Hôm nay,  

Ông Trời Ở Đâu...

09/09/200800:00:00(Xem: 9809)
“ĐÂU CÓ TÌNH YÊU THƯƠNG, Ở ĐẤY CÓ ĐỨC CHÚA TRỜI!”

Ông Trời ở đâu" Thiên Chúa ở đâu"

Có bản thánh ca quen thuộc, đầu đề bằng tiếng Latinh là: “Ubi Caritas...”Bản thánh ca này đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và phổ nhiều điệu nhạc khác nhau. Bản tiếng Anh là “Where There Is  Love...” Linh mục Vinh Hạnh đã chuyển dịch sang tiếng Việt Nam và phổ nhạc trong Bài hát với giọng rất tha thiết và đạo đức: “Đâu có tình yêu thương, ở đấy có Đức Chúa Trời...”  Hầu như cuốn thánh ca nào cũng có bài này.

Từ lâu tôi có nghe kể câu chuyện về một nhà họa sĩ chuyên nghiệp. Vào cuối đời, ông muốn vẽ một “họa phẩm” để đời, một họa phẩm thật giàu ý nghĩa, có thể lưu truyền mãi mãi trong dân gian. Một buổi sáng ông thức dậy sớm và đi lang thang để tìm hứng cho bức họa.  Khi đi ngang qua một Thánh đường , ông  thấy một tu sĩ đang cầu nguyện. Ông đến cúi đầu chào và xin Cha dòng cho ý kiến về bức họa mà ông đang có ý định thực hiện. Sau khi bàn luận với nhau, Cha dòng suy nghĩ một lát và trả lời: xin họa sĩ hãy lấy chủ đề là “Niềm Tin”, một bức họa diễn tả về “Niềm tin”: niềm tin giữa con người với nhau và niềm tin của con người nơi Thiên Chúa là đấng tạo dựng và là Cha mọi người. Chính vì thiếu niềm tin tôn giáo đích thực, nên con người ngày nay sống trong ngờ vực, nghi kỵ lẫn nhau và gây ra sự chia rẽ giữa con người với con người (dù ngay trong một gia đình); rồi giữa các chủng tộc và ngay cả giữa các tôn giáo.

Nhà họa sĩ cám ơn Cha dòng và tiếp tục đi. Đến gần trưa, ông đi vào một công viên để nghỉ mát, chợt ông nhìn thấy một đôi bạn trẻ đang ngồi trên ghế đá, vui vẻ tâm sự thân mật với nhau. Ông đến gần, xin lỗi hai bạn trẻ và xin ý kiến hai người về bức họa ông sắp vẽ. Đôi bạn vui vẻ nhận lời và sau một vài trao đổi về ý định của  họa sĩ, hai người mau mắn trả lời: Bác ơi, bác hãy vẽ một bức họa diễn tả

“Tình Yêu”... Vâng “tình yêu”, tình yêu như chúng cháu đang có với nhau đây. Cuộc đời thật là hạnh phúc và êm đẹp biết bao nếu con người biết thương nhau như chúng cháu lúc này... Bác hãy vẽ về tình yêu,  thì bức họa của bác sẽ tuyệt vời và sẽ được nhiều người chiêm ngưỡng... Nhà họa sĩ cám ơn hai bạn trẻ, và chúc tình yêu của hai bạn trước và sau khi đã kết hôn, mãi mãi cứ đẹp như ngày hôm nay; rồi ông lại lên đường đi tiếp.

Đi mãi, đi mãi... buổi chiều ông đi đến con đường dẫn ra ngoài thành phố. Chợt ông thấy một binh sĩ quần áo bám đầy bụi bậm, vai vác súng  đang vội vã đi vào thành phố. Nhà họa sĩ đến gần chào người lính và xin anh hãy ngồi xuống nghỉ mệt một chút; rồi ông cũng nói cho anh nghe về ý định của mình. Chàng chiến sĩ cảm thấy hãnh diện vì được nhà họa sĩ phỏng vấn, anh như lấy lại đươc niềm vui và mau mắn trả lời: Bác ơi, bác hãy vẽ bức tranh về

“Hòa Bình,” vâng về Hòa Bình... Cháu vừa mới ở mặt trận trở về đơn vị trong thành để báo tin tức... Trời ơi, cuộc chiến thật là khủng khiếp... Người ta giết nhau, chém giết nhau khủng khiếp quá. Bác hãy vẽ đi, vẽ đi để bảo cho nhân loại biết từ bỏ hận thù, thay vì giết nhau thì hãy chung tay xây dựng Hòa bình. Nhà họa sĩ cám ơn anh lính chiến rất nhiều. Những lời anh nói làm ông rất xúc động.

 Trời đã xế chiều, và mệt mỏi, sau một ngày đi hết chỗ này đến chỗ kia, ông lên đường trở về nhà. Trên đường đi về, ông suy nghĩ rất nhiều: Làm sao tôi có thể vẽ được một bức họa có thể diển tả được cả ba đề tài: Niềm tin, Tình yêu và Hòa bình. Vừa đi ông như vừa chìm đắm trong suy tư... Cuối cùng ông về tới nhà và gặp người vợ hiền cùng bầy con chạy ra đón ông trong niềm vui mừng thật hồn nhiên. Nhìn người vợ và đàn con thân yêu vui mừng ra đón mình, ông quên cả mệt nhọc của một ngày đi đường, và nhận ra một niềm vui khôn tả, cùng với một tư tưởng chợt lóe lên trong đầu ông : Đây rồi, đây rồi... đây là bức họa tuyệt vời có thể nói lên được cả ba tư tưởng: Niềm tin, Tình yêu và Hòa bình. Bức họa một gia đình sống hạnh phúc trong niềm tin nơi Thiên Chúa, và niềm tin tưởng lẫn nhau, trong tình yêu thương , hòa thuận.

Một gia đình luôn sống bất hòa là một gia đình thiếu niềm tin tưởng lẫn nhau giữa vợ chồng, cha mẹ và con cái; lại cũng vì gia đình thiếu niềm tin tôn giáo, là sức sống gia đình; từ đó gia đình không có tình yêu thương, và tất nhiên không thể sống trong hòa hợp, trong an bình để được hạnh phúc...

Thế giới ngày nay cũng đầy những hận thù chém giết, khủng bố vì thiếu niềm tin, niềm tin tôn giáo chân thật, niềm tin tưởng lẫn nhau, và từ đó thiếu tình yêu thương và đưa đến chiến tranh phá hoại nền hòa bình hạnh phúc chung cho cả nhân loại.

Đứng trước hiểm họa tàn phá của tranh chấp và chiến tranh, các nhà lãnh đạo tôn giáo đã có những buổi gặp gỡ để cùng cầu nguyện (mỗi đại diện dâng một lời cầu nguyện, tùy theo niềm tin của mỗi tôn giáo) và bàn luận để đi đến những giải pháp cứu vãn thế giới và chung tay xây dựng tình yêu và hòa bình thế giới. Trong năm vừa qua ,  đại diện  các tôn giáo chính đã gặp gỡ nhau ở thành phố Naples (Ý).

Trở lại câu hỏi:  “Ông Trời ở đâu"”

Để trả lời câu hỏi trên, chúng ta có thể nói ngay: Chỗ nào cũng có Ông Trời, hoặc Ông Trời ở khắp nơi. Ông Trời không có hình tượng như con người, nên không lệ thuộc vào không gian và thời gian; vì thế mới gọi Ngài là Đấng thiêng liêng và hằng hữu.

Khi có người hỏi Chúa Giêsu “Nước Trời ở đâu"”. Ngài trả lời: “Nước Trời ở giữa anh em!” (Luca 17, 21) . Một dịp khác, Chúa Giêsu nói với các môn đệ: “Nơi nào có hai ba người ý hiệp tâm đầu trong lời cầu nguyện, thì có Chúa ở giữa họ”(Mat. 18,20).

Như vậy, Trời ở khắp mọi nơi, và ở giữa  mọi người chúng ta. Khi chúng ta có tình yêu, yêu Trời như Cha và yêu tha nhân như anh chị em, chúng ta sẽ có hạnh phúc; vì hạnh phúc là được sống trong yêu thương. Ai cũng muốn được người khác yêu thương; nếu vậy chúng ta cũng hãy yêu thương người khác; cụ thể khi chúng ta gặp cảnh khó khăn, thì chúng ta mong muốn được người khác giúp đỡ; khi chúng ta gặp cảnh đau buồn, thì chúng ta thích được người khác an ủi, nâng đỡ tinh thần. Chúng ta cũng hãy làm như vậy để giúp người khác khi họ gặp cảnh  nghèo  khó, khổ đau. Luật vàng của tình yêu là “Hãy làm cho người khác những gì anh em muốn người khác làm cho mình!”

 “Ở đâu có Tình Yêu , ở đấy có Thiên Chúa!” Vì “Thiên Chúa là Tình Yêu;  ai ở trong tình yêu, thì ở trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở trong người ấy.” ( 1 Gioan 4, 16 ).

 Tình yêu chân  thành như Chúa dậy là “Yêu mến Chúa trên hết mọi sự, và yêu mọi người như chính mình” ( Mat. 22,37… ). Tình yêu bao quát hết mọi người, kể cả những người coi chúng ta là thù địch, như Chúa Giêsu  dạy chúng ta: “ Hãy thương yêu  thù địch; hãy làm ơn cho kẻ ghét anh em; hãy chúc lành cho kẻ  nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ nói hành nói xấu anh em…”  (Luca 6,27…). “... Như vậy anh em mới được trở nên con cái của  Cha anh em, Đấng ngự trên trời; vì Người cho mặt trời mọc lên để sói sáng cho cả kẻ dữ , người lành; Người cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất lương…” (Mat. 6,44…). Thánh Phaolô đã quảng diễn tư tưởng căn bản đó trong thơ  gửi tín hữu Rôma:  “Hãy chúc lành cho những người bách hại anh em, chúc lành chứ đừng nguyền rủa. Hãy vui với người vui, khóc với người khóc….Đừng lấy ác báo ác. Hãy  làm tất cả những gì anh em có thể làm được để sống hòa thuận với mọi người…..Đừng để sự ác thắng được mình; nhưng hãy  lấy sự thiện mà thắng sự ác!” (Roma 12,14…). Đó là tinh thần “Dĩ đức báo oán!”

Thực hành  đức Bác ái như vậy qủa thực là khó , rất khó .  Nhưng hãy cầu nguyện và ơn Chúa sẽ giúp  chúng ta. Sau đây là một trong những lời cầu nguyện hằng ngày chúng ta có thể dâng lên Chúa:

“Lạy Chúa, xin cho chúng con được lòng  khiêm nhượng, để xóa đi trong chúng con tinh thần tự kiêu tự đại, và làm cho  mối giao tiếp  của chúng con bao giờ cũng được thân hữu. Xin cho chúng con khát khao công lý và tinh thần khó nghèo, để chúng con yêu mến và kính trọng tha nhân. Xin mở rộng lòng chúng con để chúng con yêu mến tha nhân, hầu  tìm hiểu và phụng sự họ. Xin làm cho chúng con trở thành những kẻ đem lại an vui, hòa bình và thân hữu. Amen.”

Hoặc chúng ta  có thể cầu nguyện như thánh Phanxicô khó khăn trong Kinh Hòa bình : “ Lạy Chúa từ nhân, xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người . Lạy Chúa,  xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa; để con đem yêu thương vào nơi oán thù; đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp; đem chân lý vào chốn lỗi lầm…”

Sau 2 năm vật lộn với dịch Covid-19, tình hình kinh tế Việt Nam đang đứng trước viễn ảnh u tối nhất kể từ khi Đổi mới 35 năm trước đây (1986). Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam thì: “Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III/2021 ước tính giảm 6,17% so với cùng kỳ năm trước, là mức giảm sâu nhất kể từ khi Việt Nam tính và công bố GDP quý đến nay. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,04%; khu vực công nghiệp và xây dựng giảm 5,02%; khu vực dịch vụ giảm 9,28%.“
Ngược lại, những biến cố dồn dập đủ loại trong COVID-19 mở ra cuộc đấu tranh chính trị mới: đòi quyền được sống còn, có thuốc trị cho tất cả, đi lại an toàn, đó là một cái gì thiết thực trong đời sống hằng ngày và không còn chờ đợi được chính quyền ban phát ân huệ; nó khiến cho người dân có ý thức là trong các vấn đề nội chính, cải tổ chế độ là cần ưu tiên giải quyết. Người dân không còn muốn thấy vết nhơ của Đồng Tâm hay tiếp tục qùy lạy van xin, thì không còn cách nào khác hơn là phải có ý thức phản tỉnh để so sánh về các giá trị tự do cơ bản này và hành động trong gạn lọc. Tình hình chung trong việc chống dịch là bi quan và triển vọng phục hồi còn đấy bất trắc. Nhưng đó là một khởi đầu cho các nỗ lực kế tiếp. Trong lâu dài, dân chủ hoá là xu thế mà Việt Nam không thể tránh khỏi. Cải cách định chế chính trị và đào tạo cho con người để thích nghi không là một ý thức riêng cho những người quan tâm chính sự mà là của toàn dân muốn bảo vệ sức khoẻ, công ăn việc làm
Trong vài thập niên vừa qua, giải Nobel Hòa Bình và Văn Chương được xem là một tuyên ngôn của ủy ban giải Nobel về các vấn đề thời cuộc quan trọng trong (những) năm trước và năm 2021 này cũng không là ngoại lệ. Giải Nobel Văn Chương năm nay được trao cho nhà văn lưu vong gốc Tazania - một quốc gia Châu Phi, là Abdulrazak Gurnah "vì sự thẩm thấu kiên định và bác ái của ông đối với những ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dân và số phận của những người tị nạn trong vực sâu ngăn cách giữa các nền văn hóa và lục địa". Cũng vậy, giải Nobel Hoà Bình đã dành cho hai ký giả Maria Ressa của Phi Luật Tân và Dmitry Muratov của Nga "vì những nỗ lực bảo vệ sự tự do ngôn luận, vốn là điều kiện tiên quyết cho nền dân chủ và sự hòa bình lâu dài". Ủy ban Nobel Hòa Bình Na Uy còn nói thêm rằng, "họ đại diện cho tất cả các ký giả đang tranh đấu cho lý tưởng này, trong một thế giới mà nền dân chủ và tự do báo chí đang đối mặt với những điều kiện ngày càng bất lợi" và cho "nền báo chí tự do, độc lập
Sau đó, sau khi “phát khóc” và lau nước mắt/nước mũi xong, bác Hồ liền thỉnh ngay bác Lê về thờ nên mới có Suối Lê Nin (với Núi Các Mác) cùng hình ảnh – cũng như tượng đài – của cả hai ông trưng bầy khắp mọi nơi, để lập ra một tôn giáo mới, thay thế cho Phật/Chúa/Thánh Thần/Ông Bà/Tiên Tổ ... các thứ.
Sự nghiệp chính trị của đại đế Nã-Phá-Luân chẳng liên hệ gì nhiều đến Trung Quốc nên không biết tại sao ông nổi hứng tuyên bố một câu bất hủ mà giờ này có giá trị của một lời tiên tri “Hãy để Trung Hoa ngủ yên bởi vì khi tỉnh giấc nó sẽ làm rung chuyển thế giới.” Vào tháng 03/1978 có một sự kiện ít được biết đến nhưng bắt đầu lay thức gã khổng lồ Trung Quốc khi một hợp tác xã nông nghiệp ở Phúc Kiến xin phép được giữ lại phần sản xuất vượt chỉ tiêu để khuyến khích nông dân hăng hái làm việc. Đây là giai đoạn trước Đổi Mới nên viên thư ký đảng bộ của hợp tác xã bị phê bình kiểm điểm. Chỉ 8 tháng sau đó vào cuối năm 1978 Đặng Tiểu Bình tuyên bố cải tổ và mở cửa nền kinh tế. Đề nghị nói trên của hợp tác xã được mang ra thử nghiệm với kết quả sáng chói nên viên thư ký đảng được ban khen.
Sau 10 năm ra sức Xây dựng, chỉnh đốn hàng ngũ để bảo vệ đảng không tan, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vẫn thừa nhận: ”Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" vẫn chưa được ngăn chặn, đẩy lùi một cách căn bản, thậm chí có mặt còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn, có thể gây ra những hậu quả khôn lường.”
Nếu mối quan hệ Trung Quốc-Hoa Kỳ là một ván bài, thì người Mỹ sẽ nhận ra rằng họ đã được một lá bài tốt và tránh khuất phục trước nỗi sợ hãi hay niềm tin vào sự suy tàn của Hoa Kỳ. Nhưng ngay cả một lá bài tốt cũng có thể thua, nếu chơi tệ. Khi chính quyền của Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden thực hiện chiến lược cạnh tranh đại cường với Trung Quốc, các nhà phân tích tìm các phép ẩn dụ trong lịch sử để giải thích tình trạng cạnh tranh ngày càng sâu sắc. Nhưng trong khi nhiều người dựa vào sự khởi đầu của Chiến tranh Lạnh, thì một ẩn dụ lịch sử đáng lo ngại hơn là sự bắt đầu của Thế chiến thứ nhất. Năm 1914, tất cả các cường quốc đều mong rằng cuộc chiến Balkan lần thứ ba là ngắn ngủi. Thay vào đó, như nhà sử học người Anh Christopher Clark đã chỉ ra rằng, các cường quốc bị mộng du bước vào một trận đại chiến kéo dài bốn năm, phá hủy bốn đế chế và giết chết hàng triệu người.
“Căn bản đời sống của chúng ta là đi tìm sự hạnh phúc và tránh né sự khổ đau, tuy nhiên điều tốt nhất mà ta có thể làm cho chính bản thân chúng ta và cho cả hành tinh này là lật ngược lại toàn bộ suy nghĩ ấy. Pema Chodron đã chỉ cho chúng ta thấy mặt cấp tiến của đạo Phật.”
Năm 1964, anh Phạm Công Thiện được mời vào Sài Gòn để dạy triết Tây tại Viện cao đẳng Phật học vừa được mở tại chùa Pháp Hội (tiền thân của Viện Đại học Vạn Hạnh sau này), tôi được anh cho đi theo. Tôi nhớ anh đã dẫn tôi đến thăm Bùi Giáng vào một buổi chiều, trong một căn nhà ở hẻm Trương Minh Giảng, căn nhà rất ẩm thấp, chật hẹp, gần như không có chỗ cho khách ngồi.
Cố nhớ kỹ lại, tôi vẫn không nghĩ ra là tôi đã gặp thầy Phước An lần đầu vào dịp nào (dĩ nhiên là ở Vạn Hạnh, trong năm 1972, nhưng trong hoàn cảnh nào?). Chỉ nhớ rằng quen nhiều và thân với thầy lắm. Phòng 317 Nội Xá Vạn Hạnh là phòng ở của quý thầy trẻ, là những người tôi rất thân, và đây là một phòng mà tôi có thể ra vào bất cứ lúc nào.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.