Hôm nay,  

Sen Hồng Một Đóa

28/03/200900:00:00(Xem: 8077)

Sen Hồng Một Đóa

Thích Nữ Chân Liễu

Lò lửa sen hồng mấy kẻ hay

Mây che nguyệt rạng chẳng phô bày

Ngọc lành ẩn đá không phai sắc

Bể thánh nguồn chơn mặc tỉnh say.

Bốn câu thơ trên là của Ni trưởng Như Thanh, một bậc tài năng xuất chúng được sự ngưỡng mộ và khâm phục trong ni giới Phật giáo Việt <"xml:namespace prefix = st1 ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:smarttags" />Nam. Như ngọn đuốc sáng bừng trong đêm tối, Ni trưởng là một bậc chân tu vì đạo quên mình, sanh năm Tân Hợi 1911, tại huyện Thủ đức, Gia định. Thiện duyên đưa đến, Ni trưởng xuất gia năm 22 tuổi, đệ tử của Tổ Pháp Ấn, chùa Phước Tường, Thủ đức. Với trí thông minh và lòng hiếu học, cộng thêm nhẫn lực vô biên, Ni trưởng đã đạt được nhiều thành quả trên đường tham học Phật pháp từ Namra đến Huế và Hà nội. Năm 1972, Ni trưởng được Giáo hội giao trọng trách Vụ trưởng Ni bộ Bắc tông, và giữ vai trò Cố vấn tối cao trong các nhiệm kỳ kế tiếp. Ni trưởng viên tịch năm 1999, để lại bao thương tiếc cho hàng đệ tử xuất gia và tại gia.

Vài trang giấy không đủ nói lên hết được đạo hạnh và gương sáng của người, nhưng để chia sẻ với những người đang học Phật và tu Phật, những lời dạy quí báu của người ghi lại trong quyển sách "Cuộc đời và sự nghiệp của Sư trưởng Như Thanh" xem như một nhân duyên thiện lành đặc biệt. Thành kính đảnh lễ giác linh Ni trưởng với tấm lòng tri ân và niềm cảm phục của hàng hậu học.

Nếu như xưa kia, khi đồng ý cho bà di mẫu Maha baxà bađề (Kiều Đàm) cùng 500 người nữ xuất gia trong giáo pháp, đức Thế tôn tuyên báo rằng chánh pháp vì vậy sẽ diệt vong sớm 500 năm. Không ai có thể đoán rằng chánh pháp tồn tại bao lâu để làm bài toán trừ 500 năm đó. Khi đề cập đến quá trình lịch sử đức Phật không cho phép người nữ xuất gia một cách dễ dàng, Ni trưởng đã có một cái nhìn tuệ giác như sau:

"Vì trách nhiệm của người xuất gia rất nặng nề, khó nhọc, mà phạm hạnh cũng khó thực hành, bởi thế đức Phật không hứa cho người nữ xuất gia một cách dễ dàng. Đây là bổn ý của đức Phật muốn mở rộng con đường hóa đạo cho tất cả người nữ sau này. Bởi sự giáo dục của người nữ thời ấy chưa được phát triển, nên họ ở trong thế gian bị nhiều sự chướng ngại buộc ràng, làm cho tâm tính không được sáng tỏ, ý chí không được sâu rộng. Đức Phật vì muốn cho hàng Tỳ kheo ni chứng đến các pháp thiệt tánh mà Ngài đem tâm bình đẳng phương tiện dẫn dắt, khiến cho mọi người đều được tăng trưởng thiện báo, tiêu trừ ác nghiệp, sửa đổi phong hóa ở thế gian trở nên tốt đẹp. Hàng Tỳ kheo ni ở trong chánh pháp của đức Phật gặp được cơ hội mở mang, truyền bá, làm cho ánh sáng Phật pháp được chói rạng, tạo công đức vô lượng".

Đạo Phật đã đi sâu vào cuộc đời. Đạo Phật không phải là lý thuyết suông để bàn luận. Đạo là sống và hành. Đạo là sự chân thật, sáng suốt, đậm đà và thanh thoát. Để dẫn dắt người nữ tu vượt qua được bản tánh nhi nữ thường tình, nhờ khép mình trong giới pháp, vượt qua mọi trở ngại thuận nghịch bằng khả năng tu chứng, thì người nữ tu vẫn có thể phụng sự và xiển dương Chánh pháp. Ni trưởng chủ trương một căn bản đào tạo ni tài, lập nguyện kiên cường cho ni chúng, trao truyền tam học: Giới, Định, Tuệ.

Ni trưởng dạy rằng:

-Giới học là giềng mối của người tu Phật.

-Định học là phép tắc điều phục tâm trí.

-Tuệ học là năng lực bạt trừ nghiệp chướng si ái.

Ni trưởng Như Thanh đã trải thân phục vụ đạo pháp, khiến cho pháp âm truyền bá khắp nơi. Người là một bậc Ni trưởng đạo cao, đức trọng, làu thông kinh luật, trước tác, dịch thuật nhiều tác phẩm có giá trị. Ni trưởng đã dẫn dắt hàng ni chúng hậu học thoát khỏi những mặc cảm tự ti, sợ hãi, nhút nhát và khai sáng trí tuệ cho hàng đệ tử. Công đức của người thực vô lượng, vô biên.

Ni trưởng luôn luôn quan niệm, để chia sẻ gánh nặng hoằng pháp, người xuất gia, không phân biệt tăng hay ni, đều có trách nhiệm góp phần công đức để đền đáp công ơn sâu dầy của đức Thế tôn.

Khi nói lên phạm hạnh cao quí của hàng xuất gia, trong tác phẩm "Giới đức khiêm ưu", Ni trưởng đã viết như sau:

"Phẩm hạnh cao quí của tăng già là do công phu tu dưỡng gồm đủ sự lý, đối với tất cả chúng sanh, tìm đủ các chước phương tiện làm lợi ích cho mọi người, như khát thì cho uống, đói cho cơm ăn, bịnh cho thuốc uống, lạnh cho áo ấm, gặp sợ sệt giúp đỡ an ủi hết sợ sệt, thiếu trí tuệ giúp đỡ mong cho tâm trí trở nên sáng suốt, cho đến bỏ mình cho cọp đói ăn cũng gọi là đức hỷ xả bố thí. Trong hoàn cảnh nhịn khổ chịu nhọc, trăm phen bẻ gảy mà lòng vẫn dai bền, việc khó nhọc là cố gắng học tập, việc khó làm cố gắng siêng làm. Dẫu có người khuấy rối, dằn ép cũng chẳng căm tức, giận hờn, hình dung vẫn tự nhiên, chẳng tác sắc nóng nảy bứt rứt".

Với khả năng, đức độ, tâm từ bi của người đã tạo cho hàng ni chúng xuất gia tiến trên con đường giác ngộ và giải thoát. Sự tương kính nhau như tỷ muội, dùng tâm niệm bình đẳng đối xử, phẩm hạnh của người tu trong chúng nên tự xét lại mình để chừa bỏ lỗi lầm, thay vì phóng tâm  nghĩ đến hơn thua, phải quấy, đúng sai, được mất, biểu lộ đức tính hiền từ, lễ độ, khiêm cung, khoan dung, hòa lạc, khiến người xung quanh sanh lòng quí mến như hoa sen nở hương thơm ngát.

Huynh đệ cùng nhau gắng học hành

Lời qua tiếng lại nhớ đừng tranh

Quyết lòng sửa tánh cho thanh tịnh

Xuân đến đời ta đặng tiếng thanh.

(Hoa Đạo)

Trải qua trong cõi phù sinh

Học rành chữ nhẫn hữu hình ngại chi

Nhẫn là phước quả từ bi

Giúp ta thâm ngộ vô vi đạo mầu.

(Hoa Đạo)

Lời thơ của người là khuôn vàng thước ngọc. Thơ văn của một bậc chân tu đầy đạo tình đạo vị, người đọc cần lắng lòng tỉnh ngộ. Ni trưởng còn khuyên nhắc về trách nhiệm của Tỳ kheo ni về sự nghiệp hoằng pháp như sau:

1) Xuất gia vì mục tiêu giải thoát tự thân và tha nhân.

2) Thiết tha cầu học chánh pháp giữa biển sống vô thường.

3) Thể hiện nghiêm túc nếp sống phạm hạnh Giới-Định-Tuệ,

4) Phát triển văn huệ, tư huệ và tu huệ.

5) Tích cực tiếp dẫn hàng hậu học.

6)         Thao thức vì sự nghiệp độ sanh, hưng khởi chánh pháp.

Ni trưởng là một vị Bồ tát dấn thân từ ni giới, mang tâm niệm cứu khổ chúng sanh, thức tỉnh mọi người quay về với tình thương vô hạn trong giới pháp của đức Thích ca mâu ni. Dòng pháp nhủ của Ni trưởng Như Thanh là dòng nước cam lộ của đức Quán thế âm, làm dịu mát những nhiệt não của thế gian, khơi dậy ngọn đèn trí tuệ, không bị tham sân si trói buộc, sai khiến, hành xử lợi mình lợi người, sống với tâm Phật không còn bị vô minh che lấp.

Trong tác phẩm "Hành Bồ Tát Đạo", Ni trưởng đã đem tâm huyết của mình để truyền trao lại cho người xuất gia cũng như tại gia. Ni trưởng viết:

"Nếu trong một lúc nào đó, chúng ta lắng yên được tâm thức, để cho nó vắng lặng rỗng rang, chẳng khởi lên một niệm suy tính so lường, thì tất nhiên trong sát na ấy, chúng ta nhìn rõ được bản lai diện mục của mình, thấy rõ chân tâm thể tánh của mình vốn bất sanh bất diệt, nó xóa bỏ mọi ranh giới ngã và nhơn, thiện và ác. Trong giây phút linh diệu ấy, tâm thức chúng ta bổng nhẹ nhàng, cõi lòng mở rộng với muôn ngàn thương yêu, tình cảm trong sáng dịu dàng, nó chẳng phải là thứ tình cảm hạn hẹp, phát sinh từ lòng ái dục, mà phát xuất từ tâm bi, nên nó bao la, tươi nhuần và bình đẳng, vô phân biệt. Bấy giờ cái nhìn của chúng ta đối với vạn vật cũng trong suốt và bình đẳng như thế. Đây là giây phút mà tâm ta vô trụ, không vướng mắc, hoàn toàn tự do. Nếu sống mãi với tâm vô trụ như thế, chúng ta đã được giải thoát, được an nhiên tự tại".

Chư Phật không có tâm phân biệt đây là tăng, đây là ni, đây là tướng nam, đây là tướng nữ, tướng đẹp tướng xấu, tướng giàu tướng nghèo. Chư Phật bình đẳng tuyệt đối trong phong cách hóa độ chúng sanh. Bổn phận người tu phải nhận ra con đường chư Phật đã đi và đã đến.

Đức Phật đã dạy chúng ta hãy mồi ngọn đuốc chánh pháp của Ngài để tự thắp sáng trí tuệ, thấy đường mà tu, thấy đạo mà hành. Các đấng Tôn sư đã tha thiết giảng dạy, khuyến tu, chớ nên đợi khi vô thường đến, không phân biệt già trẻ, sang hèn, tuổi đời càng chồng chất, đau yếu bệnh tật sanh ra, làm cho con đường đi đến giác ngộ ngày càng thêm khó khăn, trắc trở. Bao nhiêu đời kiếp đã qua, con người mãi trôi lăn trong sanh tử luân hồi, không biết đến kiếp nào mới vượt thoát được.

Tóm lại, Ni trưởng Như Thanh như một đóa sen hồng vượt ra khỏi mặt nước với vẻ đẹp cao quí của một bậc giác ngộ. Tư tưởng nhập thế cứu khổ của người đã để lại cho đời một tấm gương sáng. Ni trưởng đã vân du khắp mọi miền đất nước, để thuyết giảng không hề mệt mỏi. Cho đến ngày thanh thản ra đi, để lại cho đời và cho đạo  nhiều tác phẩm có giá trị tu học, Ni trưởng vẫn còn mong các đệ tử Phật gia phải giống như hoa sen rạng ngời ánh sáng trí tuệ, đem ngọn đuốc chánh pháp soi rọi khắp thế gian u tối, giúp mọi người thoát khỏi bùn nhơ khổ đau phiền não, vượt lên trên mặt nước như những đóa sen hồng tỏa hương thơm tinh khiết của sự giác ngộ và giải thoát. [

NamMô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Thích Nữ Chân Liễu

<"xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:office" /> 

Kiều khuyên Từ Hải ra hàng nên Từ bị phục binh vì Tôn Hiến bội hứa. Từ chết đứng như một cột trụ chống trời. Kiều khóc than thì thây Từ mới ngã xuống. Câu cảm động nhứt đoạn nầy là : Tôi tưởng vậy có đâu hay vậy!
Trong kho tàng văn chương truyền khẩu hay huyền thoại Việt Nam đã có nhiều chuyện duyên-nợ.
Lâu nay, trong tiếng gào khóc của người dân oan khắp ba miền đất nước, hoà trong nước mắt bao giờ cũng có những kể lể, trách mắng, đầy phẫn uất với tiếng “nó”: nó đến kìa; nó rình rập; nó ác lắm;… hay chúng nó tàn nhẫn lắm!
Sau khoảng đường dài làm cho mọi người trên xe mệt mỏi. Bổng dưng bác tài lên máy đánh thức mọi người ông nói chúng ta vào thành phố Bagan. Xe ngừng tại khách sạn Yarkinntha, bà con xuống xe check in lấy phòng. Tôi giao chìa khóa phòng cho ông bạn rồi hấp tấp xôâng pha ra ngoài đi khám phá cái phố cổ Bagan.
Du khách đến Bagan là để xem Hoàng Hôn. Chùa Syasando là nơi lý tưởng để xem Hoàng Hôn. Chùa được xây cất giửa hàng trăm ngôi chùa lớn nhỏ chung quanh. Chùa xây dựng năm 1057, cao 5 tầng, trên đỉnh là cái tháp nhọn, Nghe nói chùa này thờ sợi tốc của đức Phật. Du khách đến đây để chiêm ngưởng cái huyền bí của Hoàng Hôn. Họ đến rất đông. Anh Roberto và Manuala đến từ Italy, Cô Kim Dung từ Thụy Sỹ và nhiều người khác nửa. Khi mặt trời vừa nghiên bóng, mọi người sắp hàng đứng trước thành chùa, nhìn hàng ngươi đang leo bên trên mà phát sợ. Tay họ bám chặt cái thanh sắt, vươn lên từng bước rất sợ hải. Mệt nhọc leo lên 5 tầng đến cái sân thượng trên đỉnh chùa. Lên đến nơi. Trời mát hết mệt mà cũng hết sợ. Gặp nhau tươi cười, chúc mừng cho nhau đã lên đến nơi. Đừng nghĩ đến chuyện đi xuống mà xui xẻo. Chúng ta sẻ phải đi xuống và chỉ có một cách đi thôi. Đi thụt lùi từng bước một.
Sau những ngày mừng lễ Chúa Giáng Sinh, Cộng Đoàn Thánh Giuse Tacoma của chúng tôi đang rộn ràng chào đón xuân sang với nhiều sinh hoạt thật đặc biệt mang tính độc đáo mà chỉ có cộng đoàn thương mến của tôi mới có. Cùng chuẩn bị đón xuân mới với lòng náo nức, nhiều niềm vui khiến tôi chạnh nhớ về những mùa xuân của tôi và gia đình trên đất nước cờ hoa này, trên thành phố Tacoma như là quê hương thứ hai của mình.
Đây là quyển tiểu thuyết được xem là “ Một Hiện tượng Sách được Bán chạy nhất trên nhiều Quốc gia” (International Bestselling Phenomenon) do văn sĩ người Brazil tên Paulo Coelho, sinh năm 1947 tại Rio de Janeiro, là một trong những văn sĩ có ảnh hưởng to lớn nhất trên thế giới. Đa số truyện của ông đã được bán hơn 135 triệu cuốn trên 168 quốc gia và đã đươc dịch sang 73 thứ tiếng. Văn sĩ được tờ báo danh tiếng New York Times có lời phê là : “ Phù thuỷ người Brazil này làm sách ông biến mất khỏi các hiệu sách.”
tại Hội trường Đài VNTV (Viet News Television - 4655 Ruffner Street, San Diego), vào lúc 7 giờ tối thứ sáu ngày 18 tháng 1 năm 2019 nhiều câu hỏi gửi đến từ khán giả qua hình thức ghi vào giấy và được Mẹ Nấm tuần tự trả lời theo thứ tự.
kính mời quý vị đến tham dự buổi ra mắt tác phẩm, chuyện trò với Nguyễn Thị Thanh Bình, Đặng Phùng Quân & Hàn Song Tường - thứ bảy mồng 2 tháng 2 năm 2019 • Tại Viện Việt Học
một mai về với mây ngàn/ chỉ xin nhớ chút dịu dàng của nhau./ Xin cảm ơn anh Trịnh Y Thư, và xin giới thiệu với những người yêu tiếng Việt "từ khi mới ra đời" một thi phẩm rất hay: "Phế tích của Ảo ảnh".
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.