Hôm nay,  

Ông Trời Ở Đâu...

09/09/200800:00:00(Xem: 9997)
“ĐÂU CÓ TÌNH YÊU THƯƠNG, Ở ĐẤY CÓ ĐỨC CHÚA TRỜI!”

Ông Trời ở đâu" Thiên Chúa ở đâu"

Có bản thánh ca quen thuộc, đầu đề bằng tiếng Latinh là: “Ubi Caritas...”Bản thánh ca này đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và phổ nhiều điệu nhạc khác nhau. Bản tiếng Anh là “Where There Is  Love...” Linh mục Vinh Hạnh đã chuyển dịch sang tiếng Việt Nam và phổ nhạc trong Bài hát với giọng rất tha thiết và đạo đức: “Đâu có tình yêu thương, ở đấy có Đức Chúa Trời...”  Hầu như cuốn thánh ca nào cũng có bài này.

Từ lâu tôi có nghe kể câu chuyện về một nhà họa sĩ chuyên nghiệp. Vào cuối đời, ông muốn vẽ một “họa phẩm” để đời, một họa phẩm thật giàu ý nghĩa, có thể lưu truyền mãi mãi trong dân gian. Một buổi sáng ông thức dậy sớm và đi lang thang để tìm hứng cho bức họa.  Khi đi ngang qua một Thánh đường , ông  thấy một tu sĩ đang cầu nguyện. Ông đến cúi đầu chào và xin Cha dòng cho ý kiến về bức họa mà ông đang có ý định thực hiện. Sau khi bàn luận với nhau, Cha dòng suy nghĩ một lát và trả lời: xin họa sĩ hãy lấy chủ đề là “Niềm Tin”, một bức họa diễn tả về “Niềm tin”: niềm tin giữa con người với nhau và niềm tin của con người nơi Thiên Chúa là đấng tạo dựng và là Cha mọi người. Chính vì thiếu niềm tin tôn giáo đích thực, nên con người ngày nay sống trong ngờ vực, nghi kỵ lẫn nhau và gây ra sự chia rẽ giữa con người với con người (dù ngay trong một gia đình); rồi giữa các chủng tộc và ngay cả giữa các tôn giáo.

Nhà họa sĩ cám ơn Cha dòng và tiếp tục đi. Đến gần trưa, ông đi vào một công viên để nghỉ mát, chợt ông nhìn thấy một đôi bạn trẻ đang ngồi trên ghế đá, vui vẻ tâm sự thân mật với nhau. Ông đến gần, xin lỗi hai bạn trẻ và xin ý kiến hai người về bức họa ông sắp vẽ. Đôi bạn vui vẻ nhận lời và sau một vài trao đổi về ý định của  họa sĩ, hai người mau mắn trả lời: Bác ơi, bác hãy vẽ một bức họa diễn tả

“Tình Yêu”... Vâng “tình yêu”, tình yêu như chúng cháu đang có với nhau đây. Cuộc đời thật là hạnh phúc và êm đẹp biết bao nếu con người biết thương nhau như chúng cháu lúc này... Bác hãy vẽ về tình yêu,  thì bức họa của bác sẽ tuyệt vời và sẽ được nhiều người chiêm ngưỡng... Nhà họa sĩ cám ơn hai bạn trẻ, và chúc tình yêu của hai bạn trước và sau khi đã kết hôn, mãi mãi cứ đẹp như ngày hôm nay; rồi ông lại lên đường đi tiếp.

Đi mãi, đi mãi... buổi chiều ông đi đến con đường dẫn ra ngoài thành phố. Chợt ông thấy một binh sĩ quần áo bám đầy bụi bậm, vai vác súng  đang vội vã đi vào thành phố. Nhà họa sĩ đến gần chào người lính và xin anh hãy ngồi xuống nghỉ mệt một chút; rồi ông cũng nói cho anh nghe về ý định của mình. Chàng chiến sĩ cảm thấy hãnh diện vì được nhà họa sĩ phỏng vấn, anh như lấy lại đươc niềm vui và mau mắn trả lời: Bác ơi, bác hãy vẽ bức tranh về

“Hòa Bình,” vâng về Hòa Bình... Cháu vừa mới ở mặt trận trở về đơn vị trong thành để báo tin tức... Trời ơi, cuộc chiến thật là khủng khiếp... Người ta giết nhau, chém giết nhau khủng khiếp quá. Bác hãy vẽ đi, vẽ đi để bảo cho nhân loại biết từ bỏ hận thù, thay vì giết nhau thì hãy chung tay xây dựng Hòa bình. Nhà họa sĩ cám ơn anh lính chiến rất nhiều. Những lời anh nói làm ông rất xúc động.

 Trời đã xế chiều, và mệt mỏi, sau một ngày đi hết chỗ này đến chỗ kia, ông lên đường trở về nhà. Trên đường đi về, ông suy nghĩ rất nhiều: Làm sao tôi có thể vẽ được một bức họa có thể diển tả được cả ba đề tài: Niềm tin, Tình yêu và Hòa bình. Vừa đi ông như vừa chìm đắm trong suy tư... Cuối cùng ông về tới nhà và gặp người vợ hiền cùng bầy con chạy ra đón ông trong niềm vui mừng thật hồn nhiên. Nhìn người vợ và đàn con thân yêu vui mừng ra đón mình, ông quên cả mệt nhọc của một ngày đi đường, và nhận ra một niềm vui khôn tả, cùng với một tư tưởng chợt lóe lên trong đầu ông : Đây rồi, đây rồi... đây là bức họa tuyệt vời có thể nói lên được cả ba tư tưởng: Niềm tin, Tình yêu và Hòa bình. Bức họa một gia đình sống hạnh phúc trong niềm tin nơi Thiên Chúa, và niềm tin tưởng lẫn nhau, trong tình yêu thương , hòa thuận.

Một gia đình luôn sống bất hòa là một gia đình thiếu niềm tin tưởng lẫn nhau giữa vợ chồng, cha mẹ và con cái; lại cũng vì gia đình thiếu niềm tin tôn giáo, là sức sống gia đình; từ đó gia đình không có tình yêu thương, và tất nhiên không thể sống trong hòa hợp, trong an bình để được hạnh phúc...

Thế giới ngày nay cũng đầy những hận thù chém giết, khủng bố vì thiếu niềm tin, niềm tin tôn giáo chân thật, niềm tin tưởng lẫn nhau, và từ đó thiếu tình yêu thương và đưa đến chiến tranh phá hoại nền hòa bình hạnh phúc chung cho cả nhân loại.

Đứng trước hiểm họa tàn phá của tranh chấp và chiến tranh, các nhà lãnh đạo tôn giáo đã có những buổi gặp gỡ để cùng cầu nguyện (mỗi đại diện dâng một lời cầu nguyện, tùy theo niềm tin của mỗi tôn giáo) và bàn luận để đi đến những giải pháp cứu vãn thế giới và chung tay xây dựng tình yêu và hòa bình thế giới. Trong năm vừa qua ,  đại diện  các tôn giáo chính đã gặp gỡ nhau ở thành phố Naples (Ý).

Trở lại câu hỏi:  “Ông Trời ở đâu"”

Để trả lời câu hỏi trên, chúng ta có thể nói ngay: Chỗ nào cũng có Ông Trời, hoặc Ông Trời ở khắp nơi. Ông Trời không có hình tượng như con người, nên không lệ thuộc vào không gian và thời gian; vì thế mới gọi Ngài là Đấng thiêng liêng và hằng hữu.

Khi có người hỏi Chúa Giêsu “Nước Trời ở đâu"”. Ngài trả lời: “Nước Trời ở giữa anh em!” (Luca 17, 21) . Một dịp khác, Chúa Giêsu nói với các môn đệ: “Nơi nào có hai ba người ý hiệp tâm đầu trong lời cầu nguyện, thì có Chúa ở giữa họ”(Mat. 18,20).

Như vậy, Trời ở khắp mọi nơi, và ở giữa  mọi người chúng ta. Khi chúng ta có tình yêu, yêu Trời như Cha và yêu tha nhân như anh chị em, chúng ta sẽ có hạnh phúc; vì hạnh phúc là được sống trong yêu thương. Ai cũng muốn được người khác yêu thương; nếu vậy chúng ta cũng hãy yêu thương người khác; cụ thể khi chúng ta gặp cảnh khó khăn, thì chúng ta mong muốn được người khác giúp đỡ; khi chúng ta gặp cảnh đau buồn, thì chúng ta thích được người khác an ủi, nâng đỡ tinh thần. Chúng ta cũng hãy làm như vậy để giúp người khác khi họ gặp cảnh  nghèo  khó, khổ đau. Luật vàng của tình yêu là “Hãy làm cho người khác những gì anh em muốn người khác làm cho mình!”

 “Ở đâu có Tình Yêu , ở đấy có Thiên Chúa!” Vì “Thiên Chúa là Tình Yêu;  ai ở trong tình yêu, thì ở trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở trong người ấy.” ( 1 Gioan 4, 16 ).

 Tình yêu chân  thành như Chúa dậy là “Yêu mến Chúa trên hết mọi sự, và yêu mọi người như chính mình” ( Mat. 22,37… ). Tình yêu bao quát hết mọi người, kể cả những người coi chúng ta là thù địch, như Chúa Giêsu  dạy chúng ta: “ Hãy thương yêu  thù địch; hãy làm ơn cho kẻ ghét anh em; hãy chúc lành cho kẻ  nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ nói hành nói xấu anh em…”  (Luca 6,27…). “... Như vậy anh em mới được trở nên con cái của  Cha anh em, Đấng ngự trên trời; vì Người cho mặt trời mọc lên để sói sáng cho cả kẻ dữ , người lành; Người cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất lương…” (Mat. 6,44…). Thánh Phaolô đã quảng diễn tư tưởng căn bản đó trong thơ  gửi tín hữu Rôma:  “Hãy chúc lành cho những người bách hại anh em, chúc lành chứ đừng nguyền rủa. Hãy vui với người vui, khóc với người khóc….Đừng lấy ác báo ác. Hãy  làm tất cả những gì anh em có thể làm được để sống hòa thuận với mọi người…..Đừng để sự ác thắng được mình; nhưng hãy  lấy sự thiện mà thắng sự ác!” (Roma 12,14…). Đó là tinh thần “Dĩ đức báo oán!”

Thực hành  đức Bác ái như vậy qủa thực là khó , rất khó .  Nhưng hãy cầu nguyện và ơn Chúa sẽ giúp  chúng ta. Sau đây là một trong những lời cầu nguyện hằng ngày chúng ta có thể dâng lên Chúa:

“Lạy Chúa, xin cho chúng con được lòng  khiêm nhượng, để xóa đi trong chúng con tinh thần tự kiêu tự đại, và làm cho  mối giao tiếp  của chúng con bao giờ cũng được thân hữu. Xin cho chúng con khát khao công lý và tinh thần khó nghèo, để chúng con yêu mến và kính trọng tha nhân. Xin mở rộng lòng chúng con để chúng con yêu mến tha nhân, hầu  tìm hiểu và phụng sự họ. Xin làm cho chúng con trở thành những kẻ đem lại an vui, hòa bình và thân hữu. Amen.”

Hoặc chúng ta  có thể cầu nguyện như thánh Phanxicô khó khăn trong Kinh Hòa bình : “ Lạy Chúa từ nhân, xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người . Lạy Chúa,  xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa; để con đem yêu thương vào nơi oán thù; đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp; đem chân lý vào chốn lỗi lầm…”

“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.