeles, California, 1981
The Brocaded Slipper, Addison-Wesley, Massachusetts, 1982
The Land I Lost, Harper & Row, New York, 1982
The Happy Funeral, Harper & Row, New York, 1982
A Flash of Lightning, International Zen Institute of America, Los Angeles, California
1983
Angel Child, Dragon Child, Carnival Press, Minneapolis, Minnesota, 1983
The Gift, Alfred A. Knopf, New York, 1984
The Miracle of Mindfulness, Beacon Press, Boston, Massachusetts, 1988
Trường ca Lời Mẹ Ru, Tủ sách Cành Nam, Virginia, 1989
Tết, The New Year, The Children’s Museum, Boston, Massachusetts, 1991
Sky Legends of Vietnam, Harper Collins, New York, 1993
The Hermit and the Well, Parallax Press, Berkeley, California, 2003
Một Cành Mai, An Tiêm Paris, California, 2005
The Coconut Monk, Parallax Press, Berkeley, California, 2005
Nhi đồng trong Ca dao, biên khảo của Trần thị LaiHồng
Đồng dao và Trò chơi Trẻ con, biên khảo của Trần thị LaiHồng
Trần thị LaiHồng soạn ghi.
Hoa bang, 14 tháng 6, 2009, tuần chay thứ nhì.

Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất tự do.
Thây xác trưng ra đó / Còn chưa đủ thối inh? / Mua chi thêm bầy ngựa / Cứt vung cả Ba Đình! - Trần Bang
Tôi sinh ra trong một cái xóm rất nghèo, và (tất nhiên) rất đông trẻ nhỏ. Cùng lứa với tôi, có cả tá nhi đồng mà tên gọi đều bắt đầu bằng chữ út: Út lé, Út lác, Út lồi, Út lùn, Út hô, Út còi, Út ghẻ, Út mập, Út sún, Út sứt, Út méo, Út hô, Út đen, Út ruồi, Út xẹo, Út trọc … Cứ theo cách thấy mặt đặt tên như vậy, người ta có thể nhận dạng và biết được thứ tự của đứa bé trong gia đình mà khỏi phải giới thiệu (lôi thôi) kiểu cách, theo kiểu Âu Tây: – Còn đây là thằng út, nó tên là Út rỗ. Vùa lọt lòng thì cháu rơi ngay vào một cái … thùng đinh! Riêng trường hợp của tôi thì hơi (bị) khác. Tôi tên Út khùng. Lý do: khi mới chập chững biết đi, tôi té giếng. Khi tìm ra con, nắm tóc kéo lên, thấy thằng nhỏ mặt mày tím ngắt, chân tay xụi lơ, bụng chương xình, má tôi chỉ kêu lên được một tiếng “rồi” và lăn ra bất tỉnh.
Chúng ta thấy gì qua những cuộc biểu tình và bạo lực tiếp theo sau cái chết của người thanh niên da đen George Floyd bị người cảnh sát da trắng Derek Chavin dùng đầu gối đè cổ nghẹt thở chiều ngày 25-5-2020 tại thành phố Minneapolis, bang Minnesota? Hàng trăm cánh sát dã chiến với trang bị tác chiến và măt nạ chống khói độc đối đầu với hàng ngàn người biểu tình đòi công lý cho George Floyd và đòi được sống bình đẳng với người Mỹ da trắng. Đó là cuộc đấu tranh chính đáng chống lại áp bức, chống lại bất công của một xã hội đa chủng đa văn hóa như nước Mỹ.
Có vài kinh điển đã nói đến chiến tranh và dùng bạo lực để trừng phạt, nhưng tìm cách biến đổi quan điểm thông thường của thế gian là bạo lực cũng đôi khi cần thiết bằng cách là đối thoại với một lý tưởng không dùng bạo lực. Về điểm này, Phật có nói đến mình như một người xuất thân từ giai cấp lãnh chuá. Trong hai bài pháp ngắn, Phật có bình luận về hai cuộc chiến xảy ra khi ác vương A Xà Thế, Ajàtasattu, tấn công vào lãnh thỗ của chú mình là vua Ba Tư Nặc, Pasenadi, cũng là một tín đồ của Ngài, và được coi như là người luôn làm việc thiện. Trong cuộc chiến đấu tiên, vua Pasenadi bị đánh bại và rút lui. Đức Phật có suy nghĩ về sự bất hạnh này và ngài nói rằng: “Chiến thắng gieo thêm hận thù, người bại trận sống trong đau khổ. Hạnh phúc thay cho một đời sống an hoà, từ bỏ đưọc mọi chuyện thắng thua. Điều này cho thấy rõ rằng sự chinh phục đem lại bi đát cho người thua cuộc mà chỉ đưa tới thù hận và dường như chỉ muốn chinh phục lại kẻ chinh phục.”
Chiều ngày 29/5 sau phiên xử phúc thẩm, một người dân ở xã Bình Phước, ông Lương Hữu Phước, đã trở lại toà án và nhảy từ lầu hai của toà để tự sát. Hình ảnh ông nằm chết, co quắp ngay trước sân toà nói lên nỗi tuyệt vọng, sự cô đơn cùng cực của người dân VN trước các phán quyết của toà án. Tôi chạnh nhớ đến câu nói của thầy giáo Nguyễn Năng Tĩnh trong phiên phúc thẩm của anh: “một lũ bất nhân đã làm ra phiên toà bất công”.
Ôi, tưởng gì chớ tật xấu của đàn ông (nói chung) và đàn ông Việt Nam (nói riêng) thì e đám đàn bà phải càm ràm cho tới… chết – hay ngược lại. Không mắc mớ gì mà tôi lại xía vô mấy chuyện lằng nhằng (và bà rằn) cỡ đó. Nhưng riêng hai chữ “cái làn” trong câu nói (“Lắm đấng ông chồng vui vẻ xách làn đi chợ…”) của Phạm Thị Hoài thì khiến tôi bần thần, cả buổi! Năm 1954, cái làn (cùng nhiều cái khác: cái bàn là, cái bát, cái cốc, cái ô, cái môi, cái thìa…) đã theo chân mẹ tôi di cư từ Bắc vào Nam. Cuộc chung sống giữa cái bàn là với cái bàn ủi, cái bát với cái chén, cái cốc với cái ly, cái ô với cái dù, cái môi với cái vá, cái thìa với cái muỗm… tuy không toàn hảo nhưng (tương đối) thuận thảo và tốt đẹp.
Hoa phượng được Nhất Tuấn gọi là hoa học trò vì thuở đó hầu như ngôi trường nào cũng trồng cây phượng trong sân trường. Khi phượng đơm hoa báo hiệu cho mùa Hè cũng là thời điểm chia tay sau niên học. Để lưu niệm, nữ sinh đóng tập Lưu Bút giấy pelure xen kẽ các sắc màu, trông thật nhã, ghi cảm nghĩ cho nhau… Ở lớp Đệ Tứ, không còn học chung nhau vì lên lớp Đệ Tam theo ban A, B, C và lớp Đệ Nhất là thời điểm chia tay vĩnh viễn, tập Lưu Bút dày hơn, chia sẻ, tâm tình… của tuổi học trò. Hầu như nam sinh không có Lưu Bút, chỉ được xía phần, dù có tinh nghịch nhưng phải viết đứng đắn, lịch sự.
Trong chị Thanh chỉ có một tấm lòng, chứ tuyệt nhiên không có “những bức tường lòng” phân cách Bắc/Trung/Nam – như rất nhiều người Việt khác. Tình cảm của chị tinh khiết, trong veo, và tươi mát tựa như dòng nước của một con suối nhỏ – róc rách, len lách – khắp mọi miền của tổ quốc thân yêu. Bởi thế, dù không biết chính xác chị được chôn cất nơi nao tôi vẫn tin rằng ở bất cứ đâu thì đất nước này cũng đều hân hoan ấp ủ hình hài của người thơ đa cảm, tài hoa, và chuân truyên nhất của dân tộc. Vĩnh biệt Nguyễn Thị Hoài Thanh. Em mong chị mãi mãi được an nghỉ trong an lành và thanh thản!
Đằng sau các cuộc biểu tình chống đối sự kỳ thị trong cái chết của George Floyd là các cuộc đập phá, phóng hoả, cướp và hôi của. Tại sao nó luôn xảy ra trong các cuộc bạo loạn. Đó là một câu hỏi nhức nhối và đau đớn đã làm phiền lòng không những người có mặt trong cuộc biểu tình mà của cả những người ngoài cuộc. Thấy được những cửa hàng thương mại, nhà thuốc, siêu thị, hệ thống bán lẻ bị đốt phá, cướp bóc tan hoang ai cũng đau lòng và phẫn uất, nhất là các chủ tiệm. Những bài phỏng vấn các tiểu thương cùng nhiều video Clip ghi lại những hình ảnh đập phá thu được ở các cửa tiệm thương mại đã làm tôi không ngăn được dòng nước mắt thương cảm cho họ. Các tiểu bang mới được mở cửa mấy ngày sau cơn đại dịch. Giới tiểu thương phải gánh chịu sự mất mát kinh tế trong vòng nửa năm qua, giờ họ lại bị phá sản bởi bao nhiêu vốn liếng tiêu tan trong phút giây. Họ khóc, con cái, gia đình họ khóc, họ chia sẻ nỗi uất hận tai bay hoạ gởi, rồi lại phải nai lưng ra quét dọn, gom góp những tan hoang đổ đi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.