Hôm nay,  

Thiền Hành Trong Mưa

02/10/200900:00:00(Xem: 5727)

Thiền Hành Trong Mưa
                   
Huệ Trân
Thiền hành là hình ảnh đã gây cảm hứng cho biết bao văn nhân, nghệ sỹ khi trái tim họ bắt được sự rung động về vẻ đẹp thong dong bên ngoài qua những bước chân, và niềm hỷ lạc nhẹ nhàng trong nội tâm những hành giả.
Có thể nói, thiền hành cũng là một, trong những phép tu. Bước bằng những bước chân an trú trong chánh niệm để nhận diện từng giây phút hiện tại là ta đang bước, chân ta đang chạm trên mặt đất, tai đang nghe chim hót, mắt đang thấy trời xanh. Ta cũng đang hít thở điều hòa và biết rằng ta đang sống. Câu nói “Tôi sống cho đến khi tôi chết”, nghe qua có vẻ buồn cười, nhưng nghĩ sâu thêm một chút thì sẽ vui cười, vì rất nhiều người quanh ta “đã chết khi đang sống” mà họ không nhận biết. Bởi họ luôn đau khổ vì quá khứ, luôn lo lắng tới tương lai nên phút giây hiện tại thường băn khoăn trong quẩn quanh phiền não!
*
Vị thiền sư mỉm cười, nắm tay hai em bé rồi chậm rãi cất bước. Bốn con mắt trẻ thơ long lanh cười theo và bước theo. Đoàn người quanh đó cũng làm như vậy. Họ nắm tay nhau hoặc không, nhưng hình như họ cùng mỉm cười rồi nhẹ nhàng cùng bước.
Mùa Xuân, hoa dại ven đường vẫy tay với họ. Mùa hạ, cây trái ngọt ngào mời gọi đong đưa. Mùa thu, thảm lá vàng lao xao trúc tím. Rồi không chờ, chẳng hẹn, nhánh hoa lê mùa đông đã trắng muốt bên song … Cảnh vật có thể đổi thay theo từng mùa mưa nắng nhưng bước thiền hành không hề thiếu vững chãi, an vui.
*
Hàng trăm tu sỹ trẻ vừa bị rượt đuổi trong đêm mưa!
Họ đang bước hay chạy"
Họ bị áp lực bứng khỏi nơi chốn mà lẽ ra họ có quyền được an trú để tu học. Họ bị áp lực, hoặc bỏ con đường đã chọn và đang đi, hoặc sẽ bị rượt đuổi tới cùng!
Đâu được gọi là “tới cùng” khi con đường họ chọn là “Đi để mà đi”, đi trong tỉnh thức, đi trong an lạc, đi không điểm tới, chính là tới trong từng điểm đi.
*
Ngày chú mục đồng Cát Tường ở thôn nghèo Ưu Lâu Tần Loa được nhận vào tăng đoàn của Phật, chú sung sướng lắm. Lần đầu rời quê, chú nôn nao mơ tưởng những chân trời mới lạ đang chờ đón trước mặt. Ngày đầu theo tăng đoàn cùng hướng về thành Vương Xá, chú nhận thấy mọi người đi chậm quá! Phật đi trước, thong dong tự tại. Những vị khất sỹ theo sau cũng tự tại thong dong. Chỉ có mình chú nôn nóng, thầm nghĩ “Đi thế này thì bao giờ mới tới!”.


Đoàn người cứ ngày đi, trưa ôm bát vào xóm khất thực, tối ngủ trong rừng cây êm mát. Được quá nửa chặng đường chú mới cảm nhận sự an lạc của “đi để mà đi chứ không phải đi để mà tới”.       
Khi cảm nhận được điều đó thì cái được gọi là điểm tới, đã tới lúc nào mà chú không hay!
Hóa ra, điểm tới chỉ là một cách diễn đạt, chứ Vương Xá nào phải là điểm tới; như Ưu Lâu Tần Loa nào phải là điểm đi.
Tới đi, trên dưới, phải trái, thấp cao …v…v… tùy ở cách nhìn, ở đối tượng, ở mục đích, và vi tế hơn, ở cảm nhận của chiều sâu tâm linh.
*
10 giờ đêm 27 tháng 9 năm 2009 các thầy và các sư chú trong tu viện Bát Nhã bị áp lực của dao gậy bạo động lùa hết ra ngoài sân.
Khi ấy, trời đang mưa lớn!
Những người con bé nhỏ của Như Lai bị đẩy đi.
“Đi! Đi bất cứ đâu! Ra khỏi Bát Nhã ngay!”
Như thế đó!
Nhưng làm sao mà những người con của Như Lai, khi đã có thể đắp áo Như Lai, ngồi như Như Lai, quán như Như Lai, lại có thể không thiền hành như Như Lai"
Như thế đó!
Đoạn đường 17 cây số, dưới mưa tầm tã, với đe dọa hung bạo kè sát bên, các thầy và các sư chú đã THIỀN HÀNH TRONG MƯA.
Dù bước chân có bị áp lực bắt đi nhanh hay bắt chạy chăng nữa, nhưng khi tâm đã là tâm Phật thì đi trong mưa hay nắng, nhanh hay chậm, bước nào không là bước thiền hành"
Đi để mà đi, rồi tới Vương Xá.
Bước để mà bước rồi tới Phước Thuận.
Vương Xá không phải điểm tới.
Phước Thuận cũng không phải điểm tới.
Vì đường Như Lai thênh thang.
Những ai vẫn cố tình nhắm mắt làm ngơ, xin mời chỉ bước một bước trong đoạn đường đêm 17 cây số dưới cơn mưa tầm tã ấy, dưới đói lạnh, dưới những đe dọa, rượt đuổi tàn bạo ấy, rồi xin cho biết, mưa hay nước mắt đang rạt rào!!!
Chỉ xin được mời cùng bước một bước thôi, rồi quý vị có thể quay về với những ấm cúng và an toàn của riêng mình.
Nếu nơi đó còn thực sự là ấm cúng và an toàn.
NAM MÔ VÔ BIÊN THÂN BỒ TÁT
NAM MÔ QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT
Huệ Trân
(Đại Ẩn Sơn-Lộc Uyển Tự, cuối thu 2009)

Giáo hội xin tán thán tinh thần hộ đạo và tu đạo của quí Thiện nam Tín nữ trong hoàn cảnh tai ương đầy kinh hãi hiện nay. Tất cả năng lực và công đức lớn lao này của người đệ tử, chúng con xin dâng lên cúng dường đức Thế Tôn trong ngày Đản sinh. Hàng trăm ngàn trái tim, hàng vạn ngàn bàn tay siết chặt giữa những thương đau tràn ngập của nhân loại, chúng con nguyện quán chiếu thật sâu sự khổ nạn hiện nay để kiên nhẫn mà vượt qua.
Có lẽ cả Trung Cộng lẫn Hoa Kỳ đều không mong muốn việc khơi mào cho một cuộc xung đột vũ trang, nhưng trước thái độ xác quyết của tổng thống Joe Biden, Trung Cộng hiểu rằng họ đang đối đầu với một đối thủ nguy hiểm gấp bội lần so với những năm qua.
Với chế độ độc đảng toàn trị hiện hành, với bộ máy tam trùng hiện tại, với văn hoá tham nhũng hiện nay, và với chủ trương cấm tự do báo chí cố hữu … thì chuyện sống được bằng lương mãi mãi chỉ là một kỳ vọng xa vời. Vô phương thực hiện!
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
Khách đến Việt Nam ngày nay thấy nhiều nhà cao cửa rộng, xe chạy chật đường hơn xưa. Nhưng đa số người Việt Nam có vẻ không có cái nhu cầu dân chủ của người Myanmar hay người Hồng Kông. Hay là họ có, nhưng 20 năm chiến tranh đã làm họ mệt mỏi, xuôi xị chấp nhận chút đầy đủ vật chất, nhắm mắt với tương lai? Và Đảng Cộng sản Việt Nam có thể hy vọng người Việt sẽ ngoan ngoãn như người dân Bắc Hàn, không cần dự phần tự quyết cho tương lai của mình và con cháu mình?
Ngày 30/4 năm thứ 46 sau 1975 đặt ra câu hỏi: Còn bao nhiêu năm nữa thì người Việt Nam ở hai đầu chiến tuyến trong chiến tranh mới “hòa giải, hòa hợp” được với nhau để thành “Một Người Việt Nam”? Hỏi chơi vậy thôi chứ cứ như tình hình bây giờ thì còn mút mùa lệ thủy. Nhưng tại sao?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.