Hôm nay,  

Cảm Ơn Tất Cả

26/11/200900:00:00(Xem: 6524)

Cảm Ơn Tất Cả

Vĩnh Hảo
Người Tây phương thường nói lời cảm ơn với nhau, giữa người cho và người nhận, giữa người bán và người mua, người giúp và người được giúp. Trong tương quan hai chiều, ai cũng cảm ơn đối phương cả. Đây là một trong những phép lịch sự xã giao tây phương mà tôi thích.
Nói đến việc cảm ơn của người Tây phương, không thể không nói đến Thanksgiving, Lễ Tạ Ơn, là một lễ lớn có nguồn gốc tôn giáo, nhưng nay đã trở thành ngày lễ phổ quát của dân gian, thế tục (secular holiday). Trong tôn giáo, người ta tạ ơn thượng đế mà họ tôn thờ. Trong dân gian ngày nay, việc cảm ơn trong Lễ Tạ Ơn được mở rộng đến với tất cả những đối tượng nào người ta mang ơn, do vậy, cảm ơn cha mẹ, thầy giáo, sếp (chủ), người làm, nhân viên bưu điện, người dọn rác, v.v...
Ý nghĩa tạ ơn, cảm ơn như thế, thật là phù hợp với giáo lý Tứ Ân đã có từ lâu trong truyền thống Phật giáo. Tứ Ân hay Tứ Trọng Ân (bốn ơn nặng cần phải báo đền) được nói đến trong nhiều kinh điển Phật giáo. Đôi chỗ trình bày bốn ơn này khác nhau tùy theo khuynh hướng, thời đại và quốc độ, nhưng phổ quát nhất, xin được ra khỏi giới hạn thiền môn để trình bày như sau:
1) Ơn cha mẹ sinh dưỡng, gia giáo,
2) Ơn thầy dạy, học đường, giáo dục lễ nghĩa và kiến thức,
3) Ơn quốc gia, mà đại diện là chính quyền, bảo vệ giang sơn, giữ gìn an ninh xã hội, tổ chức và thi hành các luật lệ chung để tạo đời sống trật tự, bình đẳng và ấm no cho quốc dân,
4) Ơn chúng sanh, ơn của tất cả muôn loài.
Đối với hai ơn đầu, cha mẹ và thầy dạy, người con và người học trò nào cũng đều rõ, ở đây không cần bàn thêm.
Với ơn thứ ba là quốc gia mà trực tiếp là chính quyền từ trung ương đến hạ tầng, mỗi quốc dân cần nhận rõ nghĩa vụ của mình nhằm góp phần hoàn chỉnh đời sống và quyền lợi chung. Chính quyền của thời đại ngày nay không phải là chính quyền do “ông trời” nào sắp xếp, đặc cách cho làm “thiên tử” (ông trời con), mà do ý nguyện của số đông, của toàn dân. Chính quyền tốt thì ủng hộ, góp phần xây dựng, làm cho thêm cường thịnh; chính quyền xấu thì góp ý sửa sai, điều chỉnh, có khi cần phải làm cách mạng để lật đổ, thiết lập một chính quyền tốt đẹp hoàn hảo hơn. Bởi vì mục đích của chính quyền là để an dân. Dân không an, xã tắc không ổn định, chính quyền ấy không có lý do tồn tại và bám giữ quyền bính. Suy ra, được sống yên bình trong quốc gia nào phải nhớ ơn quốc gia đó. Những người Việt tị nạn cộng sản, đã định cư trên các quốc gia tự do, dân chủ, phải nhớ ơn quốc gia đón nhận và tạo điều kiện cho đời sống ổn định, bình an, thăng tiến của mình. Sau hơn ba mươi năm sống lưu vong, hầu hết người Việt tị nạn đều trở thành công dân, có quốc tịch của các quốc gia mà tâm thức ban đầu thường nghĩ là đất “tạm dung.” Thế thì, là quốc dân của quốc gia mới, không thể phụ ơn mà phải báo ơn bằng cách thi hành các nghĩa vụ công dân, đóng góp tâm trí và tài sức của mình vào cho sự phồn thịnh an vui của quốc gia ấy; nếu không tích cực đóng góp được thì cũng không làm điều gì trái ngược với quyền lợi và nguyện vọng chung của toàn dân trong quốc gia mà mình đang là công dân chính thức. Chính quyền không phải là quốc gia, không phải là tổ quốc. Chính quyền làm tốt thì mang ơn, cảm ơn; chính quyền làm sai làm xấu thì lên tiếng và bày tỏ thái độ phản đối để điều chỉnh. Góp phần làm cho đẹp cho tốt hơn, đó là nhớ ơn, báo ơn quốc gia, chứ không phải nhắm mắt nhắm mũi cảm ơn những kẻ cầm quyền bán nước, hại dân.
Bây giờ hãy nói về ơn thứ tư, là ơn chúng sanh. Đừng nghĩ chúng sanh ở đây là hàng sinh linh luân hồi đối với Phật và bồ-tát giác ngộ. Chúng sinh ở đây bao gồm tất cả loài hữu tình và vô tình. Một định nghĩa khá phổ thông của nhà Phật là “giả chúng duyên nhi sanh, cố viết chúng sanh,” có nghĩa là cái gì vay mượn các yếu tố/phần tử khác để được sinh ra thì cái đó là chúng sanh. Hoa không tự nó sinh ra mà cần có hạt giống, đất, nước, phân bón, không khí, ánh nắng. Vậy hoa là chúng sanh. Người không tự mình sinh ra mà cần có sự kết hợp của thần thức, tinh huyết của cha mẹ, cùng với tứ đại (các hợp chất đất, nước, không khí-gió, nhiệt độ-lửa). Vậy người là chúng sanh. Tứ đại (đất, nước, gió, lửa) cũng không tự sinh mà phải nhờ các nguyên tử đặc trưng của mỗi chất kết hợp nên (âm tử, dương tử, trung hòa tử - electron, proton, neutron), vậy tứ đại cũng là chúng sanh. Các loài muông thú cho đến các loài vô tình như đất, đá, cỏ cây, v.v... cũng đều nhờ đến nhiều yếu tố nhân duyên khác mà sinh ra. Tóm lại, tất cả những gì hiện hữu trên cuộc đời, trong vũ trụ, hữu hình hay vô hình, hữu tình hay vô tình, đều là chúng sanh.


Ơn chúng sanh là ơn của toàn thể vũ trụ, vạn hữu. Cho nên, ơn cha mẹ, ơn thầy dạy, ơn quốc gia, là nói cho cụ thể, chứ ba ơn đó đều nằm trong ơn chúng sanh. Tổ tiên, ông bà sinh ra cha mẹ phải nhờ tất cả những yếu tố nhân duyên chung quanh, trực tiếp và gián tiếp kết hợp, tác động. Thầy dạy, quốc gia cũng thế. Không có ai, không có cái gì tự sinh ra. Tất cả đều phụ thuộc vào nhau, nương vào nhau, tác hưởng với nhau mà hình thành mọi sự, mọi vật, mọi loài trên đời. Triết lý nhà Phật gọi đó là tương sinh, cộng sinh.
Vậy, nghiệm xét thật sâu mối tương quan chằng chịt giữa con người và chúng sanh, mỗi người chúng ta đứng trước cuộc đời, phải trân trọng cảm ơn tất cả. Chẳng có ai, chẳng có vật gì trên đời này mà không ban ơn đến chúng ta. Nâng một ly nước lên uống, chúng ta thấy nước, người mang nước đến, người sản xuất cái ly, ông bà cha mẹ của những người này, những người tạo ra phương tiện chuyên chở để mang nước đến, những người tạo ra máy lọc nước, ông bà cha mẹ của những người này, thầy dạy của những người này, những người tạo ra cơm ăn áo mặc cho tất cả những người kể trên... Nghiệm càng sâu, càng thấy rõ sự liên hệ bất phân giữa mình với thế giới, với muôn loài. Cho nên, cảm ơn là cảm ơn tất cả. Chúng ta luôn là kẻ thọ ơn của thế giới, của chúng sanh. Với ý niệm đó, đừng bao giờ cho rằng mình là kẻ ban ơn, dù mình đã cho ra một thứ gì. Người xưa thường nói, “Thi ân bất ký, thọ ân bất vong,” tức là khi ban ơn thì đừng nên nhớ, khi chịu ơn thì đừng nên quên. Bởi vì trong mạng lưới hỗ tương chằng chịt giữa mỗi cá nhân với toàn thể thế giới, chúng ta thực sự chẳng ban ơn cho ai thứ gì cả. Tất cả đều là sự trao đổi, hỗ trợ, hỗ tương. Hãy tự cho mình là kẻ thọ nhận ơn lành của thế giới, của tất cả chúng sanh. Đó là thái độ khiêm cung, hiểu biết của con người trong thời đại mới, thời đại mà người ta nhận thức rằng hành tinh này chỉ là một phần tử thật nhỏ của thiên hà vũ trụ bao la, thời đại mà người ta nhìn ra tính cách tương quan, tương hệ của anh em nhân loại càng lúc càng rõ ràng hơn.
Đó là nhìn cái ơn trong sự thuận lý. Chứ ngay cả trường hợp một cá nhân hay nhóm người nào cố tình làm tổn hại đến mình, dĩ nhiên chúng ta cần có giải pháp đối phó để vượt qua hoàn cảnh nghịch ý đó, nhưng trong lòng cũng nên tỏ niềm biết ơn. Biết ơn kẻ xấu đã cho mình bài học của sự luyện tâm. Nhờ họ, mình hiểu được sự nhẫn nại, lòng khoan dung và đức trầm tĩnh của mình. Không có sự nghịch ý, sẽ không bao giờ chúng ta hiểu được tâm chúng ta cả.
Để cảm ơn tất cả chúng sanh, chúng ta tập sống đơn giản, hòa bình, nhân ái, đừng cố tình hủy hoại và lạm dụng tài nguyên của thế giới, đừng làm ô nhiễm môi trường sống bằng sự ích kỷ, thù hận, tham lam cá nhân, những yếu tố dẫn đến chiến tranh, chết chóc, khủng bố, đói nghèo. Sự phung phí và thờ ơ của chúng ta luôn tác hại đến kẻ khác, chúng sanh khác.
Tóm lại, không cần phải đợi đến một ngày lễ lớn mỗi năm để nhớ ơn hay báo ơn. Chúng ta có thể nói lời cảm ơn với tất cả những ai ta tiếp xúc hàng ngày. Chẳng hạn, khi cảm ơn cha mẹ, cảm ơn người bán hàng hay người mua hàng, chúng ta đồng lúc liên tưởng đến tất cả nhân duyên nào liên hệ với những người đó. Trong liên tưởng như vậy, chúng ta luôn có trong ta một thế giới thân thuộc, gần gũi, đầy ơn lành của muôn loài chúng sanh. Và như vậy, một lời cảm ơn cha mẹ, một lời cảm ơn người bán hàng hay mua hàng, chúng ta cảm ơn tất cả.
Tuần lễ Thanksgiving, cuối tháng 11, 2009.
Vĩnh Hảo

Lực lượng “ăn cháo đá bát” rất đông và lan nhanh như bệnh dịch, nhưng chưa bao giờ được công khai cho dân biết để dân bàn, dân kiểm tra. Ngược lại, dân lại là nạn nhân của đám ong nuôi trong tay áo từ bao năm nay. Chúng nằm trong ngành Tuyên giáo, trước đây gọi là Ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương và Ban Khoa giáo Trung ương. Sau lưng đảng còn có đội ngũ chuyên nghề nói thuê và viết mướn gồm Báo cáo viên và Dư luận viên được trả lương bằng tiền thuế của dân.
Vào sáng ngày 1 tháng 5-1975 Trung tá bác sĩ Hoàng Như Tùng, nguyên chỉ huy trưởng Quân Y viện Phan Thanh Giản - Cần Thơ, mặc đồ dân sự, trong tư thế quân phong, đưa tay lên chào vĩnh biêt Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lênh Quân Đoàn IV, Quân Khu IV, Vùng 4 Chiến Thuật, trước sự kinh ngạc của một nhóm sĩ quan cấp cao của bộ đội cộng sản vì sự dũng cảm của bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng. Một sĩ quan của bộ đội cộng sản mang quân hàm thiếu tá tiến đến và yêu cầu bác sĩ Hoàng Như Tùng nhận diện Tướng Nguyễn Khoa Nam.
Sách này sẽ được ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Phần lược sử viết theo nhiều tài liệu, trong đó phần chính là dựa vào tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ “Foreign Relations of the United States 1961-1963”, một số tài liệu CIA lưu giữ ở Bộ Ngoại Giao, và một phần trong sách “The Pentagon Papers” của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ấn bản Gravel Edition (Boston: Beacon Press, 1971). Vì giờ tại Việt Nam và Hoa Kỳ cách biệt nhau, cho nên đôi khi ghi ngày sai biệt nhau một ngày.
Tôi là anh trưởng trong gia đình, với 9 đứa em cả trai lẫn gái, nên trách nhiệm thật khó khăn, từ nhân cách cho đến cuộc sống. Nhưng may mắn tôi gặp được những người anh ngoài xã hội để noi gương và học hỏi. Một trong số những nhân vật hiếm hoi đó, chính là anh Nguyễn Văn Tánh, người mà tôi đã có cơ hội được tiếp tay hỗ trợ và đồng hành cùng anh trong suốt 20 cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế Liên Hiệp Quốc tại thành phố New York từ 20 năm qua.
Tôi tha phương cầu thực gần như trọn kiếp (và may mắn lạc bước đến những nơi không thiếu bơ thừa sữa cặn) nên bất ngờ nhìn thấy mảnh đời cùng quẫn thì không khỏi chạnh lòng. Nghe tiếng mời chào khẩn thiết, nhìn những khuôn mặt khẩn cầu của đồng bào mình mà muốn ứa nước mắt.
Các định kiến tai hại đối với các phụ nữ Á Châu trong văn hóa đại chúng của Mỹ đã có từ ít nhất thế kỷ thứ 19. Từ đó, các nhà truyền giáo và binh sĩ Mỹ tại Á Châu đã xem phụ nữ mà họ gặp đó như là ngoại lai và dễ tùng phục. Các định kiến này đã ảnh hưởng luật di trú đầu tiên của Hoa Kỳ dựa vào chủng tộc, Đạo Luật 1875 Page Act, ngăn cản các phụ nữ Trung Quốc vào Hoa Kỳ. Giả thuyết chính thức là rằng, ngoại trừ được chứng minh ngược lại, các phụ nữ TQ tìm cách vào Hoa Kỳ đã thiếu tư cách đạo đức và là những gái mại dâm. Trên thực tế, nhiều người là vợ tìm cách đoàn tụ với những ông chồng là những người đã đến Hoa Kỳ trước đó. Khoảng cùng thời gian đó, các phụ nữ TQ tại San Francisco cũng bị làm dê tế thần bởi các viên chức y tế địa phương là những người sợ rằng họ sẽ lây truyền các bịnh lây lan qua đường tình dục cho các đàn ông da trắng, là những người sau đó sẽ lây lan cho các bà vợ của họ. Vào giữa thế kỷ 20, các căn cứ chiến tranh và quân sự của Hoa Kỳ tại TQ, Nhật, Phi Luật Tân,
Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Bá Thanh, Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Xuân Phúc … quả đúng là những kẻ thuộc giới ăn trên ngồi trốc. Họ là những hạt giống đỏ được gieo trồng từ miền Bắc, và đã ươm mầm thành cây. Loại cây này, học giả Phan Khôi gọi một cách lịch sự là cây Cộng Sản. Còn dân gian thì gọi là cây cứt lợn!
Nếu đảng đủ can đảm và ông Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng còn đủ bản lĩnh của một Lãnh đạo gương mẫu trong công tác phòng, chống tham nhũng thì hãy công khai cho dân biết Tổ chức Thanh niên của đảng đã làm được những gì cho dân cho nước trong 90 năm qua. Hay ngót 7 triệu Đoàn viên TNCS chẳng làm được trò trống gì, ngoải vai trò tay sai đã tuyệt đối trung thành với đảng và với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh?
Adam Smith và Karl Marx cùng được gọi chung là kinh tế cổ điển (classical economy) tức là lao động (labour) tạo ra giá trị (value.) Khác ở chổ Smith quan niệm thị trường tự do giúp mọi người hưởng thụ giá trị lao động còn Karl Marx lên án giá trị lao động của công nhân bị tư bản bóc lột. Vào đầu thế kỷ thứ 20 xuất hiện một cách nhìn mới là giá trị (value) do nơi tiện ích (utility) thay vì từ lao động (labour). Thí dụ một người đang khát uống ly nước đầu thì thật ngon, ly thứ nhì vừa vừa còn ly thứ ba đầy bụng nuốt không vô, tức là giá trị của mỗi ly nước giảm khi nhu cầu tiện ích hạ thấp. Quan điểm này gọi là Giá Trị Biên Tế hay Marginal Value.
Cùng với tác phẩm của Dương Thu Hương-"Những Thiên Đường Mù", Trần Mạnh Hão-"Ly Thân", Bảo Ninh-"Nỗi buồn Chiến tranh", Phạm Thị Hoài-"Thiên sứ", "Tướng về hưu"của Nguyễn Huy Thiệp đã tạo nên dòng văn học phản kháng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.