Hôm nay,  

Cộng Sản Và Tội Ac

24/09/200700:00:00(Xem: 10951)

"Độc tài tất yếu sẽ dẫn đến tội ác"

Ở Việt Nam trước năm 1954, khi mà cách mạng Việt Nam còn lệ thuộc vào viện trợ của Trung Quốc và Liên Xô, trong các hội trường diễn ra cuộc họp của Đảng và Nhà nước đều treo rất trang trọng ảnh của ba nhà lãnh đạo: Stalin, Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông. Tại đại hội Đảng lần thứ 2, năm 1951, ông Hồ Chí Minh đã chỉ vào những bức ảnh rất lớn treo trong hội trường và nói: “Bác cam đoan với các chú rằng, hai nhà lãnh đạo Stalin và Mao Trạch Đông không bao giờ phạm sai lầm, Bác đảm bảo với các chú như thế, tư tưởng của Stalin và Mao Trạch Đông là tư tưởng của Mác đã được các vị ấy giải thích và ứng dụng vào thực tiễn của mỗi nước.” Đây là một sự ngụy biện, lừa dối trắng trợn và là một sai lầm nghiêm trọng của Hồ Chí Minh.

Thực tiễn đã chứng minh cả ba nhà lãnh đạo Stalin, Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh đều phạm sai lầm nghiêm trọng, dẫn đến con đường phản bội chủ nghĩa Mác, mọi sai lầm của họ đều bắt nguồn từ quyền lực độc tài. Trong khi Mác là một học giả cả cuộc đời gắn liền với công việc nghiên cứu và viết lách, thì cả ba nhà lãnh đạo Stalin, Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh đều là ba lãnh tụ tối cao của Đảng, Nhà nước và Quân đội. Stalin từng giữ các chức vụ: “Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Chủ tịch Đại biểu Nhân dân Xô Viết (Chủ tịch Quốc hội) và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Thủ tướng Chính phủ). Stalin còn là Tổng tư lệnh quân đội, hàm Đại nguyên soái Liên Xô”. Mao Trạch Đông cũng giữ nhiều chức vụ: “Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Chủ tịch Quân ủy Trung ương”. So với hai nhà lãnh đạo trên, Hồ Chí Minh không hề thua kém, cùng lúc kiêm nhiệm nhiều chức vụ: “Chủ tịch Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng tối cao, Chủ tịch Quân ủy Trung ương”.

Cả ba nhà lãnh đạo đều độc chiếm quyền lực trong Đảng, Nhà nước và Quân đội, thiết lập nền thống trị độc tài, quyền uy tuyệt đối. Quyền uy của họ còn lớn hơn quyền uy của Vua, bởi vì họ sử dụng bạo lực để thống trị nhân dân về tư tưởng, áp đặt tư tưởng của mình lên ý thức xã hội, cũng như việc họ đã dùng bạo lực để xuyên tạc chủ nghĩa Mác, biến chủ nghĩa Mác thành tư tưởng của cá nhân. Chủ nghĩa Stalin, chủ nghĩa Mao Trạch Đông và tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất hoàn toàn không có giá trị khoa học, thậm chí phản khoa học. 

Độc tài tất yếu sẽ dẫn đến tội ác. Tại Liên Xô, trong thời kỳ “DDại thanh trừng” của Stalin đã có hàng triệu người bị hành quyết và chết trong các trại tập trung. Dưới thời kỳ Mao Trạch Đông (Từ năm 1946 – 1965), theo ước tính của Ủy ban tư pháp Thượng viện Mỹ có khoảng 60 triệu người đã bị giết chết, còn theo số liệu của Liên Xô thì con số này là khoảng 30 triệu người. Chỉ tính riêng trong cuộc “DDại cách mạng văn hóa” do Mao phát động đã tiêu diệt hàng chục triệu người, họ đều là nạn nhân của các cuộc thanh trừng phe phái trong Đảng Cộng sản Trung Quốc. Sự việc “giết người” nêu trên cũng diễn ra tương tự ở Việt Nam, đặc biệt là thời kỳ của cuộc cải cách ruộng đất mà người ta gọi là “Cuộc cách mạng long trời lở đất”, do Hồ Chí Minh lãnh đạo. Theo số liệu của Đảng Cộng sản Việt Nam công bố thì có khoảng 172 nghìn người bị quy kết vào thành phần địa chủ, phú nông, những người này hoặc là bị xử bắn ngay tại chỗ hoặc bị tra tấn và tù đầy cho đến chết. Trong số đó có tới 123 nghìn người bị oan, bị đấu tố sai. Chắc chắn con số người chết trên thực tế còn cao hơn rất nhiều, bởi vì người ta chưa thống kê số người bị quy kết là Đảng viên Quốc Dân Đảng, những người này bị xử bắn ngay tại chỗ. Đảng Cộng sản cũng không công bố số người chết liên quan đến các cuộc thanh trừng phe phái trong Đảng. Tuy nhiên, với những con số đã nêu ở trên, có thể ghi vào sách kỷ lục Guinness về “tội ác giết người” trong lịch sử nhân loại. Có thể kết luận rằng: “Chế độ độc tài Cộng sản luôn gắn liền với tội ác”.

Ngồi trên đỉnh cao quyền lực, các nhà độc tài Cộng sản đã gây ra những tội ác đối với loài người, họ không chỉ “giết người” mà còn “hủy hoại văn hóa”, mục tiêu của họ là xóa bỏ toàn bộ những tàn dư của xã hội cũ, bao gồm Kiến trúc thượng tầng xã hội và Cơ sở hạ tầng xã hội. Hồ Chí Minh coi một trong những tàn dư  của xã hội cũ là Phật Giáo, ông chủ trương thi hành chính sách đàn áp Phật giáo, xóa bỏ tín ngưỡng. Không có tội ác nào lớn bằng việc xúc phạm danh dự và nhân phẩm của các nhà tu hành, hủy hoại hình tượng thiêng liêng của các Tôn giáo. Những việc làm đó chỉ có ở những kẻ ngu dốt, ấu trĩ và bảo thủ, đó là vết nhơ trong lịch sử. Vậy mà những việc làm vô thần, vô nhân đạo, vô văn hóa và phản khoa học đấy lại được khởi xướng từ các nhà độc tài Cộng sản.

Chúng ta cùng trở lại lịch sử của đất nước, vào khoảng giữa thế kỷ trước, khi mà Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản phát động cuộc “Cách mạng văn hóa”. Đây là chiến dịch tuyên truyền và kích động quần chúng “Xóa bỏ nền văn hóa của xã hội cũ, xây dựng nền văn hóa Xã hội chủ nghĩa.” Trong một thời gian dài, người ta đã tàn phá các di tích lịch sử, di tích Tôn giáo, phá các ngôi chùa, đốt tượng Phật, người dân mang tượng Phật đốt hoặc dìm xuống ao, tháo dỡ các câu đối ở đình chùa đem đi lát đường, làm cầu.v.v… Tất cả những việc làm này được Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản khuyến khích và tuyên dương, bởi vì các nhà lãnh đạo Cộng sản cho rằng phải xóa bỏ tín ngưỡng, xóa bỏ Tôn giáo, coi tín ngưỡng là phản cách mạng, là kẻ thù của Chủ nghĩa Xã hội. Sự thật, những lý luận của Mác đã được các nhà độc tài Cộng sản, trong đó có Hồ Chí Minh, hiện thực hóa bằng tội ác.

Đảng Cộng sản vận động toàn xã hội học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, có nghĩa là học tập và làm theo “Tấm gương tội ác” hay sao" Không biết tổ chức UNESCO có xét đến các sự thật lịch sử này không khi công nhận Hồ Chí Minh là danh nhân văn hóa thế giới" Chắc chắn sự thật đó đã được các học giả Cộng sản dấu đi, đây là việc làm xuyên tạc lịch sử, thể hiện yếu kém của Đảng về lý luận và thực tiễn. Đảng đã không ý thức đúng về vấn đề tôn giáo, không lý giải được tinh thần của các tôn giáo, không hiểu được vai trò của tôn giáo trong quá trình phát triển xã hội. Đảng quen với việc sử dụng bạo lực và chiến dịch tuyên truyền kích động để giải quyết các vấn đề xã hội, trong đó có vấn đề tôn giáo. Cuộc chiến giữa Cộng sản và Tôn giáo đã bắt đầu, và người khởi xướng không ai khác chính là nhà độc tài Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh không chỉ muốn thống trị xã hội bằng Quyền uy, mà còn muốn thống trị xã hội bằng tư tưởng. Ông nhận thấy Phật giáo đã tạo ảnh hưởng sâu rộng và vững chắc trong ý thức xã hội, không tuân theo thậm chí chống lại tư tưởng Hồ Chí Minh; Phật giáo là sự giác ngộ và giải thoát, trong khi đó tư tưởng Hồ Chí Minh lại là sự thống trị và chi phối ý thức xã hội bằng bạo lực. Để bảo vệ nền chuyên chính, Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản đã thi hành chính sách đàn áp Phật giáo, nhằm xóa bỏ những tư tưởng của Phật giáo trong ý thức xã hội, họ xuyên tạc chủ nghĩa Mác, tô vẽ thêm bằng tư tưởng Hồ Chí Minh mà thực chất là chủ nghĩa cải lương. Khi lý luận đã “Chắp vá” thì thực tiễn cũng “Rách nát” thôi.! Đây là một tất yếu lịch sử.

 Ngày nay Việt Nam đã hội nhập cùng thế giới, vậy mà các thế hệ lãnh đạo sau Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục thi hành chính sách đàn áp tôn giáo, họ không biết rút kinh nghiệm từ những sai lầm, không quan tâm đến lợi ích của đất nước. Với ý đồ xóa bỏ Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, Đảng Cộng sản đang phát động một chiến dịch vu khống, bôi nhọ và thóa mạ các nhà tu hành. Báo chí Cộng sản liên tục công kích để hạ thấp uy tín của Hòa thượng Thích Quảng Độ và các vị đồng đạo, tiến tới kết tội và giam giữ họ. Bộ máy tuyên truyền của Đảng Cộng sản đã đồng loạt lên tiếng, nhưng không phải tiếng nói của lương tâm mà là tiếng nói của nòng súng, tiếng nói của quyền lực độc tài. Nòng súng oan nghiệt đang chĩa vào những nhà tu hành, chỉ vì họ “Dám” đứng lên bảo vệ dân nghèo, cứu trợ dân oan, yêu cầu Tự do - Dân chủ. Không thể tưởng tượng được rằng những sự việc trên đang diễn ra trong thế kỷ 21, một kỷ nguyên của tri thức và tự do.

Không có việc làm nào đáng lên án bằng việc bôi nhọ và xúc phạm Đức tin vào Tôn giáo của các nhà tu hành. Chắc hẳn các quan chức Cộng sản vẫn chưa quên sự kiện lịch sử việc Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để ban sự “Dũng mãnh” cho các Phật tử, giúp họ đấu tranh chống lại chính sách đàn áp Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm, kiên quyết bảo vệ ánh sáng của Chánh Pháp, một lòng hướng Phật cứu độ nhân thế.

Đảng Cộng sản sai lầm chồng chất sai lầm, tội ác tiếp nối tội ác! Khiến dân phải oan khuất, đấy là tội ác. Đàn áp người đấu tranh cho Tự do – Dân chủ, đấy là tội ác. Thi hành chính sách đàn áp Tôn giáo, đấy là tội ác… Tất cả nói lên rằng Đảng Cộng sản chưa bao giờ đứng về lợi ích của nhân dân, lợi ích của xã hội, mà chỉ bảo vệ lợi ích của một bộ phận cán bộ Đảng viên có chức có quyền. Những sai lầm và tội ác đó tất yếu sẽ dẫn đến sự sụp đổ của Đảng Cộng sản.

Sài Gòn  – Ngày 22 – 9- 2007

Đảng DCND http://ddcnd.org/main/

Sách "Bên thắng cuộc" của Huy Đức kể lại nhiều chuyện bí ẩn trong hàng ngũ cộng sản mà người ngoài, nhứt là người miền nam, ít ai biết và cả một số chuyện liên hệ tới giới chức miền nam sau 30.04/75 trong cải tạo và tù vượt biên dưới thời ông Võ văn Kiệt. Có chuyện tác giả kể hấp dẫn nhưng không đúng sự thật bởi chính người trong cuộc, tức nạn nhơn, đọc qua chuyện của mình đã phải ngạc nhiên. Nhưng dầu sao, sách "Bên thắng cuộc" vẫn có giá trị thông tin khá hơn nhiều sách khác của người cộng sản viết mà ta đọc qua.
Hai phần ba thế kỷ đã qua, ba thế hệ đã bị hy sinh: hy sinh chống Pháp để giành độc lập, hy sinh chống Mỹ để thống nhất đất nước, hy sinh làm những nông dân không có đất, và những công nhân không có tay nghề để đô thị hoá và công nghiệp hoá đất nước. Với đường lối giáo dục hiện nay, rõ ràng, Đảng và Nhà Nước đang tính hy sinh (luôn) thế hệ kế tiếp – thế hệ thứ tư!
Nhìn lại trên 3 năm vừa qua được ghi nhận Mỹ càng ngày xung đột với Trung Cộng mà có lẽ cao điểm là trong tháng qua. Quả thực vậy cả 2 bên đã không còn coi nhau như là đối tượng hợp tác thân thiết như trong thời kỳ TT Obama mà nay càng ngày càng công khai chống nhau kịch liệt trên mọi phương diện, nếu hoàn cảnh cho phép!.
Trong ký ức thơ ấu của tôi, Đà Lạt không phải là nơi có nhiều chim chóc. Ngoài những bầy sẻ ríu rít đón chào nắng sớm trên mái ngói, và những đàn én bay lượn khắp nơi vào lúc hoàng hôn – thỉnh thoảng – tôi mới nhìn thấy vài chú sáo lò cò giữa sân trường vắng, hay một con chàng làng lẻ loi (và trầm ngâm) trên cọc hàng rào. Chào mào tuy hơi nhiều nhưng chỉ ồn ào tụ họp, giữa những cành lá rậm ri, khi đã vào hè và trái mai (anh đào) cũng đà chín mọng. Họa hoằn mới thấy được thấy đôi ba con chim lạ, đỏ/vàng rực rỡ (chả biết tên chi) xa tít trên những cành cây cao ngất, giữa đồi thông vi vút.
Với một người Mỹ gốc Việt như tôi, Tháng Lịch Sử Người Da Đen có nghĩa gì? Các từ “Da đen”, “Người Mỹ gốc Phi châu”, và “Người Mỹ gốc Việt,” tự chúng đã là các tên gọi nặng nề. Ngay cả khi được sử dụng chỉ để đòi lại căn cước và phẩm giá, chúng vẫn đầy rẫy sự phân chia chủng tộc, dù là thời nay hay trong quá khứ. Suy ngẫm về lịch sử người Da đen, làm sao tôi có thể vượt qua cái hậu quả dã man của sức tưởng tượng và các chính sách của người da trắng Châu Âu đã bắt rễ từ hơn 500 năm trước?
Toàn thể nhân loại đều đang hướng về Hương Cảng với ánh mắt lo âu cùng chia sẻ. Ngay cả báo giới của nước CHXHCNVN cũng vậy, cũng trích dịch từ những nguồn tin với ít nhiều hảo cảm dành cho những công dân ở hòn đảo nhỏ bé này: Theo South China Morning Post, giới chức sân bay Hong Kong đã hủy bỏ tất cả các chuyến bay kể từ 16h (giờ địa phương), đổ lỗi cho những cuộc biểu tình đã "làm gián đoạn nghiêm trọng" việc vận hành của sân bay, ngăn cản hành khách làm thủ tục check-in và kiểm tra an ninh.
Chuyện kỳ thị chủng tộc ở Mỹ không có gì mới. Nó đã tồn tại hàng nhiều thế kỷ và sẽ còn tồn tại bao lâu còn có sự sống chung giữa các màu da Trắng, Đen, Vàng, Nâu trong cùng một quốc gia có tên gọi Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Bất kể luật pháp nước Mỹ đã có và hiện có những biện pháp mạnh mẽ đối phó với vấn nạn kỳ thị. Bất kể các hệ thống truyền thông, các mạng lưới xã hội thường xuyên lên án các hành vi kỳ thị dù xuất hiện dưới bất cứ hình thức nào.
Hồi cận Tết năm Thìn, Marianne Brown (Guardian Weekly) có bài “Vietnam’s parents want a dragon son.” Trời! Tưởng gì, chớ cả Tầu lẫn Ta ai mà không muốn có con trai tuổi Rồng. Nhâm Thìn, tất nhiên, lại càng bảnh dữ nữa. Nam nhâm nữ qúi thì sang mà lị. Theo tuviso.com: “Tuổi Nhâm Thìn có nhiều hy vọng tốt đẹp về vấn đề tình duyên và tương lai về cuộc sống, có phần tốt đẹp về tình cảm và tài lộc, vào trung vận và hậu vận thì được nhiều tốt đẹp về hạnh phúc, công danh có phần lên cao.” Hổng dám “cao” đâu! Phạm Viết Đào, Trần Đức Thạch, Nguyễn Tường Thụy, Phạm Thành đều nhâm thìn hết trơn đó chớ nhưng hậu vận – rõ ràng – lận đận (thấy bà luôn) chớ có “tốt đẹp” hay “hạnh phúc” khỉ mốc gì đâu. Cả bốn ông đều đã (hoặc đang) trong hộp!
Có nhiều bằng chứng Lãnh đạo đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam đã ngủ mê trong vòng tay người Tầu từ đất liền ra Biển Đông. Trước hết, hãy nói về chuyện đất liền. Từ năm 2010, các Công ty gốc Tâu từ Trung Hoa, Hồng Kông và Đài Loan đã đồng loạt nhảy vào Việt Nam thuê đất đầu nguồn, dọc biên giới Việt-Trung, Việt-Lào và Việt-Kampuchea để trồng cây nguyên liệu. Các dự án trồng rừng được chính quyền địa phương cho thuê dài hạn 50 năm, đa số nằm ở vị trí chiến lược quốc phòng, hay còn được gọi là “nhạy cảm”.
Học sinh, sinh viên Việt Nam thường được tiếng chuyên cần và học giỏi nên thầy cô và học sinh gia trắng thường gán cho các cháu một số khuôn mẫu (Stéréotypes). Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình. Các con cần phải cố gắng học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất tự do.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.