Hôm nay,  

Ông Trời Ở Đâu...

09/09/200800:00:00(Xem: 9875)
“ĐÂU CÓ TÌNH YÊU THƯƠNG, Ở ĐẤY CÓ ĐỨC CHÚA TRỜI!”

Ông Trời ở đâu" Thiên Chúa ở đâu"

Có bản thánh ca quen thuộc, đầu đề bằng tiếng Latinh là: “Ubi Caritas...”Bản thánh ca này đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và phổ nhiều điệu nhạc khác nhau. Bản tiếng Anh là “Where There Is  Love...” Linh mục Vinh Hạnh đã chuyển dịch sang tiếng Việt Nam và phổ nhạc trong Bài hát với giọng rất tha thiết và đạo đức: “Đâu có tình yêu thương, ở đấy có Đức Chúa Trời...”  Hầu như cuốn thánh ca nào cũng có bài này.

Từ lâu tôi có nghe kể câu chuyện về một nhà họa sĩ chuyên nghiệp. Vào cuối đời, ông muốn vẽ một “họa phẩm” để đời, một họa phẩm thật giàu ý nghĩa, có thể lưu truyền mãi mãi trong dân gian. Một buổi sáng ông thức dậy sớm và đi lang thang để tìm hứng cho bức họa.  Khi đi ngang qua một Thánh đường , ông  thấy một tu sĩ đang cầu nguyện. Ông đến cúi đầu chào và xin Cha dòng cho ý kiến về bức họa mà ông đang có ý định thực hiện. Sau khi bàn luận với nhau, Cha dòng suy nghĩ một lát và trả lời: xin họa sĩ hãy lấy chủ đề là “Niềm Tin”, một bức họa diễn tả về “Niềm tin”: niềm tin giữa con người với nhau và niềm tin của con người nơi Thiên Chúa là đấng tạo dựng và là Cha mọi người. Chính vì thiếu niềm tin tôn giáo đích thực, nên con người ngày nay sống trong ngờ vực, nghi kỵ lẫn nhau và gây ra sự chia rẽ giữa con người với con người (dù ngay trong một gia đình); rồi giữa các chủng tộc và ngay cả giữa các tôn giáo.

Nhà họa sĩ cám ơn Cha dòng và tiếp tục đi. Đến gần trưa, ông đi vào một công viên để nghỉ mát, chợt ông nhìn thấy một đôi bạn trẻ đang ngồi trên ghế đá, vui vẻ tâm sự thân mật với nhau. Ông đến gần, xin lỗi hai bạn trẻ và xin ý kiến hai người về bức họa ông sắp vẽ. Đôi bạn vui vẻ nhận lời và sau một vài trao đổi về ý định của  họa sĩ, hai người mau mắn trả lời: Bác ơi, bác hãy vẽ một bức họa diễn tả

“Tình Yêu”... Vâng “tình yêu”, tình yêu như chúng cháu đang có với nhau đây. Cuộc đời thật là hạnh phúc và êm đẹp biết bao nếu con người biết thương nhau như chúng cháu lúc này... Bác hãy vẽ về tình yêu,  thì bức họa của bác sẽ tuyệt vời và sẽ được nhiều người chiêm ngưỡng... Nhà họa sĩ cám ơn hai bạn trẻ, và chúc tình yêu của hai bạn trước và sau khi đã kết hôn, mãi mãi cứ đẹp như ngày hôm nay; rồi ông lại lên đường đi tiếp.

Đi mãi, đi mãi... buổi chiều ông đi đến con đường dẫn ra ngoài thành phố. Chợt ông thấy một binh sĩ quần áo bám đầy bụi bậm, vai vác súng  đang vội vã đi vào thành phố. Nhà họa sĩ đến gần chào người lính và xin anh hãy ngồi xuống nghỉ mệt một chút; rồi ông cũng nói cho anh nghe về ý định của mình. Chàng chiến sĩ cảm thấy hãnh diện vì được nhà họa sĩ phỏng vấn, anh như lấy lại đươc niềm vui và mau mắn trả lời: Bác ơi, bác hãy vẽ bức tranh về

“Hòa Bình,” vâng về Hòa Bình... Cháu vừa mới ở mặt trận trở về đơn vị trong thành để báo tin tức... Trời ơi, cuộc chiến thật là khủng khiếp... Người ta giết nhau, chém giết nhau khủng khiếp quá. Bác hãy vẽ đi, vẽ đi để bảo cho nhân loại biết từ bỏ hận thù, thay vì giết nhau thì hãy chung tay xây dựng Hòa bình. Nhà họa sĩ cám ơn anh lính chiến rất nhiều. Những lời anh nói làm ông rất xúc động.

 Trời đã xế chiều, và mệt mỏi, sau một ngày đi hết chỗ này đến chỗ kia, ông lên đường trở về nhà. Trên đường đi về, ông suy nghĩ rất nhiều: Làm sao tôi có thể vẽ được một bức họa có thể diển tả được cả ba đề tài: Niềm tin, Tình yêu và Hòa bình. Vừa đi ông như vừa chìm đắm trong suy tư... Cuối cùng ông về tới nhà và gặp người vợ hiền cùng bầy con chạy ra đón ông trong niềm vui mừng thật hồn nhiên. Nhìn người vợ và đàn con thân yêu vui mừng ra đón mình, ông quên cả mệt nhọc của một ngày đi đường, và nhận ra một niềm vui khôn tả, cùng với một tư tưởng chợt lóe lên trong đầu ông : Đây rồi, đây rồi... đây là bức họa tuyệt vời có thể nói lên được cả ba tư tưởng: Niềm tin, Tình yêu và Hòa bình. Bức họa một gia đình sống hạnh phúc trong niềm tin nơi Thiên Chúa, và niềm tin tưởng lẫn nhau, trong tình yêu thương , hòa thuận.

Một gia đình luôn sống bất hòa là một gia đình thiếu niềm tin tưởng lẫn nhau giữa vợ chồng, cha mẹ và con cái; lại cũng vì gia đình thiếu niềm tin tôn giáo, là sức sống gia đình; từ đó gia đình không có tình yêu thương, và tất nhiên không thể sống trong hòa hợp, trong an bình để được hạnh phúc...

Thế giới ngày nay cũng đầy những hận thù chém giết, khủng bố vì thiếu niềm tin, niềm tin tôn giáo chân thật, niềm tin tưởng lẫn nhau, và từ đó thiếu tình yêu thương và đưa đến chiến tranh phá hoại nền hòa bình hạnh phúc chung cho cả nhân loại.

Đứng trước hiểm họa tàn phá của tranh chấp và chiến tranh, các nhà lãnh đạo tôn giáo đã có những buổi gặp gỡ để cùng cầu nguyện (mỗi đại diện dâng một lời cầu nguyện, tùy theo niềm tin của mỗi tôn giáo) và bàn luận để đi đến những giải pháp cứu vãn thế giới và chung tay xây dựng tình yêu và hòa bình thế giới. Trong năm vừa qua ,  đại diện  các tôn giáo chính đã gặp gỡ nhau ở thành phố Naples (Ý).

Trở lại câu hỏi:  “Ông Trời ở đâu"”

Để trả lời câu hỏi trên, chúng ta có thể nói ngay: Chỗ nào cũng có Ông Trời, hoặc Ông Trời ở khắp nơi. Ông Trời không có hình tượng như con người, nên không lệ thuộc vào không gian và thời gian; vì thế mới gọi Ngài là Đấng thiêng liêng và hằng hữu.

Khi có người hỏi Chúa Giêsu “Nước Trời ở đâu"”. Ngài trả lời: “Nước Trời ở giữa anh em!” (Luca 17, 21) . Một dịp khác, Chúa Giêsu nói với các môn đệ: “Nơi nào có hai ba người ý hiệp tâm đầu trong lời cầu nguyện, thì có Chúa ở giữa họ”(Mat. 18,20).

Như vậy, Trời ở khắp mọi nơi, và ở giữa  mọi người chúng ta. Khi chúng ta có tình yêu, yêu Trời như Cha và yêu tha nhân như anh chị em, chúng ta sẽ có hạnh phúc; vì hạnh phúc là được sống trong yêu thương. Ai cũng muốn được người khác yêu thương; nếu vậy chúng ta cũng hãy yêu thương người khác; cụ thể khi chúng ta gặp cảnh khó khăn, thì chúng ta mong muốn được người khác giúp đỡ; khi chúng ta gặp cảnh đau buồn, thì chúng ta thích được người khác an ủi, nâng đỡ tinh thần. Chúng ta cũng hãy làm như vậy để giúp người khác khi họ gặp cảnh  nghèo  khó, khổ đau. Luật vàng của tình yêu là “Hãy làm cho người khác những gì anh em muốn người khác làm cho mình!”

 “Ở đâu có Tình Yêu , ở đấy có Thiên Chúa!” Vì “Thiên Chúa là Tình Yêu;  ai ở trong tình yêu, thì ở trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở trong người ấy.” ( 1 Gioan 4, 16 ).

 Tình yêu chân  thành như Chúa dậy là “Yêu mến Chúa trên hết mọi sự, và yêu mọi người như chính mình” ( Mat. 22,37… ). Tình yêu bao quát hết mọi người, kể cả những người coi chúng ta là thù địch, như Chúa Giêsu  dạy chúng ta: “ Hãy thương yêu  thù địch; hãy làm ơn cho kẻ ghét anh em; hãy chúc lành cho kẻ  nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ nói hành nói xấu anh em…”  (Luca 6,27…). “... Như vậy anh em mới được trở nên con cái của  Cha anh em, Đấng ngự trên trời; vì Người cho mặt trời mọc lên để sói sáng cho cả kẻ dữ , người lành; Người cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất lương…” (Mat. 6,44…). Thánh Phaolô đã quảng diễn tư tưởng căn bản đó trong thơ  gửi tín hữu Rôma:  “Hãy chúc lành cho những người bách hại anh em, chúc lành chứ đừng nguyền rủa. Hãy vui với người vui, khóc với người khóc….Đừng lấy ác báo ác. Hãy  làm tất cả những gì anh em có thể làm được để sống hòa thuận với mọi người…..Đừng để sự ác thắng được mình; nhưng hãy  lấy sự thiện mà thắng sự ác!” (Roma 12,14…). Đó là tinh thần “Dĩ đức báo oán!”

Thực hành  đức Bác ái như vậy qủa thực là khó , rất khó .  Nhưng hãy cầu nguyện và ơn Chúa sẽ giúp  chúng ta. Sau đây là một trong những lời cầu nguyện hằng ngày chúng ta có thể dâng lên Chúa:

“Lạy Chúa, xin cho chúng con được lòng  khiêm nhượng, để xóa đi trong chúng con tinh thần tự kiêu tự đại, và làm cho  mối giao tiếp  của chúng con bao giờ cũng được thân hữu. Xin cho chúng con khát khao công lý và tinh thần khó nghèo, để chúng con yêu mến và kính trọng tha nhân. Xin mở rộng lòng chúng con để chúng con yêu mến tha nhân, hầu  tìm hiểu và phụng sự họ. Xin làm cho chúng con trở thành những kẻ đem lại an vui, hòa bình và thân hữu. Amen.”

Hoặc chúng ta  có thể cầu nguyện như thánh Phanxicô khó khăn trong Kinh Hòa bình : “ Lạy Chúa từ nhân, xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người . Lạy Chúa,  xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa; để con đem yêu thương vào nơi oán thù; đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp; đem chân lý vào chốn lỗi lầm…”

Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
Khách đến Việt Nam ngày nay thấy nhiều nhà cao cửa rộng, xe chạy chật đường hơn xưa. Nhưng đa số người Việt Nam có vẻ không có cái nhu cầu dân chủ của người Myanmar hay người Hồng Kông. Hay là họ có, nhưng 20 năm chiến tranh đã làm họ mệt mỏi, xuôi xị chấp nhận chút đầy đủ vật chất, nhắm mắt với tương lai? Và Đảng Cộng sản Việt Nam có thể hy vọng người Việt sẽ ngoan ngoãn như người dân Bắc Hàn, không cần dự phần tự quyết cho tương lai của mình và con cháu mình?
Ngày 30/4 năm thứ 46 sau 1975 đặt ra câu hỏi: Còn bao nhiêu năm nữa thì người Việt Nam ở hai đầu chiến tuyến trong chiến tranh mới “hòa giải, hòa hợp” được với nhau để thành “Một Người Việt Nam”? Hỏi chơi vậy thôi chứ cứ như tình hình bây giờ thì còn mút mùa lệ thủy. Nhưng tại sao?
30 tháng Tư. Đó là ngày nhắc nhở chúng ta cần có dự tính cho tương lai. Vào năm 1975, ai có thể ngờ rằng sẽ có gần 2 triệu người Việt tại Hoa Kỳ nuôi dưỡng cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp một cách đáng kể cho xã hội? Ai ngờ được rằng hiện đã có thế hệ người Mỹ gốc Việt thứ ba, thứ tư?
Tổng thống Joe Biden như một người thuyền trưởng, nắm con thuyền quốc gia giữa cơn bão dữ. Chỉ trong cơn sóng lớn mới thấy được khả năng người lèo lái. Những thách thức vẫn còn trước mặt, nhưng con thuyền quốc gia hứa hẹn sẽ đến được chân trời rộng mở. Sự lãnh đạo và phục vụ thầm lặng, bền đỗ cho quốc gia và người dân của tổng thống Joe Biden đã được chứng minh bằng kết quả hiển hiện trong 100 ngày vừa qua.
Ca sĩ Tina Turner, có lẽ ai cũng biết nhưng quá trình tìm đến đạo Phật, trở thành Phật tử và sự tinh tấn của cô ta chắc không nhiều người biết. Giáo lý đạo Phật đã vực dậy đời sống cá nhân cũng như sự nghiệp của cô ta từ hố thẳm đau khổ, thất vọng.
Một nhân vật còn sống sót sau thảm họa Lò sát sinh (Holocaust) và từng đoạt giải Nobel Hòa bình, Elie Wiesel, nói: "Sự đối nghịch của tình thương không phải là sự ghét bỏ, mà là sự dửng dưng. Sự dửng dưng khiến đối tượng thành vắng bóng, vô hình…"
Tháng 10/1954, ông Trần Văn Hương được bổ nhiệm làm Đô Trưởng thủ đô Sài Gòn nhưng chỉ được vài tháng ông xin từ chức không cho biết lý do. Ngày 26/4/1960, ông Hương cùng 17 nhân sĩ quốc gia thành lập nhóm Tự Do Tiến Bộ, tổ chức họp báo công bố một bản tuyên cáo tại khách sạn Caravelle. Nội dung Bản Tuyên Cáo rất ôn hòa chỉ yêu cầu Tổng thống Ngô Đình Diệm mở rộng chính quyền để các nhà trí thức có thể hợp tác với chính phủ nếu được yêu cầu. Ngày 11/11/1960, ông Hương ký tên ủng hộ cuộc đảo chánh do Đại tá Nguyễn Chánh Thi khởi xướng, ông bị bắt trong tù ông có viết một tập thơ lấy tên là “Lao trung lãnh vận” (Những vần thơ lạnh lẽo ở trong tù).
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.